Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/09/2019 02:09 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa biểu tượng Thiên Nhãn

        Một trong những đặc điểm của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ gọi tắt đạo Cao đài đó là biểu tượng Thiên Nhãn, Thiên Nhãn là Mắt Trời, thờ Thiên Nhãn tức là thờ Trời. Trên Quả Càn Khôn, Ðức Chí Tôn bảo vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên ngôi sao Bắc Ðẩu, Ðức Chí Tôn ngự tại ngôi Bắc Ðẩu; sau đây xin được giới thiệu vài nét về nguồn gốc, ý nghĩa của biểu tượng.

       1.     Nguồn gốc việc thờ Thiên Nhãn:

         Ông Ngô Văn Chiêu, đạo hiệu Ngô Minh Chiêu, sinh ngày 28 tháng 2 năm 1878 (mựng 7 tháng Giêng năm Mậu Dần) nơi quê mẹ tại Bình Tây (Chợ Lớn), trong một căn nhà lá nhỏ, ở vùng nê địa, phía sau ngôi chùa Quan Thánh, tục gọi chùa Ông Nhỏ (Ngôi chùa Ông được xây cất vào năm 1873 (Quý Dậu), ở tại số 1 đường Chùa, sau là số 242 Lê Quang Liêm, Chợ Lớn, Bình Tây hiện nay là đình Bình An, số 242 đường Trần Văn Kiểu, phường 3, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh).
Chùa Ông
Ông Ðốc phủ Ngô văn Chiêu, trong lúc đang làm Quận Trưởng quận Phú Quốc tỉnh Hà Tiên, vào khoảng đầu năm 1921, là người môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn, Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy ông phải tìm một dấu hiệu riêng biệt để thờ kính. Ngài Ngô Văn Chiêu bạch với Ðức Chí Tôn chọn dấu hiệu chữ Thập ( + ), Ðức Chí Tôn giáng cơ đáp: Chọn chữ Thập cũng được, song đó là dấu hiệu của một nền tôn giáo đã có rồi (Kitô Giáo), phải suy nghĩ để tìm ra một dấu hiệu mới khác, sẽ có Ðức Chí Tôn giúp sức.
         Ngài Ngô văn Chiêu xin hoãn lại một tuần để suy nghĩ tìm tòi. Hết tuần lễ rồi mà Ngài vẫn chưa tìm ra.Thế rồi, vào ngày 20 tháng 4 năm 1921 (ngày 13/3/Tân Dậu), lúc 8 giờ sáng, Ngài đang ngồi trên chiếc võng ở mái hiên sau Dinh Quận,bỗng đâu Ngài thấy trước mặt cách xa độ hai thước tây, lộ ra một con mắt thật lớn, rất tinh thần, chói ngời như mặt Trời, Ngài lấy làm sợ hãi hết sức, lấy hai tay che mắt lại không dám nhìn nữa, chừng nửa phút đồng hồ Ngài mở mắt ra thì vẫn thấy con mắt ấy mà lại càng chói hơn nữa; Ngài bèn chấp tay vái rằng: “Bạch Tiên Ông đệ tử rõ biết cái huyền diệu của Tiên Ông rồi, đệ tử xin Tiên Ông đừng làm vậy đệ tử sợ lắm. Như phải Tiên Ông bảo thờ Thiên Nhãn thì xin cho biến mất tức thì”. Vái xong thì con mắt mờ dần dần rồi mất.
         Như vậy mà Ngài cũng chưa thật tin, nên chưa tạo Thiên Nhãn mà thờ. Cách vài ngày sau Ngài cũng thấy y như lần trước. Ngài cũng nguyện sẽ tạo Thiên Nhãn mà thờ thì con mắt tự nhiên biến mất.
         Cách ít lâu, vào khoảng cuối tháng giêng âm lịch năm Giáp Tý (1924) Ngài ra hứng mát ngoài mé biển, Ngài trèo lên một hòn đá ngoài Dinh Cậu ngồi ngó mong ra biển thấy biệt mù trời nước, sóng dợn ba đào. Bỗng chút Ngài trông thấy lần lần từ chỗ trời nước giáp nhau, lộ ra một cảnh chẳng biết là cảnh nào mà thật là đẹp, cảnh ấy vừa khuất, lại lộ cảnh khác. Ngài thấy cảnh trên có Thiên Nhãn sổ ngay xuống một hàng có Nhựt Nguyệt Tinh cũng đẹp đẽ vô cùng. Ngài ngồi coi mê mẩn, quên hẳn rằng thân còn ở chốn phàm trần. Được chừng khoảng 15 phút đồng hồ thì cảnh ấy lu lần lần rồi tiêu mất.
Sau hai lần nhìn thấy Thiên Nhãn hiện ra, ông cầu cơ hỏi cách thờ phượng thì Tiên Ông dạy vẽ con mắt như đã thấy mà thờ và xưng danh là "Cao đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" rồi dạy ông gọi Tiên Ông bằng Thầy.
2. Ý nghĩa việc thờ Thiên Nhãn – Ngũ chi:
a. Thiên Nhãn:
Tại sao thờ Thiên Nhãn:ễng Ngô Văn Chiêu cú giải thích như sau: “Thuở giờ nơi Phật tự đâu đâu đều lên cốt Phật hoặc tượng mà thờ. Song cốt Phật và tượng Phật mỗi chùa một khác, không giống nhau, chỗ cốt Phật mập quá, chỗ lại ốm, chỗ vẽ tượng mầu này chỗ màu kia, thành ra cựng một đạo mà cách thờ phượng không giống nhau.
Đời nay Ngài hoằng khai Đại đạo lại mà sửa Phật giáo cho hoàn toàn và vì tại mấy cớ trên đây nên Ngài định cho chúng sanh vẽ Thánh Nhãn mà thờ, ý là con mắt nào cũng phải giống nhau hết”.
          Vẽ Thánh Nhãn thờ: Sách nói Tâm thị nhãn; thân thể con người ta có tâm là gốc. Tâm là chủ của con người, gọi là lòng nhưng chớnh thật là tâm.
Lý do vẽ có một con mắt: Mỗi người có một tâm, nên bề ngoài vẽ một con mắt mà thôi, hễ mình thấy con mắt đó cũng như mình thấy tâm mình; khi người nào thấy được cái tâm mình thì mới biết rõ nó ra sao mà kiềm chế, sửa chữa nó cho được toàn diện.
Thờ Thiên Nhãn là thờ một con mắt trái với các ý nghĩa sau:
  - Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có 5 câu như sau:
Nhãn thị chủ tâm,
Lưỡng quang chủ tể,
Quang thị Thần,
Thần thị Thiên,
Thiên giả Ngã dã
+ Con mắt là chủ của cái tâm, Thiên nhãn là chủ của Thiên tâm, mà Thiên tâm là Thái Cực là Đại Linh Quang, nên Trời là chủ của Thái Cực;
+ Hai ánh sáng là chúa tể. Lưỡng quang ấy là Lưỡng nghi: Âm quang và Dương quang, nên làm chủ tất cả;
+ Ánh sáng ấy là Thần. Thần này là chơn linh của ông Trời, tức là Đại Linh Quang của Đức Chí Tôn;
+ Thần ấy là Trời;
+ Trời ấy là Ta vậy.
 Vậy, thờ Thiên Nhãn là thờ Trời.
- Trong Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu:
 Càn kiện cao minh,
 Vạn loại thiện ác tất kiến.
Nghĩa là: Càn là Trời, ngôi Càn mạnh mẽ cao, sáng tỏ, nhìn thấy tất cả những hành vi thiện ác của khắp chúng sinh, cho dù bộc lộ ra ngoài hay giấu giếm kín đáo bên trong, Mắt Trời đều thấy rõ, để khen thưởng hay xử phạt một cách công bằng. Như vậy người tín đồ phải luôn nhớ rằng, bất cứ làm việc gì, Trời đều thấy rõ, không thể giấu giếm, cũng không thể chối cãi về sau.
- Thờ Thiên Nhãn mang ý nghĩa Đại Đồng, bất cứ dân tộc nào cũng có thể vẽ Thiên Nhãn để thờ mà không có sự phân biệt chủng tộc, màu da.
- Vẽ một con Mắt để thờ, mà không vẽ 2 con Mắt (một cặp) là bởi vì 1 là số khởi thủy của Càn khôn Vũ trụ và vạn vật: 1 sinh 2, 2 sinh 3, 3 sinh vạn vật; tức là Nhất bổn tán Vạn thù, Vạn thù qui Nhất bổn. Cho nên, số 1 là gốc, lại là số Dương, mà Ðức Chí Tôn làm Chủ Dương Quang, số 1 cũng chỉ ngôi Thái Cực, là ngôi độc nhất trong Càn Khôn Vũ trụ.
- Vẽ con mắt bên Trái để thờ, mà không vẽ con mắt bên Phải, bởi vì bên Trái thuộc về Dương, bên Phải thuộc về Âm, nên khi vào Thánh Thất quì cúng Ðức Chí Tôn, phái Nam quì bên Trái của Ðức Chí Tôn; phái Nữ quì bên Phải của Ðức Chí Tôn (Nam tả Nữ hữu). Cho nên thờ con mắt trái là ý muốn nói đến Đức Thượng đế.
- Thiên Nhãn là biểu tượng nhắc nhở tình "yêu thương" dưới ánh mắt của Đấng tạo hóa chúng sinh bình đẳng, tất cả đều được nhận ân Trời không có phân biệt.
- Việc thờ Thiên Nhãn có ý nghĩa rất quan trọng với người tín đồ Cao đài, nhắc nhở tín đồ rằng mọi cử chỉ, hành động luôn có Thượng đế soi xét; Thiên Nhãn giúp người tín đồ Cao đài nhận được Thần của Đức Chí Tôn khi chăm chú nhìn Thiên Nhãn trong lúc tụng kinh và người tu luyện định Thần, Thần đó sẽ kết hợp với Tinh và Khí trong bản thân mỗi người để thành Tam Bửu.
b. Ngũ Chi:
Phía dưới Thiên Nhãn là một ngôi sao lớn, đó là sao Bắc đẩu, trung tâm của Càn Khôn Vũ Trụ. Đây là nơi ngự của Đức Chí Tôn nên phải vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên sao Bắc đẩu.
Hai bên sao Bắc đẩu có vẽ mặt trời và mặt trăng. Hợp lại là Nhật, Nguyệt, Tinh. Đó là Tam bửu của Trời.
Các Đấng ngồi bên dưới kể ra từ trên xuống dưới:
- Đức Phật Thích Ca ngồi giữa, đắp y vàng, ngồi kiết già trên tòa sen, là Giáo chủ Phật giáo.
- Đức Lão Tử, ngồi bên tay phải của Đức Phật Thích Ca, mặc áo đạo màu xanh, tay cầm phất chủ, râu bạc trắng, đầu để trần. Ngài là Giáo chủ Tiên giáo.
- Đức Khổng Tử, ngồi bên tay Trái của Đức Thích Ca, mặc áo đạo màu hồng, râu bạc trắng, đầu đội mũ. Ngài là Giáo chủ Nho giáo.
Như vậy, ở hàng ngang này là hình của Ba Đấng Giáo chủ Tam giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ.
- Đức Lý Thái Bạch, ngồi hàng giữa, ngay phía dưới Đức Phật Thích Ca, có râu dài và đen, đầu đội mũ cánh chuồn. Ngài là một vị Đại Tiên Trưởng, giữ chức Nhất Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Lão Tử, cầm quyền Tiên giáo thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Đức Lý Thái Bạch còn được Đức Chí Tôn giao phó kiêm nhiệm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
- Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, ngồi phía tay Phải của Đức Lý Thái Bạch, là vị Nữ Phật ngự trên tòa sen, đắp y màu vàng, đầu đội mũ ni, tay phải cầm tịnh bình có nhành dương liễu, tay trái bắt ấn. Ngài là Nhị Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Phật Thích Ca, cầm quyền Phật giáo thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
- Đức Quan Thánh Đế Quân, ngồi phía tay trái của Đức Lý Thái Bạch, ngài đội mũ, mặc áo đạo màu xanh, râu dài và đen, tay trái đang lật xem quyển Kinh Xuân Thu. Ngài là Tam Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Khổng Tử, cầm quyền Nho giáo thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Ba Đấng: Lý Thái Bạch, Quan Âm Bồ Tát, Quan Thánh Đế Quân, là Tam Trấn Oai Nghiêm của đạo Cao Đài, cầm quyền Tam giáo thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
- Đức Chúa Jésus (Kitô Giáo chủ), ngồi hàng giữa, ngay dưới Đức Lý Thái Bạch, tóc đen, râu ngắn đen, tay phải chỉ trái tim bác ái tỏa hào quang. Ngài là Giáo chủ của Kitô giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ.
- Đức Khương Thượng Tử Nha, ngồi hàng giữa, ngay phía dưới Đức Chúa Jésus, không đội mũ, râu bạc trắng, mặc áo bát quái màu vàng, tay phải cầm cây roi Đả Thần (Đả Thần Tiên), tay trái cầm cây Hạnh Huỳnh Kỳ. Ngài cầm Bảng Phong Thần, đứng đầu Thần vị.
- Bảy cái ngai, đặt phía dưới các Đấng, sơn son thếp vàng: ngai giữa lớn nhất là ngôi Giáo Tông, 3 ngai kế dưới dành cho 3 vị Chưởng Pháp ba phái Thái- Thượng - Ngọc, 3 ngai kế dưới nữa dành cho 3 vị Đầu Sư ba phái. Bảy ngai này tượng trưng 7 Chức sắc cao cấp nhất của Cửu Trùng Đài cầm quyền Đạo Cao đài trong cơ phổ độ nhơn sanh của Đức Chí Tôn.
Chúng ta đã thấy, các Đấng ngồi theo hàng ngang thì cầm quyền Tam giáo, thời Nhị Kỳ Phổ Độ và thời Tam Kỳ Phổ Độ, còn các Đấng ngồi ở giữa, theo hàng dọc từ trên xuống dưới là:
+ Đức Phật Thích Ca tượng trưng Phật đạo,
+ Đức Lý Thái Bạch tượng trưng Tiên đạo,
+ Đức Chúa Jésus tượng trưng Thánh đạo,
+ Đức Khương Thượng Tử Nha tượng trưng Thần đạo.
 + 7 cái ngai của 7 Chức sắc cao cấp nhất của Cửu Trùng Đài tượng trưng Nhơn đạo.
Như vậy theo hàng giữa, 4 Đấng ấy và 7 cái ngai tượng trưng Ngũ Chi Đại Đạo: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo.
Do đó, Thánh tượng Thiên Nhãn trên được gọi là: Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi.
Sự trình bày Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi của đạo Cao đài gồm đủ các Đấng Giáo chủ các tôn giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ và Tam Trấn Oai Nghiêm của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nói lên tôn chỉ của Đạo Cao đài là: Tam giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhất.
Hai bên Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi trên Thiên bàn thường có đôi liễn chữ Nho, viết ra như sau:

Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo,
Hảo phùng Ngọc Đế ngự trần gian.
Đôi liễn này là cặp trạng trong bài thi của Đức Chí Tôn có in trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, nghĩa là:
- May mắn gặp được Đức Cao đài truyền ra nền Đại Đạo,
- Tốt đẹp thay gặp Đấng Thượng Đế giáng xuống cõi trần./.
   Nguyễn Ngọc Huấn
Chuyên viên Vụ Cao đài
Tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa biểu tượng Thiên Nhãn1.        Nguồn gốc việc thờ Thiên Nhãn:            Ông Ngô Văn Chiêu, đạo hiệu Ngô Minh Chiêu, sinh ngày 28 tháng 2 năm 1878 (mựng 7 tháng Giêng năm Mậu Dần) nơi quê mẹ tại Bình Tây (Chợ Lớn), trong một căn nhà lá nhỏ, ở vùng nê địa, phía sau ngôi
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tìm hiểu về ngày lễ Noel
Taj Mahal, biểu tượng của tình yêu huyền thoại
Đồng bào các tôn giáo ở Bình Dương: đoàn kết, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc
Người Công giáo Nam bộ trong cách mạng giải phóng dân tộc
Lời giáo huấn của Nabi Muhammad (Saw).
Truyền thống yêu nước của tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
Trên đất Thăng Long: nhiều ngôi chùa được xây dựng từ thời nhà Lý
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn