Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 16/12/2018 05:32 PM
Ấn phẩm sách
Ra mắt bộ sách quý về 22 ngôi đình - chùa tiêu biểu của Việt Nam
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2018
Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài
Tìm hiểu Tín ngưỡng thờ cá Ông ở xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Luật tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục thể chế sâu sắc quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo Hiến pháp 2013

Ở nước ta, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền  con người, quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định và luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, ban hành nhiều chính sách để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện. 

Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, các quan điểm, chủ trương của Đảng tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo (sau đây gọi là Nghị quyết số 25-NQ/TW), Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (Pháp lệnh) đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm 2004, tạo hành lang pháp lý để ghi nhận, bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng như chính sách của Nhà nước đối với tôn giáo, quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Nội dung của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã quán triệt, thể chế hóa đầy đủ những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước được ghi nhận trong các kỳ Đại hội; bảo đảm tính tương thích với luật pháp quốc tế điều chỉnh về quyền con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà đặc biệt là những Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập. Pháp lệnh cũng thể hiện chính sách dân chủ, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo do các tổ chức tôn giáo tự giải quyết theo hiến chương, điều lệ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. Điều đó đã làm lành mạnh hoá các quan hệ tôn giáo và hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng của tín đồ và tổ chức tôn giáo, vì lợi ích chung của toàn xã hội trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế. Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, thực hiện đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống "tốt đời, đẹp đạo".

 Hiến pháp năm 2013 ra đời đã có những sửa đổi rất quan trọng về quyền con người nói chung và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền con người quan trọng, cơ bản, được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm. Hiến pháp cũng bổ sung nguyên tắc về việc hạn chế quyền con người trong các trường hợp nhất định phải do luật định, theo đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người, nên việc quy định hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được quy định cụ thể và bằng luật. Đồng thời, tại Hiến pháp cũng đã phân định thẩm quyền của Quốc hội, thẩm quyền của Chính phủ trong quyết định các chính sách tôn giáo, quản lý nhà nước về tôn giáo. Đây là các vấn đề đặt ra cần phải ban hành luật để cụ thể hoá đầy đủ nội dung, quy định và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Điều 24 của Hiến pháp quy định:

          “ 1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

          2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

          3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Luật tín ngưỡng, tôn giáo được thông qua tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XI  ngày 18/11/2016,  có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, thể chế  Hiến pháp về quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;  bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật. Tại Điều 6 của Luật quy định như sau:

“Điều 6. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người

“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

2. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo.

3. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

4. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.

5. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.

6. Chính phủ quy định chi tiết việc bảo đảm thực hiện các quyền quy định tại khoản 5 Điều này”.

Điều 6 không chỉ quy định việc tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với đối tượng được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn mở rộng các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho tổ chức, cá nhân.

- Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước

Các quy định này đã mở rộng chủ thể của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để Nhà nước có đủ cơ sở xác lập các cơ chế bảo đảm và tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước đối với mọi đối tượng được hưởng quyền và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ để Nhà nước xác lập các giới hạn của quyền và các nghĩa vụ cụ thể cho mọi đối tượng hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, không phân biệt đối xử của Nhà nước trong ghi nhận và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 Là cơ sở để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, phản ánh được nguyện vọng của đại đa số nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

 Nâng cao trách nhiệm và thể hiện rõ việc tổ chức thực thi cam kết của Nhà nước trong việc tôn trọng và thực hiện có hiệu quả các quyền được Công ước quốc tế ghi nhận bằng hoạt động lập pháp cũng như bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trên thực tế.

- Mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tổ chức, cá nhân:

+  Mở rộng phạm vi chủ thể của quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, trên cơ sở đó các tổ chức, cá nhân có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Vì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được coi là một quyền tự thân, không do một tổ chức, một cá nhân hay một Nhà nước nào ban tặng và không ai được phép tước bỏ, ép buộc, xâm phạm và Nhà nước phải tôn trọng, bảo hộ quyền tự do ấy.

+ Thông qua việc giới hạn rõ ràng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của từng chủ thể, các chủ thể sẽ biết rõ phạm vi, mức độ thực hiện quyền của mình, các giới hạn của quyền để thực hiện đúng pháp luật và được Nhà nước bảo hộ.

+  Là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức, cá nhân đề nghị Nhà nước ghi nhận, bảo hộ quyền của mình và là cơ sở để khiếu nại, khởi kiện khi có các hành vi xâm hại tới quyền của tổ chức, cá nhân một cách bất hợp pháp.

+ Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn là quyền được tự do bày tỏ niềm tin, đức tin của mình; quyền hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp; quyền tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo. 

+ Khẳng định các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của các tôn giáo, tránh được sự mặc cảm của các tổ chức tôn giáo do ra đời sau hoặc có số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ, cơ sở thờ tự ít. Quy định này một lần nữa nói lên chính sách tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước ta đối với các tổ chức tôn giáo là như nhau, cho dù tổ chức tôn giáo đó ra đời, được công nhận sớm hay muộn. Bên cạnh sự bảo đảm của Nhà nước đối với quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật, Nhà nước cũng luôn khuyến khích, giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo.

+ Quy định rõ hơn quyền của các đối tượng là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân theo quy định của pháp luật có liên quan. Đây là quy định rất tích cực cho các đối tượng này vì họ đang là đối tượng bị hạn chế một số quyền theo quy định của pháp luật, nhưng riêng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, họ được Nhà nước ghi nhận và được đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của cá nhân họ. Bên cạnh đó, việc ghi nhận sau khi họ chấp hành xong án phạt tù hoặc quản chế theo quy định của pháp luật thì được chủ trì lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, giảng đạo và quản lý tổ chức tôn giáo và để thực hiện được quyền chủ trì lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, giảng đạo phải được tổ chức tôn giáo đăng ký và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là những quy định hoàn toàn mới, đảm bảo được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, phù hợp với quy định về quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người quy định tại Hiến pháp năm 2013 cũng như Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn  giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ  sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.

Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi.

Luật tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những cải cách pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hoá đầy đủ nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về một trong những quyền con người quan trọng, cơ bản hàng đầu, trong đó có việc cụ thể hoá các giới hạn của quyền tín ngưỡng, tôn giáo và nâng cao trách nhiệm bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Đây cũng là một trong những Luật có tác động sâu sắc tới sự ổn định và phát triển xã hội của đất nước, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, có nhiều biến động phức tạp cũng như sức ép về các vấn đề nhân quyền, dân chủ từ các tổ chức quốc tế, các quốc gia lớn trong hoạt động tôn giáo ở Việt Nam./.

Thạc sỹ Nguyễn Thị Hồng Vân

Vụ Pháp chế -Thanh tra 

Luật tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục thể chế sâu sắc quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo Hiến pháp 2013Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, các quan điểm, chủ trương của Đảng tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo (sau đây gọi là Nghị quyết
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Hội nghị nghiệm thu dự án
Video
Người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam
Giao lưu văn nghệ nhân kỷ niệm 63 năm Ngày thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ Ngày truyền thống ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo(2/8/1955-2/8/2018)
Hành trình về nguồn đong đầy ý nghĩa
Hình ảnh
Sinh hoạt đời thường ở Turkmenistan- quốc gia biệt lập nhất Trung Á
Một số hình ảnh ngôi đền cổ đại khắc từ một khối đá duy nhất
Tái hiện Lễ mừng lúa mới dân tộc Xơ Đăng tỉnh Kon Tum
Audio
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương
Ủy ban Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước vận dụng những kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo của Việt Nam
Một số điểm mới của Luật tín ngưỡng, tôn giáo


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: Ông Dương Ngọc Tấn 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn