Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 04/07/2020 06:46 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2020
Giới thiệu sách mới: Phóng sinh dưới góc nhìn Phật pháp và đời sống
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 4/2020
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Chặng đường 75 năm xây dựng – phát triển của Bộ Nội vụ và ngành Tổ chức Nhà nước
Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt tháng 8-1945

Sau thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, Nhân dân ta đã đập tan chính quyền đế quốc và phong kiến tay sai thống trị gần một trăm năm, xoá bỏ vĩnh viễn chế độ quân chủ tồn tại hàng ngàn năm, chế độ thuộc địa nửa phong kiến sụp đổ. Thắng lợi này đã mở ra bước ngoặt lớn của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Ngày 27/8/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc Giải phóng được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời ra Tuyên cáo nêu rõ: “Nhiệm vụ của Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam hết sức nặng nề. Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu được được Mặt trận Dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ. Bởi vậy, Uỷ ban Dân tộc Giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà Quốc dân đã giao phó cho”.

Chính phủ lâm thời có 15 Bộ trưởng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cơ cấu Chính phủ gồm 13 bộ, trong đó có Bộ Nội vụ do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng. Như vậy, ngày 28/8/1945 đã đi vào lịch sử, là ngày khai sinh của Bộ Nội vụ và đánh dấu sự ra đời của ngành Tổ chức nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

I. Thời kỳ Chính phủ lâm thời (1945 - 1946)

Ngay sau khi thành lập, Bộ Nội vụ đã khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ được giao như: chuẩn bị các điều kiện và tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội; nghiên cứu thành lập các tổ chức của Chính phủ; xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền địa phương các cấp; xây dựng đội ngũ công chức cách mạng; thiết lập chế độ công chức mới; bảo đảm trật tự, an ninh xã hội, bảo vệ Đảng, Chính phủ trước sự chống phá của kẻ thù.

Một trong những biện pháp cải tổ bộ máy hành chính công quyền đầu tiên của Chính phủ là xoá bỏ các ngạch quan lại cũ của bộ máy chính quyền thực dân, tổ chức hệ thống các cơ quan chính quyền mới. Ngày 03/10/1945, theo đề nghị của Bộ Nội vụ, Chính phủ đã ra Sắc lệnh số 41/SL quy định tất cả các công sở và các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương đã thành lập ở Việt Nam đều bị bãi bỏ. Để khắc phục tình trạng thiếu cán bộ, công chức thông thạo nghiệp vụ hành chính công; đồng thời, nêu cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, Sắc lệnh này cũng quy định việc tuyển chọn và sử dụng nhân viên, công chức của hệ thống chính quyền cũ. Theo đó, Sắc lệnh quy định chuyển giao nhân viên của Toà công chức phủ Toàn quyền, Ty Pháp chế và Hành chính, Ty Hành chính tố tụng và Hành chính kiểm sát, Ty Nội chính thuộc tòa Chính trị phủ Toàn quyền, Toà Liêm phóng phủ Toàn quyền, Ban Công báo của Phòng Công văn phủ Toàn quyền sang Bộ Nội vụ. Một số nhân viên của bộ máy chính quyền cũ có hạnh kiểm, tư cách tốt, có trình độ nghiệp vụ cao đã được tuyển chọn làm việc trong Bộ Nội vụ. Ban đầu cơ quan Bộ Nội vụ chỉ có vài chục công chức, nhân viên và 03 thanh tra viên.

Ngày 01/01/1946, Chính phủ lâm thời cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời. Ngày 19/01/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký ban hành Nghị định số 14/NV về Tổ chức Bộ Nội vụ. Theo Nghị định này, cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ gồm có Văn phòng và 04 Nha: Công chức và Kế toán; Pháp chế và Hành chính; Thanh tra; Công an; giúp việc cho Bộ trưởng có Đổng lý Văn phòng và Chánh Văn phòng. Với Nghị định này, tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ cụ thể của Bộ Nội vụ đã được xác định, đã có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền nhân dân non trẻ.

Ngày 21/02/1946, theo đề nghị của Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh "hợp các Sở Cảnh sát và các Sở Liêm phóng toàn quốc thành một cơ quan đặt tên là Việt Nam Công an vụ". Việt Nam Công an vụ do một ông Giám đốc điều khiển, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ Nội vụ.

Là một trong 13 Bộ của Chính phủ lâm thời, Bộ Nội vụ được phân công lãnh đạo, theo dõi hai lĩnh vực công tác chính là tổ chức xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền các cấp và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế Bộ Nội vụ đã phải đảm nhiệm hầu như toàn bộ công việc nội trị của quốc gia.

Nhiệm vụ quan trọng nhất của Bộ Nội vụ lúc này là khẩn trương chỉ đạo, tổ chức việc xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng các cấp. Đây là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nhất, nhưng cũng là lĩnh vực công tác mà Bộ Nội vụ đã có những đóng góp nổi bật nhất, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng, củng cố chính quyền nói riêng và vào cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài nói chung.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Nội vụ đã kịp thời có những biện pháp để khắc phục tình hình, nhanh chóng củng cố chính quyền cách mạng cấp cơ sở. Ngay từ cuối tháng 10/1945, Ban nghiên cứu tổ chức chính quyền địa phương đã được thành lập, do đích thân Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp làm Trưởng ban.

Ngày 22/11/1945, sau một thời gian gấp rút bàn bạc, Ban nghiên cứu tổ chức chính quyền địa phương đã đưa ra được những kiến nghị rất cụ thể và Bộ Nội vụ đã đệ trình để Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 63/SL về tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp (xã, huyện, tỉnh, kỳ). Sắc lệnh này gồm 4 chương, 115 điều, quy định chặt chẽ các nguyên tắc, quy trình xây dựng và tổ chức các cấp chính quyền cấp trung gian và cơ sở. Đây là một đóng góp rất có ý nghĩa của Bộ Nội vụ vào việc xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng trong một giai đoạn cực kỳ khó khăn.

Một trong những vấn đề cấp bách và phức tạp trong quá trình xây dựng chính quyền đòi hỏi Bộ Nội vụ phải giải quyết, đó là vấn đề công chức cũ của bộ máy chính quyền thực dân để lại. Một phần phải khéo kế thừa đội ngũ công chức cũ, giải quyết công ăn việc làm cho công chức; đồng thời, cũng cần kiên quyết để tránh khả năng quá tải cho chính quyền cách mạng, Bộ Nội vụ đã thông qua hàng loạt văn bản quy định chế độ nghỉ hưu đối với những người đã làm việc được 30 năm hoặc đã đến 55 tuổi; cho phép công chức được xin nghỉ không lương từ 06 tháng trở lên và liên tiếp xin nghỉ gia hạn từ 06 tháng trở lên; trợ cấp một tháng lương cho những công chức xin từ chức hoặc nghỉ 06 tháng trở lên…

Ngoài ra, Bộ đã bước đầu nghiên cứu và đề nghị Chính phủ thông qua sắc lệnh về chế độ hưu bổng; chế độ tiền lương và phụ cấp. Bộ Nội vụ đã thiết lập một Hội đồng nghiên cứu và lập Dự án quy tắc chung cho các ngạch công chức Việt Nam.

Chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa I tại ngõ Phất Lộc (Hà Nội) năm 1946

Một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là khẩn trương tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra các cơ quan công quyền hợp hiến, hợp pháp. Bộ Nội vụ đã có đóng góp quan trọng trong việc thực hiện chủ trương này. Ngày 08/9/1945, thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký Sắc lệnh số 14 về việc "mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân Đại hội". Tiếp đó, Bộ Nội vụ đã chuẩn bị để Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta. Sắc lệnh gồm 12 khoản với 70 điều, giao cho Bộ Nội vụ và Bộ Tuyên truyền cùng phối hợp tổ chức thực hiện. Nhận thức rõ sứ mạng thiêng liêng của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, Bộ Nội vụ đã dốc toàn tâm, toàn sức và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đồng thời, Bộ Nội vụ còn phối hợp với nhiều Bộ khác của Chính phủ hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ khác của công cuộc nội trị, như cứu đói, phòng chống thiên tai, bình dân học vụ, thanh tra, giám sát, lập lại kỷ cương văn hoá - xã hội…

Trong thời gian đầu, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp là người duy nhất trong Chính phủ lâm thời được phép ký một loạt Sắc lệnh quan trọng dưới danh nghĩa “Thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ” như các Sắc lệnh: ấn định Quốc kỳ Việt Nam; mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân Đại hội; bãi bỏ hai ngạch quan hành chính và quan tư pháp… Đây là bằng chứng cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ Nội vụ trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng.

Nhìn lại quá trình ra đời và hoạt động của Bộ Nội vụ trong thời gian từ sau Cách mạng tháng Tám đến trước ngày Toàn quốc kháng chiến có thể thấy, đây là một thời kỳ lịch sử, tuy rất ngắn nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ghi nhận thắng lợi vĩ đại của toàn Đảng, toàn dân tộc trong cuộc vùng lên oanh liệt, quật cường, đánh dấu buổi sinh thành của một chế độ mới, của chính quyền dân chủ nhân dân và của ngành công tác xây dựng, tổ chức, điều hành chính quyền - nhà nước kiểu mới mà cơ quan phụ trách chính là Bộ Nội vụ.

Thắng lợi to lớn nhất của công tác nội trị, tổ chức xây dựng chính quyền và cũng là đóng góp quan trọng nhất của Bộ Nội vụ trong thời kỳ này chính là ở chỗ đã khẩn trương xây dựng, củng cố, bảo vệ thành công và phát huy tối đa công năng của hệ thống chính quyền cách mạng, phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh xây dựng cuộc sống mới, chống lại các thế lực thù trong, giặc ngoài. Chính thắng lợi to lớn này đã góp phần tạo nên cơ sở vững chắc cho sự phát triển của chính quyền dân chủ nhân dân trong các giai đoạn sau này.

II. Thời kỳ kháng chiến và kiến quốc (1946-1954)

Ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử đã bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với 333 đại biểu. Ngày 02/3/1946, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bầu ra Chính phủ Liên Hiệp kháng chiến để lãnh đạo Nhân dân thực hiện nhiệm vụ xây dựng lại đất nước, đấu tranh giữ gìn nền độc lập vừa giành được. Về Bộ trưởng Bộ Nội vụ mới được bổ nhiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu: “Một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết: Cụ Huỳnh Thúc Kháng”.

Nhiệm vụ chủ yếu của Bộ Nội vụ thời kỳ này như: tổ chức cuộc tản cư, di chuyển chiến lược; từng bước hoàn chỉnh cơ cấu chính quyền kháng chiến; xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy các cơ quan của Chính phủ; ban hành quy chế tổ chức các Bộ, ngành; xây dựng và quản lý chính quyền địa phương các cấp; xây dựng chế độ công chức, công vụ mới và quản lý cán bộ, công chức; …

Nhằm tiếp tục củng cố chính quyền, ngày 03/5/1946, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 57/SL quy định việc tổ chức các Bộ và Sắc lệnh số 58/SL quy định về tổ chức và chức năng thuộc cơ quan Bộ Nội vụ. Cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ gồm có Văn phòng; Nha Thanh tra; Nha Công chức và Kế toán; Nha Pháp chính; Nha Thông tin tuyên truyền; Việt Nam Công an vụ và Nha Dân tộc thiểu số. Như vậy, tổ chức bộ máy của Bộ Nội vụ đã được kiện toàn thêm một bước; đặc biệt, có hai Nha mới được thành lập là Nha Thông tin tuyên truyền và Nha Dân tộc thiểu số. Văn phòng Bộ Nội vụ là cơ quan trực tiếp giúp việc cho Bộ trưởng về nhiệm vụ chính trị, do một Đổng lý đứng đầu.

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (02/3/1946)

Ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 82/SL cử Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký thay Chủ tịch những công văn thường ngày và chủ toạ Hội đồng Chính phủ trong khi Chủ tịch Chính phủ đi vắng từ ngày 31/5/1945 đến 21/10/1946 - Một lần nữa, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ Nội vụ trong Chính phủ và trong tổ chức bộ máy nhà nước.

Đầu tháng 12/1946, phương án và kế hoạch di chuyển các cơ quan Trung ương của Đảng, Chính phủ và Quốc hội đã được đề ra. Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ được giao nhiệm vụ chuẩn bị toàn bộ lộ trình di chuyển, bao gồm lên kế hoạch, chuẩn bị cơ sở sơ tán theo các chặng, tổ chức di chuyển và chỉ đạo việc ổn định cơ quan làm việc ở những nơi sơ tán.

Bên cạnh nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là di chuyển an toàn các cơ quan Trung ương, Bộ Nội vụ còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ giao nhiệm vụ làm đầu mối tổ chức toàn bộ cuộc tản cư của các cơ quan chính quyền, đoàn thể và Nhân dân. Đây là một nhiệm vụ vô cùng nặng nề, phức tạp, nhất là trong khi Bộ Nội vụ chỉ có một số lượng cán bộ, nhân viên hạn chế, quân địch lại ráo riết bao vây, đánh phá ác liệt, hòng ngăn chặn cuộc tản cư chiến lược của ta.

Trong thời gian này, Bộ Nội vụ có sự thay đổi về nhân sự do Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng ốm nặng, qua đời. Tại phiên họp ngày 30/4/1947, Hội đồng Chính phủ đã thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông Tôn Đức Thắng, một cán bộ Đảng lão thành có uy tín rất lớn, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tới ngày 09/11/1947, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Phan Kế Toại, một nhân sĩ yêu nước từng giữ chức Khâm sai đại thần của triều Nguyễn tại Bắc Kỳ, được cử giữ chức quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay cho ông Tôn Đức Thắng được cử giữ chức Thanh tra đặc biệt toàn quốc.

Ngày 25/01/1949, theo đề xuất của Bộ Nội vụ, Hội đồng Chính phủ đã quyết định lập bốn Ban lớn, thực hiện liên thông hoạt động giữa các Bộ. Đây là một giải pháp sáng tạo cực kỳ quan trọng nhằm tạo ra cơ chế vận hành vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, do đó, đã phát huy cao độ công năng của hệ thống chính quyền kháng chiến. Bốn Ban đó là: Ban Quân sự gồm: Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tư lệnh; Ban Nội chính gồm: Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao; Ban Kinh tế gồm: Bộ Kinh tế, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính, Bộ Canh nông, Bộ Lao động; Ban Giáo dục - Văn hoá - Xã hội gồm: Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Thương binh, Cứu tế.

Đồng thời với việc cải tiến cơ chế liên thông trong vận hành chính quyền Trung ương, Bộ Nội vụ đã đề ra nhiều quyết sách phù hợp mang lại hoạt động hiệu quả của hệ thống chính quyền các cấp. Đây cũng là nguyên tắc cơ bản để Bộ Nội vụ triển khai chủ trương, kế hoạch củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong những năm 1947-1950. Thông qua cách tổ chức lại chính quyền địa phương, chính quyền Trung ương bắt đầu thực hiện phân quyền hành chính mạnh cho các cấp dưới.

Ngày 01/10/1947, theo đề nghị của Bộ Nội vụ về việc hợp nhất Uỷ ban kháng chiến và Uỷ ban hành chính thành Uỷ ban kháng chiến hành chính, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 91/SL thống nhất tên gọi Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính ở tất cả các cấp chính quyền cơ sở. Trên cơ sở đó, Bộ Nội vụ chỉ đạo việc mở rộng thành phần tham gia chính quyền bằng việc mời thêm các thân hào, thân sĩ vào Uỷ ban để thực hiện chính sách đại đoàn kết và tăng cường lực lượng chuyên môn. Như vậy, chỉ trong một thời gian rất ngắn, Bộ Nội vụ đã chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời việc tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan kháng chiến hành chính cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Trên cơ sở đó, hệ thống tổ chức chính quyền ở các khu, tỉnh được kiện toàn lại; địa giới hành chính ở một số nơi cũng được phân định lại hợp lý hơn.

Song song với việc kiện toàn hệ thống chính quyền, Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 188/SL ngày 29/5/1948 xếp ngạch và hạng lương cho công chức. Tiếp đó, ngày 20/5/1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, bao gồm 07 chương, 92 điều, quy định về nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm của công chức; đồng thời, xác định những nguyên tắc căn bản và tổng hợp các vấn đề về công chức cũng như các vấn đề về khen thưởng và xử phạt công chức. Việc ra đời Quy chế công chức đã đánh dấu một bước tiến quan trọng về xây dựng đội ngũ công chức nhà nước trong điều kiện có chiến sự.

Sự đồng bộ giữa nhân sự và cơ cấu tổ chức của hệ thống cơ quan nhà nước là điều kiện cần thiết để bộ máy chính quyền vận hành có hiệu quả.

Thành tích to lớn, quan trọng của Bộ Nội vụ thời kỳ này chính là tổ chức thành công cuộc tản cư, di chuyển chiến lược, đảm bảo giữ gìn và duy trì tốt cơ sở vật chất tối quan trọng cho toàn bộ cuộc kháng chiến. Trong đó, việc Bộ phối hợp tổ chức, bảo vệ thành công việc sơ tán toàn bộ cơ quan lãnh đạo Trung ương lên Việt Bắc thực sự là một kỳ tích.

Đồng thời, Bộ Nội vụ cũng đã có đóng góp to lớn trong việc tiếp tục củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân các cấp, biến chính quyền thành công cụ hữu hiệu chỉ huy và tổ chức cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đây là kết quả của một loạt các cải cách về cơ chế tổ chức của chính quyền do Bộ Nội vụ nghiên cứu và đề xuất, nhằm làm cho chính quyền nhà nước Việt Nam phù hợp nhất với điều kiện chiến tranh ở từng vùng; đồng thời, phát huy được cao nhất công năng và tính ưu việt của chính quyền cách mạng. Việc kiện toàn bộ máy chính quyền theo hướng vừa gọn, nhẹ, vừa chuyên nghiệp, chính quy đã làm cho các hoạt động của Bộ đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả hơn.

Công tác công chức, cán bộ cũng đã có bước tiến đáng kể theo hướng thống nhất, chính quy hoá với sự ra đời của Quy chế công chức.

Trên phương diện pháp chính, đóng góp to lớn nhất của Bộ Nội vụ là tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp quy, làm chỗ dựa pháp lý cho toàn bộ hoạt động của hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân. Qua đó, công tác xây dựng và vận hành chính quyền ngày một trở nên chính quy, bài bản và hiệu quả hơn.

Thời kỳ này, Bộ Nội vụ còn tiếp tục được giao phụ trách công tác gìn giữ an ninh chính trị và trật tự, trị an. Để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng này, trong điều kiện chiến tranh, Bộ Nội vụ đã đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng công an cách mạng vững mạnh về mọi mặt, nhất là thông qua một loạt biện pháp từ đổi mới cơ chế tổ chức, chỉ huy, cho tới tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ công an.

Bên cạnh những công tác trên, công tác thông tin, tuyên truyền cũng là một mặt trận mà Bộ Nội vụ với tư cách là cơ quan quản lý, điều hành có đóng góp to lớn.

Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp, giành thắng lợi mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta.

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết ngày 20/7/1954 về đình chỉ chiến tranh, khôi phục hòa bình ở Đông Dương, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của ba quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia, Bộ Nội vụ đã góp phần quan trọng giúp Đảng, Nhà nước hoàn thành tốt việc chỉ đạo, tổ chức công tác tiếp quản Thủ đô, vùng mới giải phóng, góp phần ổn định tình hình chính trị, chính quyền và đời sống cho Nhân dân.

(Còn tiếp)

Chặng đường 75 năm xây dựng – phát triển của Bộ Nội vụ và ngành Tổ chức Nhà nướcNgày 27/8/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc Giải phóng được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời ra Tuyên cáo nêu rõ: “ Nhiệm vụ của Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Phương thức vận động, thu hút phụ nữ trong các hội đoàn tôn giáo vào tổ chức Hội
Cao Đài Tây Ninh tỉnh Tiền Giang tập huấn nghi lễ năm 2020
Giáo hội Báp-tít Việt Nam mở lớp bồi dưỡng tôn giáo cho người chuyên hoạt động tôn giáo tại Cà Mau
Hội Dòng Mến Thánh giá Huế mừng hồng ân Khấn dòng
Ngày hội Hiến máu cứu người – Hành Bồ tát đạo 2020
Ủy ban Đoàn kết Công giáo tỉnh Ninh Thuận tổng kết phong trào thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong đồng bào Công giáo
Đà Nẵng, Hậu Giang bổ nhiệm quản nhiệm chi hội Tin Lành
Đổi thay xứ đạo Trà Kiệu
Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của công dân
Khánh thành Đền thờ Bác Hồ và các Anh hùng Liệt sỹ tỉnh Quảng Bình
Video
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ tại Đại lễ Phật đản Phật lịch 2564, Dương lịch 2020
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Hình ảnh
Giao lưu thể thao chào mừng Đại hội Đảng bộ cơ quan
Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh sơn Tỉnh Dòng Việt Nam tổ chức thánh lễ Truyền chức Linh mục
Hơn 250 ảnh tư liệu quý về Bác Hồ
Audio
TS. Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về Công tác chấn chỉnh các hoạt động lệch chuẩn tôn giáo tại các cơ sở thờ tự của Phật giáo
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn