Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 11/12/2019 11:56 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 11/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Hội đồng Giám mục Việt Nam qua 13 kỳ đại hội

Từ ngày 3 - 7/10/2016, tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, đã điễn ra Đại hội Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGM VN) lần thứ XIII, nhân sự kiện này chúng ta cùng nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của tổ chức này qua 13 kỳ Đại hội.

1. Quá trình hình thành HĐGM VN

Công giáo truyền vào Việt Nam từ năm 1533, đến năm 1934 (sau 4 thế kỷ) Công đồng Đông Dương mới họp bàn chính thức về việc thiết lập hàng giáo phẩm ở Việt Nam và sau 26 năm chuẩn bị đến ngày 24/11/1960 Giáo hoàng Gioan XXIII đã ra Sắc chỉ “Venerabilium Nostrorum” về việc thiết lập phẩm trật Giáo hội tại Việt Nam. Sắc chỉ được công bố ngày 8 tháng 12 năm 1960 với nội dung: "... tất cả các địa phận kể trên từ nay sẽ trao cho  giáo sĩ triều Việt Nam quản nhậm. Ta cũng ban cho các địa phận vừa nói và các địa phận khác đã kể trên, cho các nhà thờ chính toà cũng như các giám mục lãnh đạo được mọi quyền lơị, danh dự, đặc ân thích xứng. Đối với các giám mục lãnh đạo, Ta còn đặt trọng trách và nhiệm vụ. Tất cả các địa phận trên đây sẽ tiếp tục trực thuộc Thánh bộ Truyền giáo...”(1)  Sắc chỉ là cơ sở để hình thành Hội đồng các Giám mục điều hành hoạt động của Giáo hội Công giáo Việt Nam, kể từ đây Giáo hội Công giáo Việt Nam sẽ do hàng giáo phẩm Việt Nam quản lý, điều hành và là tiền đề để xây dựng vị thế của các giáo sĩ Việt Nam đối với giáo hội, cũng như việc thành lập HĐGM VN sau này.

Cùng với việc thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, 03 Tổng Giám mục (Hà Nội, Huế, Sài Gòn), các giáo phận cũ từ hiệu toà nâng lên chính toà, các giáo phận mới tiếp tục được thành lập (Đà Nẵng - 1963, Xuân Lộc - 1965, Phú Cường - 1965, Ban Mê Thuột - 1967), các Giám mục Việt Nam tiếp tục được Tòa thánh tấn phong. Trong vòng 15 năm (từ 1960 – 1975) Giáo hội Công giáo Việt Nam có 35 Giám mục được tấn phong, nhiều giám mục được tấn phong trong độ tuổi còn trẻ như: Giám mục Nguyễn Văn Dụ 38 tuổi, Giám mục Nguyễn Kim Điền 40 tuổi, Giám mục Nguyễn Văn Thuận 39 tuổi…

 Cùng với việc thành lập củng cố tổ chức và nhân sự, các Giám mục Công giáo Việt Nam tăng cường tham gia các diễn đàn Công giáo thế giới như: Tham dự Công đồng Vatican II (1962 - 1965), các khoá họp của Thượng Hội đồng Giám mục thế giới năm 1967, 1974; tham dự Hội nghị Giám mục Á châu tại Manila năm 1970, liên hội đồng Giám mục Á châu tại Hồng Kông 1973 và các hoạt động khác của Giáo hội Roma. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh xảy ra trên cả 2 miền Nam, Bắc nên đến năm 1975 hoạt động của Hội đồng Giám mục chủ yếu diễn ra ở miền Nam.

Chỉ sau khi chấm dứt chiến tranh, Việt Nam thống nhất các Giám mục Việt Nam thấy cần thiết lập Hội đồng Giám mục thống nhất chung trong cả nước. Đầu năm 1980, một hội nghị trù bị đã được tổ chức tại Tòa Giám mục Hà Nội do Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Tổng Giám mục Tổng giáo phận Hà Nội chủ trì chuẩn bị cho đại hội chính thức và sau đó Đại hội lần thứ nhất các Giám mục Việt Nam diễn ra tại Hà Nội từ ngày 24/4 -01/5/1980 sự tham dự của 33 Giám mục. Đại hội đã thành lập HĐGM VN, trụ sở đặt tại Toà Tổng Giám mục Hà Nội, 40 phố Nhà Chung, Hà Nội. HĐGM VN là một tổ chức gồm tất cả các giám mục đang thi hành phận sự mục vụ ở các giáo phận tại Việt Nam và các giám mục hiệu toà khác đang đảm nhận một nhiệm vụ do Toà Thánh hay HĐGM VN uỷ thác.

Mục đích của HĐGM VN là xây dựng Giáo hội Màu nhiệm - Hiệp thông - Truyền giáo và phục vụ con người trong xã hội. Nhiệm vụ là cố vũ sự liên đới giữa giám mục các giáo phận, để phát huy lợi ích cho Giáo hội bằng các hình thức tông đồ và các phương pháp thích hợp với hoàn cảnh của thời đại trong tinh thần gắn bó với dân tộc và đất nước. HĐGM VN vẫn luôn tôn trọng quyền bính của các giám mục giáo phận là quyền thông thường, riêng biệt và trực tiếp (2) (GL đ 381,1).

Cơ cấu tổ chức HĐGM VN gồm: Ban Thường vụ, giúp việc cho Ban Thường vụ có Văn phòng Tổng thư ký và các Ủy ban Giám mục.

 HĐGMVN họp định kỳ: 3 năm Đại hội một lần và hàng năm có hội nghị thường niên; khi có vấn đề quan trọng HĐGM VN có thể họp hội nghị ngoại lệ do quyết định của giám mục chủ tịch hoặc do yêu cầu của 2/3 các thành viên Ban Thường vụ, hoặc do 1/3 các thành viên của HĐGM VN.

Nội dung đại hội: Trao đổi công tác mục vụ, tìm hướng giải quyết các vấn đề chung của giáo hội; thành lập các Uỷ ban Giám mục; soạn thảo, lấy ý kiến về quy chế HĐGM VN và các Ủy ban Giám mục; ra các văn bản như thư chung, thư mục vụ hay thông cáo, các văn bản này phải được Toà Thánh phê chuẩn, các giám mục phải chấp nhận và thi hành; bầu Ban Thường vụ và Chủ tịch các Uỷ ban, hình thức bầu bằng phiếu kín. Tất cả các thành viên tham dự đại hội phải giữ bí mật về các vấn đề thảo luận trừ những gì đại hội đồng ý cho phổ biến.

Văn phòng Tổng thư ký HĐGM VN gồm có: Giám mục Tổng thư ký, các Giám mục phó Tổng thư ký và các linh mục thư ký. Nhiệm vụ là tham dự các hội nghị của HĐGM VN, Ban thường vụ và các Uỷ ban Giám mục nếu xét thấy cần thiết, soạn thảo chương trình nghị sự của các hội nghị HĐGM VN và Ban Thường vụ. Lập biên bản các hội nghị, lưu giữ hồ sơ của HĐGM VN, liên lạc với các giám mục tại Việt Nam và với các HĐGM thế giới, phổ biến các quyết định của HĐGMVN, phúc trình các hoạt động của Ban Thường vụ trong hội nghị thường niên của HĐGM.

Theo quy chế 3 năm HĐGMVN đại hội một lần và hàng năm có các kỳ hội nghị thường niên. Kể từ Đại hội lần thứ nhất năm 1980 đến năm 2016 là đại hội lần thứ XIII của HĐGMVN. Trải qua quá trình hình thành và phát triển Hội đồng Giám mục Việt Nam không ngừng trưởng thành cả về số lượng và hoạt động, tham gia nhiều hơn vào các hoạt động chung của giáo hội hoàn vũ, cũng như khu vực châu Á, đăng cai, tổ chức nhiều hội nghị, các hoạt động lớn của giáo hội, xây dựng giáo hội Công giáo Việt Nam ngày một lớn mạnh, chung tay cùng các tôn giáo bạn đóng góp cho sự phát triển của đất nước Việt Nam.

2. HĐGMVN từ Đại hội lần thứ I đến Đại hội lần thứ XIII

2.1. Ban Thường vụ:

Ban Thường vụ là đại diện của HĐGM VN, có nhiệm vụ thúc đẩy việc thực hiện các quyết định của HĐGM VN, đề ra chương trình nghị sự cho hội nghị của HĐGM VN, bảo đảm tính liên tục trong các đường hướng mục vụ chung của HĐGM VN, giải quyết các vấn đề thông thường giữa các lần hội nghị của HĐGM, tổ chức việc bầu Ban thường vụ nhiệm kỳ mới (3). Cơ cấu Ban Thường vụ gồm: Giám mục Chủ tịch, một hay nhiều Giám mục Phó Chủ tịch, Giám mục Tổng thư ký, một hay nhiều Giám mục Phó Tổng thư ký. Ban thường vụ họp thường kỳ 1 hay 2 lần trong năm, khi cần có thể họp bất thường, để phiên họp Ban thường vụ có giá trị pháp lý, cần 2/3 số thành viên hiện diện.

- Đại hội lần I (nhiệm kỳ 1980 - 1983): Ban Thường vụ  được bầu với con số 7 người gồm: 1 Chủ tịch (Hồng y Trịnh Văn Căn), 2 phó Chủ tịch (Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh và Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền), 1 Tổng thư ký (Giám mục Nguyễn Tùng Cương, giáo phận Hải Phòng) và 3 Phó Tổng thư ký đại diện cho 3 Tổng giáo phận: Hà Nội (Giám mục Phạm Đình Tụng), Hồ Chí Minh (Giám mục Phó Lê Phong Thuận, giáo phận Cần Thơ) và Huế (Giám mục phó Nguyễn Quang Sách, giáo phận Đà Nẵng).

- Đại hội lần II (nhiệm kỳ 1983 - 1986): Ban Thường vụ vẫn giữ con số 7 người như Đại hội I. Các chức danh Chủ tịch và 2 phó chủ tịch vẫn giữ nguyên. Chức danh Tổng thư ký thay bằng Giám mục phụ tá Nguyễn Văn Sang (Hà Nội) và 3 Phó Tổng thư ký đại diện cho 3 tổng giáo phận vẫn giữ nguyên như Đại hội lần I.

- Đại hội lần III (nhiệm kỳ 1986 - 1989): Ban Thường vụ 7 người, các chức vụ như Chủ tịch và các Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký và 02 Phó tổng thư ký vẫn giữ nguyên như Đại hội lần II, chỉ có Phó Tổng thư ký đại diện cho Tổng giáo phận Huế được thanh bằng Giám mục Trần Thanh Chung, giáo phận Kon Tum.

- Đại hội IV (nhiệm kỳ 1989 - 1992): Ban Thường vụ 7 người: Chủ tịch (Giám mục Nguyễn Minh Nhật, giáo phận Xuân Lộc), 2 Phó Chủ tịch (Giám mục Nguyễn Huy Mai, giáo phận Buôn Ma Thuột và Giám mục Nguyễn Văn Sang, giáo phận Thái Bình), 1 Tổng thư ký (Giám mục Lê Phong Thuận, giáo phận Cần Thơ) và 3 Phó Tổng thư ký: Hà Nội (Giám mục Phạm Đình Tụng), Hồ Chí Minh (Giám mục Huỳnh Văn Nghi) và Huế vẫn là Giám mục Trần Thành Chung.

- Đại hội V (nhiệm kỳ 1992 - 1995): Ban Thường vụ 7 người, gồm 1 Chủ tịch (Giám mục Nguyễn Minh Nhật), 2 phó Chủ tịch (Giám mục Huỳnh Đông Các, giáo phận Quy Nhơn và Nguyễn Văn Sang), 1 Tổng thư ký (Giám mục Lê Phong Thuận) và 3 Phó Tổng thư ký vẫn như Đại  hội lần thứ IV.

- Đại hội VI (nhiệm kỳ 1995 - 1998): Ban Thường vụ 7 người, gồm 1 Chủ tịch (Hồng y Phạm Đình Tụng), 2 phó Chủ tịch (Giám mục Huỳnh Văn Nghi và Giám mục Nguyễn Văn Hoà, giáo phận Nha Trang), 1 Tổng thư ký (Giám mục Nguyễn Sơn Lâm, giáo phận Thanh Hóa) và 3 Phó Tổng thư ký: Hà Nội (Giám mục phụ tá Lê Đắc Trọng, giáo phận Hà Nội), Hồ Chí Minh (Giám mục Phạm Minh Mẫn) và Huế vẫn là Giám mục Trần Thành Chung.

- Đại hội VII (nhiệm kỳ 1998 - 2001): Ban Thường vụ 7 người vẫn giữ nguyên như nhiệm kỳ VI. 03 Phó Tổng thư ký đại diện cho 3 Tổng giáo phận gồm: Hà Nội vẫn giữa nguyên, Hồ Chí Minh (Giám mục Nguyễn Văn Nhơn, giáo phận Đà Lạt) và Huế (Giám mục phó Nguyễn Văn Nho, giáo phận Nha Trang).

- Đại hội VIII (nhiệm kỳ 2001 – 2004), đây là Đại hội mở đầu cho việc đơn giản cơ cấu Ban thường vụ và bỏ 03 chức vụ Phó Tổng thư ký đại diện 03 Tổng giáo phận. Ban thườn vụ từ 7 người xuống 4, gồm: 01 Chủ tịch (Giám mục Nguyễn Văn Hoà), 01 Phó Chủ tịch (Hồng y Phạm Minh Mẫn), 1 Tổng thư ký (Giám mục Nguyễn Soạn, giáo phận Quy Nhơn) và Phó Tổng thư ký (Giám mục Ngô Quang Kiệt).

- Đại hội IX (nhiệm kỳ 2004 - 2007): Ban Thường vụ giữ nguyên như ở Đại hội VIII.

- Đại hội X (nhiệm kỳ 2007 - 2010): Ban Thường vụ giữ nguyên 4 người gồm: Chủ tịch (Giám mục Nguyễn Văn Nhơn), 01 Phó Chủ tich (Giám mục Nguyễn Chí Linh, giáo phận Thanh Hoá),01 Tổng Thư ký (Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt) và 01 Phó tổng thư ký (Giám mục Võ Đức Minh, Giám mục giáo phận Nha Trang).

- Đại hội lần Thứ XI (nhiệm kỳ 2010 – 2013): Ban Thường vụ chỉ thay Tổng Thư ký là Giám mục Hoàng Văn Đạt, giáo phận Bắc Ninh, Phó Tổng thư ký là Giám mục Nguyễn Văn Khảm, các chức vụ khác vẫn giữ nguyên như Đại hội X.

- Đại hội lần thứ XII (nhiệm kỳ 2013 - 2016): Ban Thường vụ gồm 4 người: Chủ tịch (Phó Tổng Giám mục Bùi Văn Đọc, Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh), 01 Phó Chủ tịch (Tổng Giám mục Nguyễn Văn Hồng, Tổng giáo phận Huế), Tổng thư ký và Phó Tổng thư kỳ vẫn giữ nguyên như Đại hội XI.

- Đại hội lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2016 - 2019): Ban Thường vụ gồm 4 người: Chủ tịch - Giám mục Nguyễn Chí Linh, giáo phận Thanh Hóa; 01 Phó Chủ tịch - Giám mục Nguyễn Năng, giáo phận Phát Diệm; Tổng thư ký - Giám mục Nguyễn Văn Khảm, giám mục giáo phận Mỹ Tho; Phó Tổng thư ký - Giám mục Vũ Văn Thiên, giáo phận Hải Phòng.

Qua 13 kỳ Đại hội Ban Thường vụ được tinh giản từ 7 người xuống còn 4. Ban Thường vụ thường được phân bổ cho 3 Tổng giáo phận: Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh và thường giữ 02 nhiệm kỳ, có trường hợp 03 nhiệm kỳ (03 Đại hội đầu tiên).

Trong 03 tổng giáo phận thì Tổng giáo phận Hà Nội có nhiều Hồng y, Tổng Giám mục, Giám mục giữ chức vụ Chủ tịch (7 Đại hội: I, II, III, VI, VII, XI, XIII) và Tổng thư ký HĐGMVN (8 Đại hội : I, II, III, VI, VII, X, XI và XII); đặc biệt Đại hội XI và XIII có 3/4 chức vụ trong Ban thường vụ là các Giám mục thuộc Tổng giáo phận Hà Nội.

2.2. Các Uỷ ban Giám mục (UBGM)

Các UBGM do HĐGM thành lập trong các kỳ đại hội và đứng đầu mỗi ủy ban là 01 Giám mục. Các UBGM giúp HĐGM VN thi hành trách nhiệm mục vụ trong một lĩnh vực chuyên biệt, chịu trách nhiệm trước HĐGM và phải báo cáo đường hướng và sinh hoạt cho HĐGM. Giám mục đặc trách Uỷ ban do HĐGM đề cử và chấp thuận, nhiệm kỳ 3 năm. Mỗi Uỷ ban Giám mục soạn thảo một nội quy riêng xác định đường hướng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức nhân sự (4). Các UBGM sau khi thành lập sẽ triển khai hoạt động ở cấp giáo phận, thành lâp Ban do 01 linh mục chủ tịch và nhiều linh mục tham gia thành viên.

- Đại hội lần I: Thành lập 3 UBGM: UBGM về Phụng tự do Giám mục Bùi Tuần làm chủ tịch; UBGM về Linh mục, tu sĩ và chủng sinh do Giám mục Huỳnh Đông Các làm chủ tịch; UBGM về Giáo dân do Giám mục Phan Thế Hinh làm chủ tịch.

Từ Đại hội I đến Đại hội lần thứ VI số UBGM vẫn là 3, chỉ thay đổi các Giám mục giữ chức vụ Chủ tịch, cụ thể:

- Đại hội lần II: UBGM về Phụng tự và UBGM về Linh mục, tu sĩ và chủng sinh vẫn giữ nguyên như Đại hội I; UBGM về Giáo dân do Giám mục Phạm Tần làm chủ tịch.

- Đại hội lần III: UBGM về Phụng tự do Giám mục Nguyễn Sơn Lâm làm chủ tịch; UBGM về Linh mục, tu sĩ và chủng sinh do Giám mục Nguyễn Văn Hoà làm chủ tịch; UBGM về Giáo dân vẫn do Giám mục Phạm Tần làm chủ tịch.

- Đại hội lần IV: UBGM về Phụng tự và UBGM về Linh mục, tu sĩ và chủng sinh vẫn giữ nguyên như Đại hội III; UBGM về Giáo dân do Giám mục Phạm Văn Nẫm làm chủ tịch.

- Đại hội lần V: UBGM về Phụng tự và UBGM về Linh mục, tu sĩ và chủng sinh vẫn giữ nguyên như Đại hội IV; UBGM về Giáo dân do Giám mục Nguyễn Văn Nhơn làm chủ tịch.

- Đại hội lần VI: UBGM về Phụng tự do Giám mục Lê Phong Thuận làm chủ tịch; UBGM về Linh mục, tu sĩ và chủng sinh do Giám mục Nguyễn Như Thể làm chủ tịch; UBGM về Giáo dân do Giám mục Nguyễn Văn Sang làm chủ tịch.

- Đại hội lần VII: Ngoài 3 Uỷ ban Giám mục nói trên đại hội này thành lập thêm UBGM về Thánh Nhạc do Giám mục Nguyễn Văn Hoà làm chủ tịch đã nâng tổng số UBGM lên 4 và thay đổi Chủ tịch các Ủy ban như: UBGM về Phụng tự do Giám mục Phạm Minh Mẫn làm chủ tịch; UBGM về Linh mục, tu sĩ và chủng sinh và UBGM về Giáo dân vẫn giữ nguyên như Đại hội VI.

- Đại hội lần VIII: Thành lập thêm 5 UBGM gồm: UBGM về Giáo lý Đức tin do Giám mục Bùi Văn Đọc làm chủ tịch, UBGM về Loan báo Tin mừng do Giám mục Nguyễn Văn Nhơn làm chủ tịch, UBGM về Văn hoá do Giám mục Vũ Duy Thống làm chủ tịch, UBGM về Bác ái xã hội do Giám mục Nguyễn Thanh Hoan làm chủ tịch và tách Uỷ ban về Linh mục, tu sĩ và chủng sinh thành 2 Uỷ ban: UBGM về Giáo sĩ và chủng sinh do Giám mục Nguyễn Bình Tĩnh làm chủ tịch; UBGM về Tu sĩ do Giám mục Hoàng Văn Tiệm làm chủ tịch, nâng tổng số lên 9 UBGM.

- Đại hội lần IX: Vẫn giữ con số 9 UBGM: UBGM Giáo lý Đức tin, UBGM về Loan báo Tin Mừng, UBGM về Tu sĩ vẫn giữa nguyên như Đại hội lần thứ VIII; UBGM về Phụng tự và Nghệ thuật Thánh do Giám mục Trần Đình Tứ làm chủ tịch, UBGM về Thánh Nhạc do Giám mục Tri Bửu Thiên làm chủ tịch, UBGM về Giáo dân do Giám mục Nguyễn Chí Linh làm Chủ tịch; UBGM về Văn hoá do Giám mục Vũ Duy Thống làm chủ tịch, UBGM về Bác ái xã hội do Giám mục Nguyễn Thanh Hoan làm chủ tịch, UBGM về Giáo sĩ và chủng sinh do Giám mục Vũ Huy Chương làm chủ tịch.

- Đại hội lần thứ X: Thành lập thêm 4 Uỷ ban mới bao gồm: UBGM về Mục vụ Gia đình do Giám mục Châu Ngọc Tri làm Chủ tịch; UBGM về Mục vụ Giới trẻ do Giám mục Vũ Văn Thiên làm Chủ tịch; UBGM về Di dân do Hồng Y Phạm Minh Mẫn làm Chủ tịch; UBGM về Kinh Thánh do Giám mục Võ Đức Minh làm Chủ tịch. Tách Uỷ ban Phụng Tự và Nghệ thuật Thánh làm 2: UBGM về Phụng tự và UBGM về Nghệ thuật Thánh do Giám mục Trần Đình Tứ giáo phận Phú Cường làm Chủ tịch. Nâng tổng số UBGM thuộc HĐGMVN lên thành 16.

- Đại hội XI: Thành lập thêm 01 UBGM về Công lý và Hòa Bình do Giám mục Nguyễn Thái Hợp làm Chủ tịch, đây là UBGM cuối cùng trong cơ cấu chung của Tòa Thánh Vatican. Nâng tổng số UBGM thuộc HĐGMVN lên 17 và thay đổi một số Chủ tịch các Ủy ban sau: UBGM về Kinh Thánh do Giám mục Võ Đức Minh làm chủ tịch, UBGM về Nghệ Thuật Thánh do Giám mục Nguyễn Văn Khôi làm chủ tịch, UBGM về Thánh nhạc do Giám mục Nguyễn Văn Bản làm chủ tịch, UBGM về Loan báo Tin Mừng do Giám mục Nguyễn Năng làm chủ tịch, UBGM về giáo dân do Giám mục Trần Xuân Tiếu làm chủ tịch, UBGM về Bác ái xã hội do Giám mục Nguyễn Chu Trinh làm chủ tịch.

- Đại hội XII: Có sự thay đổi Chủ tịch một số Ủy ban như: UBGM về Giáo lý đức tin do Giám mục Nguyễn Năng làm chủ tịch, UBGM Loan báo Tin Mừng do Giám mục Nguyễn Hữu Long làm chủ tịch, UBGM về Bác ái xã hội do Giám mục Vũ Đình Hiệu làm chủ tịch, UBGM về Di dân do Giám mục Nguyễn Chí Linh làm chủ tịch, UBGM về Giáo dục Công giáo do Giám mục Đinh Đức Đạo làm chủ tịch.

- Đại hội XIII: Vẫn giữ nguyên 17 Ủy ban như đại hội lần thứ XII, nhưng có sự thay đổi Chủ tịch một số Ủy ban Giám mục như: Giáo lý đức tin do Tổng Giám mục Bùi Văn Đọc làm chủ tịch thay Giám mục Nguyễn Năng; Mục vụ Di dân do Giám mục phụ tá Đỗ Mạnh Hùng Tổng giáo phận TP. HCM làm chủ tịch thay Giám mục Nguyễn Chí Linh; Ủy ban Phụng tự do Giám mục phó giáo phận Bà Rịa Nguyễn Hồng Sơn làm chủ tịch thay Giám mục Trần Đình Tứ; Ủy ban Giáo dân do Giám mục phụ tá giáo phận Long Xuyên Trần Văn Toản làm chủ tịch thay Giám mục Trần Xuân Tiếu; Ủy ban Mục vụ giới trẻ do Giám mục phụ tá giáo phận Vinh Nguyễn Văn Viên làm chủ tịch thay Giám mục Vũ Văn Thiên.

Như vậy, từ Đại hội lần I đến Đại hội XIII, số UBGM được nâng lên, từ 3 Uỷ ban lên 17 Ủy ban. Chủ tịch các ủy ban cũng thay đổi theo xu hướng giao cho các giám mục mới và trẻ.

2.3. Những nội dung chủ yếu trong các kỳ Đại hội

Trong các kỳ Đại hội, HĐGM VN thường ra văn bản như Thư chung, Thư mục vụ hoặc Thông báo định hướng hoạt động cho toàn giáo hội trong suốt nhiệm kỳ.

 - Đại hội lần I: Ra Thư chung 1980, mở ra đường hướng mới trong hoạt động của Công giáo ở Việt Nam: "Là Hội thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công đồng dạy rằng Hội thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới. Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách là công dân vừa là thánh phần Dân Chúa" (M,9)(5). Theo các nhà nghiên cứu Thư chung năm 1980 là bước ngoặc lịch sử, đó là sự chuyển mình của Giáo hội dưới ánh sáng của Công đồng Vatican II và trước sự đổi mới phát triển của đất nước, "Thư chung mang đến sự đồng nhất quý giá..." (6).

 - Đại hội lần II: Ra Thư Mục vụ với chủ đề về Năm Cứu độ, đã nhắc lại tinh thần Thư chung 1980: "Chúng tôi cũng mong Anh chị em đọc lại bức Thư Chung 1980 của HĐGMVN. Bức thư đó đã đem lại cho chúng ta một niềm tin phần khởi và giúp chúng ta đạt được nhiều thành tích tốt đẹp cả về hai mặt đạo đời. Chúng ta vẫn tiếp tục tiến bước trên "Con đường đã lựa chọn là sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào", góp phần bảo vệ hoà bình và sự sống trên trái đất" (7) (M, 2).

- Đại hội lần III: Ra Thông cáo, tiếp tục tiếp nối nội dung của Thư chung 1980 bằng những chỉ dẫn cụ thể hơn: "Trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chúng ta hãy ra sức đóng góp nhiều hơn nữa với sự nỗ lực của mỗi người, cụ thể trong hoàn cảnh đất nước hiện nay. Chúng ta cố gắng lao động tích cực và tiết kiệm hết sức trong mọi lĩnh vực, để làm cho Tổ quốc Việt Nam ngày càng thịnh vượng. Chúng ta vừa là người Công giáo, vừa là người công dân của nước CHXHCN VN, hai phẩm tính đó không thể mâu thuẫn nhau, nếu chúng ta sống đạo đích thực và có lòng yêu nước chân thành. Chúng ta hãy xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn để có thể hành động phù hợp với Luật Chúa, Luật Giáo hội và phù hợp với luật của Nhà nước, đồng thời trung thành với "đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa" (Thư Chung 1980, 9)" (8) (M,4)

- Đại hội làn IV: Ra Thư Mục vụ với chủ đề Hiệp nhất, mục vụ và chia sẻ niềm vui, kêu gọi giáo dân bằng những việc làm tích cực chung tay xây dựng giáo hội và đất nước: "Chúng ta còn biết bao công việc phải làm cho Giáo hội và đất nước. Hãy cộng tác với nhau để loại trừ những mặt tiêu cực và những tệ nạn xã hội, chăm sóc và bảo vệ giáo dục thiếu nhi, xây dựng nếp sống lành mạnh và văn minh trong tiệc cưới xin, tang chế và những việc khác tương tự, tham gia những công trình phúc lợi, xây dựng công ích, phục vụ những người nghèo khó, bất hạnh, kiến tạo một xã hội công bằng, yêu thương và hạnh phúc, nhất là phát huy một nếp sống lành mạnh theo tinh thần Phúc âm và truyền thống dân tộc"(9).

- Đại hội lần thứ V: Ra Thư mục vụ nhấn mạnh đến việc phát huy và hội nhập văn hóa: "Đi tìm bản sắc văn hoá dân tộc không có nghĩa là đơn thuần lấy lại những cái cổ xưa, nhưng là làm sao cho tính cách dân tộc được diễn tả trong lời kinh tiếng hát, trong cử hành Phụng vụ, trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong suy tư và ngôn ngữ thần học. Công việc này cũng phải được thực hiện trong các dân tộc ít người nữa, sao cho mỗi dân tộc đều giữ được bản sắc của mình trong Hội thánh"(10) (M,9).

- Đại hội lần thứ VI: Ra Thư chung kêu gọi giáo dân tham gia đóng góp vào vấn đề phát triển kinh tế của đất nước: "Kinh tế nước ta tuy mới vực dậy còn trăm ngàn vấn đề phải ưu tiên giải quyết nhất định là vô phương lo cho mọi người dân từng cây kim sợi chỉ như thuở hôm nào. Lỗ hổng ấy Chánh phủ luôn khuyến khích người dân tham gia lấp đầy. Thôi thì "Lá lành tìm lá rách vậy". Trong đó người công giáo phải tiến lên hàng đầu. Hãy hợp tác với Nhà nước và Nhân dân trong chương trình xoá đói giảm nghèo. Hãy tích cực đóng kinh rạch mà nguồn nước bị ô nhiễm. Hãy chung góp sức người sức của để dựng cho dân nghèo, ít là những mái nhà tre lá . Hãy cất lên cho đàn trẻ lang thang những lớp học tình thương sưởi ấm lòng người. Tinh thần phục vụ của Chúa Giê su phải là tình thần của mọi người và mỗi người công giáo chúng ta"(11) (M, 3).

- Đại hội lần thứ VII: Ra Thư Mục vụ khẳng định những hành động cụ thể là cơ sở cho việc đối thoại, tôn trọng lẫn nhau: "Chính sự tích cực dấn thân như thế của anh chị em cùng với đồng bào cả nước là cơ sở thực tiễn cho một cuộc đối thoại, có khả năng đưa tới sự hiểu biết, tôn trọng và yêu thương nhau giữa những con người Việt Nam, dù có tín ngưỡng hay không, dù theo tôn giáo này hay tôn giáo khác. Yêu thương và hiệp nhất là đặc điểm của Tin mừng Chúa Giêsu Kitô và cũng là điểm gặp gỡ sâu xa nhất giữa Tin mừng và văn hoá Việt Nam, một nền văn hoá vốn lấy nghĩa đồng bào và đạo hiếu trung làm nền tảng cho đạo đức xã hội"(12) (M, 5).

- Đại hội lần thứ VIII: Ra Thư chung nêu lên tinh thần trách nhiệm của giáo hội đối với sự phát triển của đất nước:  "Để yêu thương và phục vụ, trước hết ta phải tiếp tục đường hướng đồng hành với dân tộc, đồng cảm, chia sẻ hy vọng và thăng tiến con người. Ta không nhìn những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục như những kẻ đứng ngoài cuộc, nhưng nhận đó là những vấn đề của ta và chủ động góp phần giải quyết, hầu cho mọi người đựơc sống và sống dồi dào. Ta không thể thờ ơ với những chương trình phát triển cũng như tình trạng nghèo đói và những tệ nạn xã hội, bởi vì ta là thành viên của cộng đồng dân tộc với tất cả quyền lợi và nghĩa vụ"(13) (M, 8).

- Đại hội lần thứ IX: Ra Thư chung với chủ đề Giáo hội Màu nhiệm Thánh thể: "Sự chia sẻ của chúng ta không chỉ dừng lại nội bộ, nhưng còn hướng ra bên ngoài Giáo hội. Ý thức sự đa dạng của các nền văn hoá và các tôn giáo của mình, và nên có tinh thần cởi mở đối với các tôn giáo bạn, tích cực cộng tác với tín đồ các tôn giáo, với những người thiện chí trong công việc từ thiện và bác ái xã hội"(14) (M,9),

- Đại hội lần thứ X: Ra Thư chung với chủ đề Giáo dục hôm nay, xã hội và giáo hội ngay mai: "Sau hết vì luôn là một sinh hoạt gắn liền với một không gian nhất định, giáo dục phải được liên kết với truyền thống văn hoá của không gian ấy. Đặt vấn đề giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam có nghĩa là đặt vấn đề phát huy truyền thống văn hoá Việt Nam. Dân tộc chúng ta luôn tự hào về tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo. Truyền thống đấy nếu trong quá khứ đã góp phần làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và sản sinh những danh nhân làm vẻ vang đất nước, thì nay phải trở thành một trong những tiêu chí của nền giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam"(15) (M,37).

- Đại hội lần thứ XI: Ra Thông báo về một số vấn đề trong hoạt động tôn giáo.

- Đại hội lần thứ XII: Ra Thư chung nhấn mạnh đến vấn đề Tân Phúc ấm hóa, vấn đề này được lồng vào trong tổng thể kế hoạch mục vụ mà HĐGM VN trình bày trong Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010 “Cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống”. Tân phúc âm hóa sẽ được thực hiện trong 3 năm (2014-2016), cụ thể: Năm 2014 Phúc Âm hóa đời sống gia đình; năm 2015 Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ và các cộng đoàn; năm 2016 Phúc Âm hóa đời sống xã hội.

- Đại hội lần thứ XIII: Ra Thư chung gửi Cộng đồng Dân Chúa với 7 mục, nhấn mạnh đến kết quả mà giáo hội đã đạt được trong Năm Thánh Lòng Thương xót (chủ đề sống đạo năm 2016); kêu gọi người Công giáo sống trách nhiệm và chia sẻ những khó khăn chung hiện nay của đất nước, nhất là ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu “mỗi hành động của chúng ta, dù nhỏ bé đều góp phần tích cực hoặc tiêu cực làm lành mạnh hóa hoặc hủy hoại môi trường sống” (16) (M, 3). Thư chung đã định hướng mục vụ của giáo hội cho những năm sắp tới với chủ đề Mục vụ gia đình, được thực hiện theo 3 giai đoạn: 2016 – 2017 là chuẩn bị cho người trẻ bước vào đời sống hôn nhân; 2017 – 2018 là đồng hành với các gia đình trẻ; 2018 – 2019 là đồng hành với những gia đình gặp khó khăn. Chủ đề này đã bám sát Tông huấn “Niềm vui của tình yêu” của Giáo hoàng Phanxicô ban hành ngày 8/4/2016 sau khóa họp Thượng Hội đồng Giám mục về ơn gọi và sứ mạng của gia đình trong thế giới ngày nay.

Như vậy, qua 13 lần Đại hội, HĐGM VN đã ra 7 Thư chung, 4 Thư Mục vụ và 2 thông cáo. Nội dung của các văn bản trên đã thể hiện tư tưởng "Canh tân, thích nghi" của Công đồng Vatican II, sự tiếp nối của Thư chung 1980 với những giá trị lâu dài của một đường hướng mục vụ phù hợp và thích ứng trong bối cảnh hội nhập, bám sát đường hướng của Giáo hoàng và thể hiện trách nhiệm của một tôn giáo để chia sẻ những khó khăn với đất nước.

Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của HĐGM VN từ khi thành lập đến nay, cho thấy một sự phát triển liên tục, ổn định, với những định hướng canh tân, thích nghi đã giúp Công giáo ở Việt Nam ổn định, phát triển. HĐGM VN ngày càng khẳng định vị thế, vai trò quan trọng đối với cộng đồng Công giáo Việt Nam cũng như là thành viên của Công giáo khu vực và thế giới./.

ThS. Phương Liên

___________________________

Trích dẫn và tài liệu tham khảo:

(1) Giáo hội Công giáo Việt Nam, Niên giám 2004, NXB Tôn giáo 2004, tr 236.

(2). Bộ Giáo luật 1983

(3), (4). Niên Giám 2004, Giáo hội Công giáo Việt Nam, NXB Tôn giáo, 2006, tr 281, 252, 282, 282.

(5). Thư chung HĐGM VN năm 1980.

(6). Kỷ yếu toạ đàm khoa học "Từ Công đồng Vatican II đến Thư chung 1980", NXB Tôn giáo, 2006, tr 288.

(7). Thư Mục vụ HĐGM VN năm 1983.

(8). Thông cáo HĐGM VN năm 1986.

(9). Thư Mục vụ HĐGM VN năm 1989.

(10). Thư Mục vụ HĐGM VN năm 1992.

(11). Thư Chung HĐGM VN năm 1995.

(12). Thư Mục vụ HĐGM VN năm 1998.

(13). Thư Chung HĐGM VN năm 2001.

(14). Thư Chung HĐGM VN năm 2004.

(15). Thư Chung HĐGM VN năm 2007.

(16). Thư Chung HĐGM VN năm 2016.

Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Hội đồng Giám mục Việt Nam qua 13 kỳ đại hội1. Quá trình hình thành HĐGM VN Công giáo truyền vào Việt Nam từ năm 1533, đến năm 1934 (sau 4 thế kỷ) Công đồng Đông Dương mới họp bàn chính thức về việc thiết lập hàng giáo phẩm ở Việt Nam và sau 26 năm chuẩn bị đến ngày 24/11/1960 Giáo hoàng Gioan
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Nguyễn Trường Tộ- một người Công giáo yêu nước và nhà tư tưởng lớn có tư duy vượt thời đại ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Để Nghị quyết Trung ương 4 đi vào cuộc sống: Cảnh giác với âm mưu lợi dụng “nhân quyền, dân chủ, tôn giáo” để tác động “Tự diễn biến” và “Tự chuyển hóa”
Phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức tôn giáo trong đổi mới toàn diện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Pháp môn Tịnh độ tại Việt Nam
Bangladesh có vị Thánh của mình
Ai tôn trọng Công ước quốc tế về Nhân quyền?
Khái quát về Luật Duy trì hòa hợp tôn giáo của Singapore
Kết quả 10 năm thực hiện chính sách, pháp luật Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại một số tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc và Tây Nguyên
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hình ảnh khai mạc Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XVII
Hàng chục ngàn người tham dự Lễ hội dừa Bến Tre 2019
Tái hiện Nghi lễ “Lẩu Then” của đồng bào dân tộc Tày
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn