Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 16/12/2018 06:05 PM
Ấn phẩm sách
Ra mắt bộ sách quý về 22 ngôi đình - chùa tiêu biểu của Việt Nam
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2018
Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài
Tìm hiểu Tín ngưỡng thờ cá Ông ở xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Quá trình xây dựng và phát triển của Ban Tôn giáo Chính phủ - Bộ Nội vụ

Năm 1955, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa căn cứ vào ý kiến của Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 566/NĐ-CP ngày 02/8/1955 thành lập Ban Tôn giáo, một đơn vị trong Ban Nội chính Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng phủ (tiền thân của Ban Tôn giáo Chính phủ ngày nay) để “nghiên cứu kế hoạch thi hành những chủ trương chính sách của Chính phủ về vấn đề tôn giáo và liên hệ với các tổ chức tôn giáo”.

       Trải qua 55 năm hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Thủ tướng phủ trước kia và Ban Tôn giáo Chính phủ ngày nay đã không ngừng phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ chính trị: tham mưu cho Đảng và Nhà nước về chủ trương, chính sách đối với tôn giáo; thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo; góp phần đấu tranh chống các hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực xấu vào mục đích chính trị. Đặc biệt là động viên tín đồ, chức sắc các tôn giáo tham gia và có những đóng góp rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

        Vào các năm 2002, 2007, Nhà nước đã trao tặng Ban Tôn giáo Chính phủ Huân chương Độc lập hạng Nhất và Huân chương Hồ Chí Minh, phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước dành cho các thế hệ làm công tác tôn giáo thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, là niềm vinh quang của sự nghiệp quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo vì thắng lợi của chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, vì lợi ích chính đáng của tín đồ, chức sắc các tôn giáo ở Việt Nam, là niềm động viên khích lệ to lớn đối với hệ thống làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trong cả nước.

        Quá trình xây dựng và trưởng thành của Ban Tôn giáo Chính phủ có thể chia làm 3 thời kỳ:

        Thời kỳ 1955-1975: đây là thời kỳ Ban Tôn giáo Thủ tướng phủ thực hiện chức năng giúp Thủ tướng phủ trong việc thực hiện các chủ trương chính sách về tôn giáo, nhất là sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 234/SL về vấn đề tôn giáo ngày 14/6/1955. Thời kỳ này, Ban Tôn giáo Thủ tướng phủ là đầu mối liên hệ với các tổ chức tôn giáo nhằm huy động tín đồ, chức sắc tôn giáo tham gia công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh ở miền Bắc, đấu tranh với đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn yêu cầu thi hành hiệp định Giơnevơ. Đặc biệt đấu tranh chống âm mưu cưỡng ép tín đồ Công giáo di cư vào Nam, động viên giới tôn giáo tham gia các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Cũng trong thời kỳ này, các tổ chức tôn giáo được thành lập như Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (1958), Hội thánh Tin lành miền Bắc (1955).

        Thời kỳ 1975-1990: đây là thời kỳ Ban Tôn giáo của Chính phủ thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp Chính phủ quản lý nhà nước về tôn giáo trong điều kiện đất nước mới được thống nhất; Ngày 11 tháng 11 năm 1977, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 297/NQ-CP Về hoạt động tôn giáo. Ban Tôn giáo Chính phủ đã tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước và làm đầu mối giúp các tổ chức tôn giáo đi tới thống nhất về tổ chức, xây dựng Hiến chương đường hướng hành đạo theo phương châm “tốt đời, đẹp đạo” gắn bó với dân tộc và đấu tranh có hiệu quả âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp thống nhất đất nước. Thời kỳ này một số tổ chức tôn giáo được thành lập như Hội đồng Giám mục Việt Nam (1980), Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981).

        Thời kỳ 1990 đến nay: là thời kỳ đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, Ban Tôn giáo Chính phủ tập trung vào nhiệm vụ giúp Đảng và Nhà nước khẳng định quan điểm, chủ trương hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đối với tôn giáo bằng việc tham mưu cho Đảng ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 16 tháng 10 năm 1990 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII Về đổi mới công tác tôn giáo trong tình hình mới, Chỉ thị số 37/CT-TW ngày 02 tháng 7 năm 1998, của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới đồng thời tham mưu với Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 69/NĐ-HĐBT ngày 21/3/1991 quy định về các hoạt động tôn giáo và sau này là Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 Về các hoạt động tôn giáo. Đặc biệt góp phần tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 25/NQ-TW ngày 12/3/2003 Về công tác tôn giáo. Thời kỳ này một số tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân như: 9 Hội thánh Cao đài, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), Ban đại diện Hồi giáo thành phố Hồ Chí Minh, Ban đại diện Hồi giáo tỉnh An Giang. Sau Nghị quyết số 25/NQ-TW, Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với các ngành chức năng xây dựng và trình Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội khóa XI ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18 tháng 6 năm 2004; trình Chính phủ ra Nghị định số 22/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.

        Về tổ chức bộ máy:

        Tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo được hình thành từ những năm 50 của thế kỷ XX. Ban Tôn giáo Chính phủ hiện nay mà tiền thân là Ban Tôn giáo được thành lập theo Nghị định 566/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 1955 của Chính phủ. Theo Nghị định nói trên, Ban Tôn giáo là một đơn vị trong Ban Nội chính Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng phủ. Do yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, Ban Tôn giáo đã từng bước được kiện toàn theo thông tư số 60/TTg, ngày 11 tháng 6 năm 1964 của Phủ Thủ tướng, Ban Tôn giáo được đổi thành Ban Tôn giáo Phủ Thủ tướng. Đến ngày 27/3/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 85/NĐ-HĐBT, về việc thành lập Ban Tôn giáo của Chính phủ.

        Ngày 04 tháng 6 năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/NĐ-CP quy định “Về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Ban Tôn giáo của Chính phủ”. Để tiếp tục củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, ngày 01/12/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 235/1998/QĐ-TTg “Về sửa đổi, bổ sung một số tổ chức thuộc Ban Tôn giáo của Chính phủ” qua thực tiễn 10 năm thực hiện Nghị định số 37/NĐ-CP ngày 04/6/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Ban Tôn giáo của Chính phủ, trên cơ sở tiếp thu tinh thần Luật tổ chức Chính phủ, ngày 13/8/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2003/NĐ-CP quy định “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Ban Tôn giáo Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trong phạm vi cả nước, là đầu mối phối hợp với các ngành về công tác tôn giáo và liên hệ với các tổ chức tôn giáo”.

Ngày 08 tháng 8 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/NĐ-CP về việc chuyển giao Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Cơ yếu Chính phủ vào Bộ Nội vụ. Ngày 14/8/2007 Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 1080/QĐ-BNV về việc tiếp nhận Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Cơ yếu Chính phủ vào Bộ Nội vụ. Ngày 03/11/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 134/2009/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ.

Qua 55 năm xây dựng và trưởng thành, hiện nay Ban Tôn giáo Chính phủ có 127 cán bộ, công chức, viên chức;

        Cơ cấu Lãnh đạo Ban gồm: 03 đồng chí (Trưởng ban và 02 Phó Trưởng ban).

        Có 13 đơn vị trực thuộc, trong đó có 9 đơn vị hành chính gồm: Vụ Công giáo, Vụ Phật giáo, Vụ Tin lành, Vụ Cao đài, Vụ Các tôn giáo khác, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Pháp chế - Thanh tra, Vụ Tổ chức cán bộ, Văn phòng Ban.

        Có 04 đơn vị sự nghiệp gồm: Trung tâm Nghiên cứu, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo; Trung tâm Thông tin; Tạp chí Công tác Tôn giáo, Nhà xuất bản Tôn giáo.

        Lãnh đạo Ban Tôn giáo Chính phủ qua các thời kỳ:

1. Ông Trần Xuân Bách, Trưởng ban Ban Tôn giáo Phủ Thủ tướng từ năm 1955 đến năm 1965;

 2. Ông Trần Hữu Duyệt, Trưởng ban Ban Tôn giáo Phủ Thủ tướng từ năm 1965 đến năm 1977;

 3. Ông Trần Đoàn, Trưởng ban Ban Tôn giáo Phủ Thủ tướng từ năm 1977 đến năm 1978;

4. Ông Trần Bạch Đằng, Trưởng ban Ban Tôn giáo Phủ Thủ tướng từ năm 1978 đến năm 1980;

5. Ông Đặng Thành Chơn, Trưởng ban Ban Tôn giáo của Chính phủ từ năm 1980 đến năm 1987;

6. Ông Nguyễn Quang Huy, Trưởng ban Ban Tôn giáo của Chính phủ từ năm 1987 đến năm 1989;

7. Ông Nguyễn Chính, Phó Trưởng ban, phụ trách Ban Tôn giáo của Chính phủ từ năm 1989 đến năm 1991;

8. Ông Vũ Quang, Trưởng ban Ban Tôn giáo của Chính phủ từ năm 1991 đến năm 1995;

9. Ông Vũ Gia Tham, Quyền Trưởng ban Ban Tôn giáo của Chính phủ từ năm 1995 đến năm 1998;

10. Ông Lê Quang Vịnh, Trưởng ban Ban Tôn giáo của Chính phủ từ năm 1998 đến năm 2003;

11. Ông Ngô Yên Thi, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ từ năm 2003 đến năm 2007;

12. Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ từ năm 2007 đến năm 2009;

13. Ông Nguyễn Thanh Xuân, Phó Trưởng ban Phụ trách điều hành Ban Tôn giáo Chính phủ từ năm 2009 đến năm 2010;

14. Ông Nguyễn Thái Bình, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ từ tháng 7 năm 2010.

Để phát huy vai trò và truyền thống của ngành Quản lý Nhà nước về tôn giáo, động viên cán bộ, công chức ngành Quản lý Nhà nước về tôn giáo, theo đề nghị của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ, ngày 27/5/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 445/QĐ-TTg về việc hàng năm lấy ngày 02 tháng 8 là “Ngày truyền thống của ngành Quản lý Nhà nước về tôn giáo”.

Tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở địa phương

Về tổ chức bộ máy cấp tỉnh

         Đến tháng 12 năm 2003, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo được thực hiện thông qua nhiều mô hình tổ chức với tên gọi khác nhau như: Ban Tôn giáo tỉnh; Ban Tôn giáo Chính quyền; Ban Tôn giáo - Dân tộc; Ban Dân tộc - Tôn giáo; Phòng Tôn giáo trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh; Văn phòng UBND có cán bộ kiêm nhiệm; Phòng Dân tộc Miền núi - Tôn giáo, Ban Dân vận có thêm chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo; Phòng Dân tộc - Tôn giáo.

Ngày 04 tháng 02 năm 2008 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2008/NĐ-CP của Chính phủ, quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Nghị định số 14/2008/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quân, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Ngày 04/6/2008 Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 04/2008/TT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ thuộc UBND cấp tỉnh, huyện.

Tính đến 31 tháng 12 năm 2009, đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban Tôn giáo, Phòng Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ. Gồm có 43 tỉnh, thành lập Ban Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ với mô hình Chi cục; 20  tỉnh, thành lập Phòng Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ.

Cơ cấu bên trong và cán bộ của Ban Tôn giáo các tỉnh: có 31 tỉnh Ban Tôn giáo được bố trí phòng, ban với tổng số phòng là 76/231 phòng.

         Tổng số cán bộ làm công tác QLNN về tôn giáo ở cấp tỉnh hiện nay là: 542/699 người, số cán bộ này chủ yếu được đào tạo qua nhiều ngành nghề khác nhau và có kinh nghiệm làm công tác tôn giáo; Tuy nhiên, con số này sẽ có những biến động vì nhiều tỉnh còn đang trong giai đoạn sắp xếp.

Tình hình tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác tôn giáo sau khi có Nghị định 22/NĐ-CP và Thông tư 25/TT-BNV

        Thực hiện Nghị quyết số 25/NQ-TW, Nghị định số 22/CP của Chính phủ và  Thông tư 25/BNV của Bộ Nội vụ, các tỉnh, thành phố đã củng cố kiện toàn, cơ quan chuyên môn giúp  Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về lĩnh vực tôn giáo.

Thời gian này, 64 tỉnh, thành phố trong cả nước có 38 Ban Tôn giáo, 11 Ban Tôn giáo - Dân tộc, 10 Ban Dân tộc - Tôn giáo, 1 phòng Tôn giáo thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh (Lạng Sơn), 4 Ban Dân tộc (có cán bộ theo dõi công tác tôn giáo) như: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai.

        Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở cấp tỉnh được tăng cường cả về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác tôn giáo trong tình hình mới, 64/64 tỉnh, thành phố có 699 cán bộ chuyên trách, chiếm 98%; cán bộ kiêm nhiệm chiếm 2%.

Đội ngũ làm công tác tôn giáo cấp huyện 

Cơ quan chuyên môn làm công tác tôn giáo thuộc cấp huyện được kiện toàn theo Nghị định 22/NĐ-CP của Chính phủ tồn tại 3 mô hình là Phòng Tôn giáo, Phòng đa ngành, đa lĩnh vực và bộ phận chuyên trách làm công tác tôn giáo thuộc Văn phòng HĐND-UBND huyện.

Năm 2003, tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo ở các huyện trong cả nước được sắp xếp thành nhiều loại như sau: có 494 huyện bố trí cán bộ thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân huyện làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, 79 Ban Tôn giáo; 13 Ban Tôn giáo -Dân tộc; 29 Phòng Tôn giáo; 13 Phòng Dân tộc - Tôn giáo.

Đến cuối năm 2006, cả nước có 637/670 huyện có tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, trong đó 324 huyện kiện toàn Phòng tôn giáo, Phòng Tôn giáo - Dân tộc và Phòng Dân tộc - Tôn giáo; 266 huyện công tác tôn giáo được đặt trong Văn phòng UBND huyện; 38 quận, huyện thành lập Ban Tôn giáo; 9 phòng chuyên môn quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có công tác tôn giáo. Nhìn chung các phòng được bố trí 3 cán bộ, có địa phương bố trí từ 4 cán bộ chuyên trách và kiêm nhiệm trở lên; các Ban Tôn giáo từ 7 đến 10 cán bộ chuyên trách và kiêm nhiệm; 33 huyện không thành lập phòng, số này còn nằm rải rác ở một số tỉnh. Đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về tôn giáo ở cấp huyện có 1.364 người, trong đó cán bộ chuyên trách 960 người, kiêm nhiệm 404 người, số cán bộ được bổ sung tăng 396 người so với trước khi có Nghị định 22/NĐ-CP của Chính phủ.

Tổng số cán bộ làm công tác QLNN ở cấp huyện là 969 người. Trước khi có NĐ 13, 14 là 1.364 người, giảm 395 người. Cùng với việc giảm về số lượng cán bộ làm công tác tôn giáo cấp huyện, có khoảng từ 2/3 đến 3/4 số cán bộ có kinh nghiệm làm công tác QLNN về tôn giáo vì các lý do khác nhau đã chuyển hoặc đang xin chuyển công tác khác. Phần đông số cán bộ cấp huyện làm công tác tôn giáo hiện nay là số cán bộ mới.

        Chất lượng đội ngũ cán bộ cấp huyện: về trình độ chuyên môn, đại học chiếm 49%, tăng 16% so với trước khi có Nghị định 22/CP; cao đẳng 3%; trung cấp 24%; sơ cấp 3%. Trình độ chính trị, cử nhân chiếm 10%; cao cấp 8%; trung cấp 39%; sơ cấp 12%. Quản lý hành chính nhà nước, chuyên viên cao cấp1%; chuyên viên chính 4%; chuyên viên 36%, cán sự 14%. Ngoại ngữ, A 16%; B 12%, C 3%. Tin học A 22%; B 11%, C 1%. 43 người đã được đào tạo và 42% cán bộ được bồi dưỡng về công tác tôn giáo.

         Về đội ngũ cán bộ cấp xã

        Theo Nghị định 22/NĐ-CP, cấp xã không có tổ chức độc lập giúp UBND quản lý nhà nước về tôn giáo. Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã về công tác tôn giáo trên cơ sở quy định của pháp luật.

        Tại thời điểm này cả nước có 10.862 xã, phường, thị trấn, trong đó có 8.160 người theo dõi và làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, sau Nghị định 22/CP được bố trí tăng 4.128 người, trong đó Uỷ ban nhân dân xã phân công 5.850 cán bộ là Phó Chủ tịch, 966 cán bộ là Ủy viên UBND xã kiêm nhiệm; 1.186 cán bộ là công an, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được phận công theo dõi. Một số địa phương, nhất là các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước đã bố trí 158 cán bộ chuyên trách làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo cấp xã, 106 cán bộ được hưởng trợ cấp 350.000đ; 52 cán bộ chuyên trách hưởng chế độ lương hệ số 1,46.

        Chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã ngày càng được nâng lên so với trước khi có Nghị định 22/CP. Tại thời điểm này trình độ chuyên môn, đại học chiếm 9%; cao đẳng 2%; trung cấp 26%, sơ cấp 5%. Trình độ lý luận chính trị, đại học chiếm 3%; cao cấp 2%; trung cấp 36%; sơ cấp 11%. Quản lý  hành chính nhà nước, chuyên viên chiếm 4%; cán sự 7%. Ngoại ngữ A 3%; B 1%. Tin học A 5%; B 1%; C 1%. Đào tạo về công tác tôn giáo 2 người và số người được bồi dưỡng về công tác tôn giáo, chiếm 23%.

Công tác tổ chức và cán bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo đã chuyển biến mạnh từ sau khi có nghị định 22/NĐ-CP và Thông tư 25/TT-BNV nói trên. Nghị định 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ quy định tổ chức  các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố tiếp tục là nhân tố thúc đẩy một cách có hiệu quả việc kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo và cán bộ làm công tác tôn giáo ở các địa phương, đã làm thay đổi quan trọng về chất và lượng trong lĩnh vực công tác này.

         Về đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các ngành có liên quan

        Từ Trung ương đến địa phương các ngành như: Công an; Quân sự; Văn hóa - Thông tin và Du lịch; Dân vận; Mặt trận và các đoàn thể nhân dân có 93.354 người tham gia làm công tác tôn giáo. Trong đó ở Trung ương 120 người, cấp tỉnh 960 người, cấp huyện 6.610 người, cấp xã 85.664 người.

        Phần lớn cấp ủy và chính quyền địa phương đã quan tâm cụ thể sâu sát hơn đối với công tác tôn giáo, đã có quyết định về việc củng cố kiện toàn cơ quan làm công tác tôn giáo cấp tỉnh, cấp huyện cùng với việc quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này và bố trí biên chế cán bộ làm công tác tôn giáo theo hướng dẫn và chỉ tiêu giao của Bộ Nội vụ cũng như đề ra các biện pháp nhằm tăng cường năng lực số lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Một số địa phương đã chủ động bố trí cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo cấp xã. Một số địa phương đã có chủ trương và đôn đốc việc phục hồi lại Phòng Tôn giáo cấp huyện bị giải tán khi thực hiện Nghị định 22/NĐ-CP và tiếp tục thành lập mới Phòng Tôn giáo cấp huyện ở những địa bàn cần thiết. Đối với cấp huyện và một số cấp tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo lập phòng (hoặc sở) đa ngành, đa lĩnh vực theo hướng dẫn của Thông tư 25/TT-BNV cho phù hợp với tình hình tôn giáo, dân tộc tại địa phương và cũng chủ yếu để giảm đầu mối quản lý hành chính nhà nước tại địa phương. Mô hình này tuy có mặt tích cực là giảm đầu mối, nhưng cũng nảy sinh những khó khăn khác trong chỉ đạo công tác chuyên môn, cần được thử nghiệm thêm một thời gian mới có thể đánh giá đầy đủ, nhất là đối với cấp tỉnh.

Nhiều địa phương cũng đã chủ động cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ công tác tôn giáo, chủ động bố trí biên chế cần thiết cho công tác tôn giáo. Về cơ bản, Nghị định 22/NĐ-CP, Thông tư 25/TT-BNV về tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo đã được thực hiện đồng bộ, góp phần quan trọng cho việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với tôn giáo, tạo được sự tin cậy trong đông đảo chức sắc tín đồ các tôn giáo trong việc hướng dẫn, quản lý hoạt động tôn giáo, đúng chính sách pháp luật của cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước và qua đó đã nâng cao hiêu lực, hiệu quả của công tác này, thực sự mang lại chất lượng tốt trong tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương về công tác tôn giáo.

Về tổ chức bộ máy, một số địa phương trước đây không có tổ chức cụ thể làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, nay đều đã lập Phòng Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ nên 63/63 tỉnh, thành phố hiện nay tuy với mức độ và mô hình khác nhau, nhưng đều có cơ quan làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo./.

 

Quá trình xây dựng và phát triển của Ban Tôn giáo Chính phủ - Bộ Nội vụNormal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4          Trải qua 55 năm hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Bộ Nội vụ,
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Giới thiệu vài nét về Ban Tôn giáo trực thuộc Sở Nội vụ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Phòng Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình hình thành và phát triển
Quá trình hình thành và phát triển của Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh Hà Giang
Sự hình thành và phát triển của Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Bình
Quá trình hình thành và phát triển của Ban Tôn giáo Cà Mau
Ban Tôn giáo thành phố Cần Thơ – Quá trình hình thành và phát triển
Lịch sử xây dựng và trưởng thành của Ban Tôn giáo tỉnh Tây Ninh
Quá trình hình thành và phát triển của Phòng Tôn giáo tỉnh Lai Châu
Ngành quản lý nhà nước về Tôn giáo tỉnh Quảng Ninh - 60 năm xây dựng và trưởng thành (02/8/1955-02/8/2015)
Lịch sử xây dựng và trưởng thành của Ban Tôn giáo tỉnh An Giang
Video
Người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam
Giao lưu văn nghệ nhân kỷ niệm 63 năm Ngày thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ Ngày truyền thống ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo(2/8/1955-2/8/2018)
Hành trình về nguồn đong đầy ý nghĩa
Hình ảnh
Sinh hoạt đời thường ở Turkmenistan- quốc gia biệt lập nhất Trung Á
Một số hình ảnh ngôi đền cổ đại khắc từ một khối đá duy nhất
Tái hiện Lễ mừng lúa mới dân tộc Xơ Đăng tỉnh Kon Tum
Audio
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương
Ủy ban Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước vận dụng những kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo của Việt Nam
Một số điểm mới của Luật tín ngưỡng, tôn giáo


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: Ông Dương Ngọc Tấn 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn