Đình Phúc Long: Công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc thời Lê Trung Hưng
Phúc Long là một làng cổ, nằm gần chân núi Nham Biền với bề dày truyền thống lịch sử văn hóa. Vùng đất này có cư dân sinh sống từ mấy nghìn năm trước và còn để lại dấu tích qua các gò mộ thời Hán thuộc, trên các cánh đồng làng. Trải mấy nghìn năm, người dân nơi đây luôn sống hòa thuận, đoàn kết. Sinh hoạt làng xã được quy ước theo từng giáp, từng xóm. Sau này, trong kỷ nguyên độc lập, người dân Phúc Long còn sáng tạo ra nhiều công trình kiến trúc, xây dựng mà nay đã trở thành di sản văn hóa cần được quan tâm bảo tồn, tiêu biểu nhất là ngôi đình Phúc Long, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đình Phúc Long có lịch sử xây dựng từ lâu đời và được trùng tu, tôn tạo vào thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII-XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX), cùng các giai đoạn sau này.

Căn cứ nội dung văn bia niên hiệu Tự Đức thứ 29 (1876) hiện còn lưu giữ trong đình cho biết: đình Phúc Long thờ 6 vị đại vương và một vị Anh Hoa công chúa có công lớn với dân với nước đó là: Đương cảnh thành hoàng Sứ cung, Đương cảnh thành hoàng Phương Dung công chúa, Đương cảnh thành hoàng Quý Minh đại vương, Đương cảnh thành hoàng Quảng Tế đại vương, Đương cảnh thành hoàng Thánh Đức đại vương, Đương cảnh thành hoàng Tướng Gia đại vương…; Đình còn thờ 8 vị thần âm phù linh ứng, giúp dân đánh giặc giúp nước, bảo vệ cho dân làng trong quá trình xây dựng, phát triển làng xã. Ngoài ra nhân dân Phúc Long còn thờ phối hưởng Nhuệ Quận công, người bản quán, một võ quan thời Lê - Trịnh đã có công giúp dân tu sửa đình làng. Nhớ ơn ông, dân làng đã tạc bia khắc ghi công đức của ông và thờ quan tướng công làm Hậu thần, hàng năm cúng tế ông và ngày giỗ 10 tháng 7, gọi là giỗ đức cụ.

Ngôi đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và tổ chức các tiết lệ, lễ hội hàng năm của dân làng. Trong năm, làng tổ chức một số tiết lệ chính: Ngày 15 tháng Giêng là ngày dân làng làm lễ cầu mát tại đình với ước mong dân an vật thịnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Mùng 5 tháng 5 là tiết hạ điền, dân làng làm lễ tế vua Thần Nông ở đình. Mùng 10 tháng 7 ngày giỗ Đức Cụ (tức Nhuệ Quận công Lê tướng công). Ngày 15 tháng 8 là ngày vào đám, dân làng tổ chức tế lễ, mở hội thu hút đông đảo nhân dân trong vùng tham gia.

Trải qua thời gian, đình Phúc Long hiện còn bảo lưu nhiều tài liệu, hiện vật cùng với những mảng trang trí nghệ thuật có giá trị, tiêu biểu là hệ thống các mảng chạm khắc tinh xảo trên các cấu kiện kiến trúc gỗ với nhiều đề tài phong phú và đa dạng. Điều này đã minh chứng cho lịch sử hình thành và phát triển của di tích đình Phúc Long cũng như truyền thống văn hóa vùng đất này từ xưa đến nay.

Hiện nay, đình Phúc Long tọa lạc trên địa thế đẹp, nằm ở trung tâm thôn Phúc Long, mặt nhìn về hướng Tây Nam. Xung quanh di tích là khu dân cư trù mật, trường học, nhà văn hóa truyền thống đã góp phần tạo nên cảnh quan cổ kính giữa một làng quê trù phú yên bình. Xa xa là dãy núi Nham Biền mờ xanh hùng vĩ như án ngữ bảo vệ cho mạch đất nơi đây.

Nghi môn đình Phúc Long được xây dựng theo kiểu trụ biểu với 1 cửa chính 2 cửa phụ. Các trụ biểu có tiết diện hình vuông, thân trụ biểu đắp câu đối chữ Hán nội dung ca ngợi cảnh đình và người được thờ trong đình. Qua Nghi môn là đến khuôn viên đình gồm sân và phần nội tự. Sân đình được lát bằng gạch nem tách vuông đỏ. Phần sân nối với đình qua bậc tam cấp bằng đá xanh. Xung quanh sân đều được bó vỉa gọn gàng. Đứng từ đây có thể bao quát toàn bộ không gian cảnh quan của di tích.

Đình Phúc Long có bình đồ kiến trúc hình chữ Nhị, gồm 2 hạng mục: Tòa Đại đình và Hậu cung.

Tòa Đại đình được tạo bởi 3 gian 2 chái, mái đình thoải rộng với 4 đầu đao cong vút, bốn góc đao uốn cong như những ngọn sóng hướng đuổi theo chú nghê đang cưỡi vân mây, chân đạp sóng nước trên bờ guột mái đình, hình ảnh trong phong thủy mang ý nghĩa để phòng ngừa hỏa hoạn. Chính giữa bờ nóc đắp nổi hình lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên đầu bờ nóc đắp nổi hình đầu kìm với đuôi cong vút ngậm vào bờ nóc. Tại đoạn khúc nguỷnh đắp nổi hình hai chú nghê đang chầu vào trung tâm cửa đình như kiểm soát người hành lễ. Tất cả tổ hợp trang trí đều mang phong cách kiến trúc truyền thống và tạo cho dáng vẻ bên ngoài ngôi đình thêm phần uy linh, cổ kính. Các gian hồi tòa Đại đình được xây theo kiểu thức tường lửng, phía trên tường lắp hệ thống chấn song gỗ. Hệ thống tường lửng đều được xây gạch chỉ bắt mạch để mộc trang trí các ô thoáng hình chữ Thọ cách điệu tạo sự thông thoáng cho bên trong toàn bộ nội tự.

Ba gian giữa tòa Đại đình được xây thụt vào tạo hàng hiên nhỏ phía trước, gian chính giữa lắp cửa thượng song hạ bản, hai gian 2 bên lắp 2 cửa phụ; nền lát gạch gốm Hạ Long. Kết cấu chịu lực bên trong tòa Đại đình đều được làm bằng gỗ lim chắc khỏe với 8 hàng chân cột, mỗi hàng 6 cột, tất cả 48 cột gỗ lim chịu lực cho toàn bộ ngôi đình. Hệ mái được tạo bởi 4 vì, liên kết với nhau bởi xà ngang, xà dọc, các khoảng hoành, kẻ tạo vì mái. Vì gian giữa phía bên phải tòa Đại đình liên kết theo kiểu thức con chồng đấu kê, trụ giá chiêng. Ba vì còn lại liên kết theo kiểu thức chồng rường, đấu kê.

Tại gian trung tâm tòa Đại đình, tính từ phần xà nách hướng lên trên tạo thành 1 gian thờ là Thượng cung (hay còn gọi là Giường hành) gắn kết với nhau bằng các ván ghép, phía trước lắp hệ thống mành tre tạo không gian linh thiêng cho nơi thờ tự. Bên trong Thượng cung là nơi đặt ngai thờ, sập thờ cùng các đồ thờ tự khác như quả cầu gỗ, bát hương…

Hậu cung đình Phúc Long gồm 1 gian. Tường xây gạch, ngoài phủ vữa, quét vôi. Mái lợp ngói mũi. Bờ nóc gắn gạch chỉ ngoài phủ vữa. Kết cấu chịu lực bên trong Hậu cung được tạo bởi 1 gian, liên kết bởi 2 vì. Các vì nóc tòa Hậu cung được liên kết theo kiểu con chồng trụ giá chiêng, vì nóc kiểu kẻ ngồi. Bên trong Hậu cung gồm 1 gian đặt đồ thờ tự các vị Thành Hoàng làng với đầy đủ loại hình: Ngai thờ và bài vị, bát hương... và các đồ thờ khác. Các cấu kiện kiến trúc đều được làm bằng gỗ, không chạm khắc cầu kỳ. Ngoài hai hạng mục trên, thì đình Phúc Long còn có tòa Tả vu và Hữu vu được xây dựng năm 2021 gồm 3 gian với 4 vì, các vì liên kết giống nhau theo kiểu thức chồng rường giá chiêng. Các cấu kiện đều được làm bằng gỗ lim chắc khỏe.

  

Đình Phúc Long có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật được thể hiện thông qua các mảng trang trí, chạm khắc trên các cấu kiện kiến trúc tiêu biểu như: trên đầu dư, đầu bảy, ở các bức cốn, cửa võng, ở các yếm cột (hay còn gọi là các cốn tai cột). Bao quát tổng thể kiến trúc có tới 12 đầu dư chạm khắc đầu rồng, 12 yếm cột, 13 bức cốn chạm khắc nhiều đề tài ở các vì, 5 kẻ… tất cả đều được chạm khắc, trang trí với nhiều đồ án khác nhau. Có thể nhận thấy, sự khác biệt với nhiều ngôi đình là toàn bộ khung gỗ của đình Phúc Long đều để trần, không sơn son thếp vàng, mà mộc mạc nhưng vẫn phô diễn được sự tinh tế, tài khéo của các nghệ nhân xưa. Các kết cấu kiến trúc và nội dung chạm khắc đã thể hiện tài năng của hai hiệp thợ tham gia xây dựng đình. Theo các cụ cao niên cho biết làng xưa chia làm hai giáp: Phía Đông thuộc giáp Đông, phía Tây thuộc giáp Nam và giáp Đoài. Khi xây dựng đình thì đồng nghĩa với việc hai giáp sẽ cử những hiệp thợ của giáp tham gia xây dựng đình. Như vậy, theo phân công của các giáp, một hiệp dựng các vì phía Đông và một hiệp lại dựng các vì phía Tây. Do đó, phong cách chạm khắc trên các cấu kiện kiến trúc đã bộc lộ hai phong cách hoàn toàn khác nhau. Hai vì phía Đông (bên trái tòa Đại Đình) có nét thô phác, trơn tru, phóng khoáng. Ngược lại, hai vì phía Tây (bên phải tòa Đại đình) lại tinh tế, tỉa tót, đường nét chau chuốt, mềm mại. Song tất cả vừa hoà quện lại thống nhất, vừa phong phú đa dạng, lại phản ánh giá trị kiến trúc chạm khắc thời Lê. Các hình trang trí phổ biến là chạm nổi, chạm kênh bong các hình "tứ linh", "tứ quý" với các biến thể rồng, nghê, phượng, mặt hổ phù, long hoá, ly hoá… vô cùng phong phú. Tất cả được thể hiện trên những bức chạm khắc kiến trúc ở các vì nách, cửa võng, các yếm tai cột tạo nên bức tranh tổng thể hoàn chỉnh đặc sắc.

 

Trên các con chồng của hệ thống vì nách được chạm nổi nhiều đề tài phong phú như vân mây, kỷ hà... Ngoài ra, trên các bức cốn tại các vì tạo điểm nhấn bằng các mảng chạm với chủ đề trọng tâm là rồng. Rồng được phác họa ở nhiều tư thế, vị trí khác nhau, ẩn hiện trên các bức cốn vì nách... Mỗi bức cốn tại vì nách đều khắc họa một bức chạm về chủ đề rồng, song không hề lặp lại giống nhau. Rồng có thể cuộn tròn trong ổ với các họa tiết râu, đao mác hoặc có thể ở tư thế hướng chầu về trung tâm đình hay đặc sắc hơn là rồng nhô hẳn đầu ra khỏi mảng chạm uốn lượn trong tư thế chầu khác nhau. Tất cả các họa tiết tạo nên sự mềm mại, thanh thoát cho kết cấu kiến trúc nhưng lại tạo sự chắc chắn và đầy chất thẩm mỹ thể hiện tài năng của các hiệp thợ xưa.

Nghệ thuật chạm khắc còn được thể hiện dày đặc trên cửa võng đặt tại vị trí 3 gian trung tâm tòa Đại đình. Khác hẳn các bức cửa võng ở một số ngôi đình khác được sơn son thếp vàng rực rỡ thì cửa võng đình Phúc Long không đồ sộ, mà uy nghiêm nền nã, thanh thoát với nhiều đồ án, chạm khắc tại vị trí xà ngang của đình. Mỗi bức cửa võng như một đồ án trang trí mang tính nghệ thuật cao.

Bức cửa võng gian bên phải tòa Đại đình được chia làm 4 phần: Phần trên cùng chạm lộng nhiều chủ đề phong phú. Xuyên suốt là hình hoa dây mềm mại cân xứng hai bên diềm cùng chầu về chính giữa là mặt hổ phù cách điệu; điểm giữa ở các khúc hoa dây uốn mềm mại là những bông hoa cúc nở xoè tròn chĩnh; mỗi đoạn hoa dây ở 3 đoạn chạm nổi hình 3 chim phượng ở các tư thế khác nhau. Trên dải hoa dây tạo điểm nhấn với chủ đề “mã đáo truy phong”. Gắn kết với bức diềm trên cùng là phần gờ được trang trí theo hình cánh sen bên trong là bố cục dạ cá cân xứng đăng đối. Phần thứ 2 của bức cửa võng được chia thành 6 ô hình chữ nhật. Trung tâm giữa các ô chữ nhật là hình quả trám, xung quanh trang trí các đao mác tua tỏa ẩn lấp trong những đám mây. Phần thứ 3, được chia làm 7 ô hình chữ nhật, hai ô ngoài cùng trang trí hình hoa thị, các ô còn lại được trang trí các chủ đề hoa lá cách điệu khác nhau như hoa cúc, dây leo…Để tạo cho bức cửa võng thêm gắn kết giữa các phần trang trí, các nghệ nhân xưa đã khéo léo chạm khắc thêm các chủ đề hoa dây trên phần gờ ngăn cách các phần của cửa võng vừa tạo sự mềm mại trong bố cục, vừa phô diễn tài năng của người nghệ nhân. Phần cuối cùng của cửa võng được bố cục thành 3 ô, các ô được khắc họa chủ đề trọng tâm là hình rồng chầu mặt Nguyệt, xung quang chạm khắc vân mây, đao mác tạo nên sự linh thiêng, uy quyền nơi cung cấm. Đáng lưu ý, các mô tuýp rồng được chạm khắc tại các ô gần như giống nhau nhưng lại rất tinh tế và công phu, nhìn tổng thể như những bức tranh gấm long lanh, hiện thực.

cửa võng gian bên trái tòa Đại đình cũng được chia làm 4 phần cân đối, hài hòa với bức cửa võng bên phải tòa Đại đình. Phía trên cùng là phần diềm được chạm các hình hoa dây uốn lượn hình chữ S. Đoạn giữa của dải hoa dây vẫn được chạm nổi đề tài “Mã đáo truy phong”. Các phần còn lại của bức cửa võng vẫn chạm khắc giống cửa võng gian bên phải tòa Đại đình.

Ngoài các mảng chạm khắc được thể hiện trên các vì nách, cửa võng thì trên các yếm tai cột cũng được các nghệ nhân thổi hồn vào những mảng chạm khắc. Theo thống kê tại tòa Đại đình có tất cả 12 yếm tai cột. Yếm tai cột tuy không có tác dụng chịu lực, nhưng lại là phần nối giữa cột và xà, nên tạo cảm giác bề thế và vững chắc cho các cột và kết cấu tòa Đại đình. Đáng lưu ý là tại hai mặt của từng yếm tai cột, người thợ xưa đã chạm nổi tạo tác nhiều nhất là các hình đầu rồng, sau đó là đầu nghê, hổ phù vươn ra tạo thế đỡ vững chãi cho bộ khung. Các đầu rồng này nhìn tổng thể có vẻ dữ tợn với mắt mở to, mũi gồ cao, râu chẽ xoè kiểu nan quạt và lượn sóng, chân trước đưa lên vuốt râu, ẩn hiện xen lẫn trong họa tiết đao mác tua tủa vút lên từ đầu rồng tạo thành một đồ án có bố cục đăng đối là một trong những mô típ đặc trưng tiêu biểu thời Lê Trung Hưng. Mỗi yếm tai cột, ngoài đầu rồng nghệ nhân xưa còn chạm xen lẫn nhiều con vật nhỏ với các tư thế khác nhau. Ví dụ như yếm cột 2 bên cửa võng bên phải tòa Đại đình. Hai yếm cột đều chạm hình đầu rồng, phần râu rồng chạm hình người cưỡi nghê, tay túm đuôi rồng. Tiếp đến là hình ba người đang cưỡi râu rồng như bồng bềnh bay trên mây. Hay tại các yếm tai cột dưới bức cửa võng tòa bên trái Đại đình, chạm hình người cưỡi long mã, hai tay dang rộng như đang điều khiển linh vật, phía trước là người cưỡi thiên nga, các hình này được xen lẫn ẩn hiện trong râu rồng. Sau long mã là các linh vật khác cũng như đang tư thế bay lượn, vờn đùa với nhau…tạo nên đồ án trang trí đa dạng.

Thông qua các chủ đề, dường như người thợ xưa muốn gửi gắm ý tưởng cách tân táo bạo, đưa hình ảnh của cuộc sống dân dã đời thường vào từng thớ gỗ nơi linh thiêng. Mặt khác, hình tượng rồng vốn mang biểu tượng uy quyền, nhưng trong các đồ án trang trí tại các yếm tai cột hình ảnh rồng được người thợ điêu khắc xưa phác họa sinh động ở nhiều góc độ khác nhau nhưng vẫn rất gần gũi với đời thường. Đồng thời, qua đó ẩn chứa các cặp phạm trù triết lý âm dương, cùng những khát vọng cuộc sống no đủ hạnh phúc và chinh phục thiên nhiên của cư dân nông nghiệp xưa trên vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Cuối cùng là các mảng chạm khắc được thể hiện trên các bẩy hiên được chạm nổi với nhiều đề tài phong phú như: cá chép hóa rồng, lân cưỡi mây, hoa văn kỷ hà…

 

Có thể thấy, trải qua các thời kỳ lịch sử, đến nay đình Phúc Long vẫn bảo lưu được những mảng chạm khắc đặc sắc, tiêu biểu mang phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Đây sẽ là căn cứ có giá trị quan trọng trong việc nghiên cứu về lịch sử cũng như truyền thống văn hóa vùng đất, con người nơi đây.

Thông qua những mảng chạm khắc còn lưu giữ trong đình cho thấy, đình Phúc Long đại diện cho một trong những ngôi đình có giá trị kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu thời Lê Trung Hưng (TK XVII-XVIII). Các mảng trang trí, chạm khắc tại đình Phúc Long đã thể hiện sự phong phú và đa dạng trong nghệ thuật chạm khắc thời kỳ này. Điều đó được thể hiện thông qua thủ pháp kỹ thuật chạm khắc điêu luyện, tư duy cách tân của các nghệ nhân dân gian xưa gửi gắm vào từng mảng trang trí. Ngôi đình xứng đáng là một trong những biểu tượng văn hóa truyền thống của làng quê Tăng Tiến nói riêng và huyện Việt Yên nói chung./.

 

Nguyễn Duyên

Bảo tàng tỉnh Bắc Giang