Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 27/10/2020 08:12 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2020
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Mục sư Hoàng Trọng Thừa - vị Hội trưởng đầu tiên của Hội thánh Tin lành Việt Nam
MS Hoàng Trọng Thừa (1877 – 1953)

Mục sư Hoàng Trọng Thừa là mục sư đầu tiên và cũng là Hội Trưởng đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, tiền thân là Hội  Tin lành Đông Pháp thành lập năm 1927, năm 1945 đổi là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, từ năm 1954 đến nay tách ra là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) và Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam).

Xuất thân từ một gia đình Nho giáo, mục sư tìm hiểu đạo Tin lành qua việc đọc Kinh thánh và sau đó ông tin nhận Chúa. Mục sư Hoàng Trọng Thừa đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam trong giai đoạn đầu, ông cũng làm một thành viên trong Ban Phiên dịch Kinh thánh và là giáo viên người Việt đầu tiên tại Trường Kinh thánh Đà Nẵng. Mục sư Hoàng Trọng Thừa cũng là người đã đặt nền móng cho việc truyền giáo cho các sắc tộc lên vùng cao nguyên

Mục sư Hoàng Trọng Thừa nguyên quán tại huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay là Tp Hồ Chí Minh). Ông sinh vào năm 1877 tại làng Nam Trung, tỉnh Thừa Thiên – Huế, mất năm 1953 tại Quảng Nam. Mục Sư Hoàng Trọng Thừa được sinh ra trong một gia đình khá giả theo truyền thống Nho giáo. Ngay từ niên thiếu, mục sư đã sớm theo đuổi việc bút nghiên, học chữ Hán suốt mười lăm năm nên có kiết thức căn bản rất vững về Nho giáo. Như bao sĩ tử thời đó, mục sư ứng thí nơi khoa trường và mong “danh đề bảng hổ.” Tuy học rất giỏi nhưng sau hai lần thi tại Huế, tên ông vẫn không nằm trong danh sách những người được trúng tuyển. Dầu không trúng tuyển, Giáo sĩ Robert Jaffray cho biết mục sư Hoàng Trọng Thừa đã làm việc trong thư khố của triều đình tại Huế một thời gian. Mục sư Lê Văn Thái cho biết mục sư Hoàng Trọng Thừa là một nho sĩ nổi tiếng tại Huế.

Đầu thế kỷ XX, chính quyền Pháp tại Đông Dương quyết định chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ. Do đó, từ năm 1910 chính quyền Đông Dương đã thông báo sẽ chấm dứt thi chữ Hán. Kỳ thi Hương cuối cùng được tổ chức tại miền Bắc vào năm 1915 và tại miền Trung vào năm 1918. Trước hoàn cảnh đó, mục sư Hoàng Trọng Thừa đã từ bỏ ý định theo đuổi khoa bảng và chuyển sang nghề Đông Y.

Năm 1913 mục sư Hoàng Trọng Thừa rời Huế vào Tourane (Đà Nẵng). Lúc đó, Đà Nẵng là một nhượng địa thuộc Pháp. Người Pháp có kế hoạch phát triển Đà Nẵng thành một thương cảng để thay thế cho Hội An (Faifoo) vốn không còn phồn thịnh nữa. Để thực hiện dự án đó, trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX, khá nhiều thương gia Pháp và ngoại kiều Tây Phương đã đến Đà Nẵng sinh sống. Như một số người Việt vào thời đó, mục sư Hoàng Trọng Thừa đến Đà Nẵng tìm cơ hội mới.

Trước khi mục sư Hoàng Trọng Thừa vào Đà Nẵng, năm 1911 các giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (Christian Missionary of Alliance – CMA) đã từ Hoa Nam (Trung Hoa) đến Đà Nẵng thành lập trung tâm truyền giáo. Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đã mua lại cơ sở của Thánh Kinh hội tại số 66 đường Khải Định và 67 đường Nguyễn Hoàng để làm trụ sở. Trong năm đầu tiên, chỉ có một mình Giáo sĩ Paul Hosler hoạt động tại Đà Nẵng, sau đó các giáo sĩ Frank Soderberg (1912), Elizabeth Carothers (1912), Grace Hazenberg (1913), Florence Russell (1913), Henry Birkel (1914), William C. Cadman (1915), Marie R.H. Morgenthaler (1915), E. Franklin Irwin (1915) lần lượt đến Đà Nẵng. Đến năm 1915, có 9 giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp hoạt động tại Việt Nam.

Các giáo sĩ CMA tích cực trong công việc truyền giáo, một thời gian sau, khắp Đà Nẵng rồi cả tỉnh Quảng Nam nhiều người đã nghe nói về “đạo mới.” Những người chưa bao giờ nghe về sự cứu rỗi của Chúa thì gọi đó là “đạo lạ.” Những người hiểu biết gọi là “Đạo Gia tô.” Một số tín hữu Công giáo gọi là “Đạo rối.” Tuy nhiên, đa số dân Quảng Nam gọi tôn giáo mới là “Đạo Huê Kỳ,” vì họ thấy các giáo sĩ đến từ Hoa Kỳ. Tháng 6 năm 1913, Giáo sĩ Paul Hosler yêu cầu Hội Truyền giáo CMA cho phép xây dựng nhà thờ, đến ngày 30 tháng 3 năm 1914, nhà thờ đầu tiên ở Đà Nẵng đã làm xong. Ngôi nhà thờ bằng tranh rất đơn sơ này đã được dùng làm nơi rao giảng Lời Chúa hằng tuần cho dân địa phương.

Khi mục sư Hoàng Trọng Thừa vào Đà Nẵng, mục sư cũng nghe nói đến “Đạo Huê Kỳ.” Thái độ của công chúng về Đạo Chúa khác nhau, nhiều người khen mà cũng lắm người chê. Với mong muốn tìm hiểu cho rõ, mục sư đích thân đến nhà thờ nghe giảng, khi nghe giảng, mục sư hiểu tôn giáo mới mà nhiều người đồn đại đó chính là Cơ Đốc giáo mà mục sư đã có dịp tìm hiểu từ trước.

Mục sư Hoàng Trọng Thừa đã kể cho Mục sư Phan Đình Liệu và Mục sư Phạm Xuân Tín về việc mục sư tìm hiểu đạo Chúa và tin Chúa là do một chủ tiệm buôn người Trung Hoa tặng cho một cuốn Kinh Thánh bằng chữ Hán vào năm 1902. Mục sư đã đọc đi đọc lại Kinh Thánh nhiều lần trong suốt hơn 10 năm và mục sư cũng đã đọc một số sách Cơ đốc giáo trong chữ Hán nên ông hiểu tín lý của Cơ đốc giáo. Trong thời gian mục sư đến tham dự các chương trình truyền giảng tại nhà thờ Đà Nẵng, các giáo sĩ đã tiếp xúc và làm quen với mục sư. Khi biết mục sư là một người có học, Giáo sĩ E. F. Irwin đã nhờ mục sư dạy tiếng Việt cho họ. Trong thời gian dạy học cho các giáo sĩ, Giáo sĩ E.F. Irwin đã tìm cách giới thiệu niềm tin Cơ đốc cho ông. Mục sư Hoàng Trọng Thừa cho biết Giáo sĩ E. F. Irwin nói ít nhưng mục sư hiểu nhiều vì ông đã đọc Kinh thánh. Dầu đã được giải thích về Chúa hơn hai năm và nhiều lần được mời theo đạo, ông vẫn không chịu tin theo.

Tuy nhiên, vào khoảng tháng 9 năm 1915, trong một giờ học Kinh thánh vào buổi tối, sau khi nghe mục sư Phúc chia sẻ, ông bằng lòng tiếp nhận Chúa. Sau khi tin theo, ông thấy lòng mình được thay đổi lạ thường, những buồn bã, lo âu, cay đắng biến mất, ông cảm thấy thanh thản, bình an. Những điều mà mục sư quan sát bấy lâu nay trong đời sống những người tin Chúa đã trở thành một kinh nghiệm thực trên đời sống của ông.

Trong chiến tranh thế giới I, chính quyền Pháp tại Đông Dương lấy cớ tình nghi một số giáo sĩ làm gián điệp cho Đức nên đã ra lệnh cấm các giáo sĩ Tin lành hoạt động. Theo Giáo sĩ E. F. Irwin, chỉ vài tháng trước khi người Pháp ra lệnh trục xuất các giáo sĩ, mục sư Hoàng Trọng Thừa đã tin nhận Chúa. Theo các tài liệu của Hội Truyền giáo CMA, các giáo sĩ nhận được lệnh cấm hoạt động tại Đông Dương vào tháng 11 năm 1915 do đó, có lẽ mục sư Hoàng Trọng Thừa đã tin Chúa vào khoảng tháng 8 hoặc tháng 9 năm 1915.

Sau khi mục sư Hoàng Trọng Thừa tin theo, Giáo sĩ E. Frank Irwin đã tập cho mục sư giảng Lời Chúa bằng cách đọc bài giảng cho mục sư ghi lại, rồi nhờ mục sư đọc trong giờ nhóm. Với cách huấn luyện như vậy, mục sư Hoàng Trọng Thừa, trong cương vị của một người thông ngôn (phiên dịch), đã trở thành một nhà truyền đạo.

Giáo sĩ E. F. Irwin cho biết Đức Chúa Trời đã chọn mục sư Hoàng Trọng Thừa từ nhỏ cho công việc Ngài. Những năm tháng học chữ Hán của mục sư đã giúp ích sau này. Khi nghe các giáo sĩ trình bày bài giảng, mục sư có thể viết nhanh như người tốc ký và ghi lại với lời văn thật trau chuốt. Sau đó mục sư đọc bài giảng trong nhà thờ, lời giảng đã chạm vào tấm lòng nhiều người.

Một số nhà nho xứ Quảng đến nhà thờ với mục đích bắt bí, làm cho mục sư mất mặt, nhưng mục sư trả lời khiêm hòa và thỏa đáng. Sau ba tháng giảng như vậy, đã có 18 người tin Chúa và Hội thánh Đà Nẵng được chính thức thành lập. Số người nhận báp têm tại Hội thánh Đà Nẵng vào năm 1916 là 18 người và năm 1917 là 17 người. Đến cuối năm 1917 số tín hữu chính thức tại Hội thánh Đà Nẵng là 42. Theo truyền thống của Hội Thánh Tin lành Việt Nam, số tín hữu chính thức chỉ tính những người đã cầu nguyện tin Chúa, đã học giáo lý và đã nhận thánh lễ báp têm. Số tín hữu đã tin Chúa, nhưng còn nhỏ tuổi, hoặc là người lớn nhưng chưa nhận lễ báp têm thì không tính trong danh sách tín hữu chính thức của Hội thánh.

Năm 1918 hai giáo sĩ Irving R. Stebbins và John D. Olsen được cử đến mở trung tâm truyền giáo mới tại Sài Gòn. Một thời gian sau, Giáo sĩ Irving R. Stebbins phải quay trở lại Đà Nẵng. Năm 1920, Giáo Hebert R. Jackson, Giáo sĩ F. L. Dodds, cùng Truyền đạo Đoàn Văn Khánh được cử đến để giúp Giáo sĩ John D. Olsen tại miền Nam. Vì hai giáo sĩ mới chưa nói tiếng Việt tốt, do đó năm 1920 theo yêu cầu của Hội Truyền giáo CMA, mục sư Hoàng Trọng Thừa đã vào Sài Gòn trong vài tháng để giúp truyền đạo Đoàn Văn Khánh giảng dạy cho các tân tín hữu tại Hội thánh Sài Gòn. Số người thờ tin theo tại Hội thánh Sài Gòn là 30 người và số người tham dự buổi học Kinh thánh trong tuần là 15 người.

Bên cạnh trách nhiệm giảng dạy, mục sư Hoàng Trọng Thừa cũng là một thành viên trong Ủy Ban Phiên Dịch Kinh Thánh do Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại bảo trợ. Mục sư đã dịch một phần Kinh Thánh từ chữ Hán sang tiếng Việt. Sau khi Hội Thánh Đà Nẵng được thành lập, Giáo sĩ Robert A. Jaffray từ Trung Hoa sang Việt Nam thăm viếng công việc truyền giáo. Khi gặp mục sư Hoàng Trọng Thừa, ông đề nghị mục sư ghi danh theo học tại Trường Kinh thánh Ngô Châu (Wuchow Bible School) tại Quảng Tây để được huấn luyện thần học chính thức. Mặc dầu lúc đó mục sư Hoàng Trọng Thừa đã có kiến thức Kinh thánh khá vững qua việc tự học và tham khảo các tài liệu Tin lành trong chữ Hán, mục sư cũng được các giáo sĩ hướng dẫn học Kinh thánh hằng tuần, và mục sư đã giảng mỗi tuần cho hàng trăm người, khiêm tốn bằng lòng nhận lời ghi danh học thần học.

Một trong những lý do mục sư Hoàng Trọng Thừa nhận lời đi học Kinh thánh vì mục sư quý mến Giáo sĩ Robert A. Jaffray. Khi tập sự hầu việc Chúa trong chức vụ truyền đạo, lúc đó gọi là giảng sư, mục sư Hoàng Trọng Thừa thường tham khảo các sách giải nghĩa Kinh thánh và thần học trong chữ Hán. Một trong những cuốn sách mà mục sư đã đọc và đã dịch sang tiếng Việt là cuốn Sự Tái Lâm Của Cứu Chúa do mục sư Robert A. Jaffray viết. Khi mục sư Robert A. Jaffray khuyên mục sư nên học Kinh thánh một cách chính quy và khi biết mục sư Robert A. Jaffray là tác giả một số sách mục sư đã nghiên cứu, thì mục sư Hoàng Trọng Thừa đã nghe theo lời khuyên của ông.

Do nhu cầu công việc tại Đà Nẵng và vì tình hình chính trị tại Việt Nam không cho phép xuất ngoại, mục sư Hoàng Trọng Thừa không thể sang Trung Hoa học tại Trường Kinh thánh Ngô Châu (Trung Quốc). Mục sư đã học Kinh Thánh bằng phương pháp hàm thụ. Bài học được Trường Kinh Thánh gửi từ Ngô Châu sang Việt Nam để mục sư nghiên cứu. Mỗi kỳ thi, các giáo sĩ tại Đà Nẵng được cử làm giám thị. Thi xong bài được niêm phong lại và gửi về Trung Quốc chấm. Mục sư Hoàng Trọng Thừa học rất giỏi, những bài thi của mục sư đều được các vị giám khảo tại Trung Hoa “khuyên đỏ” – xác nhận bài làm ưu tú.

Theo biên bản của Hội Đồng tại Đà Nẵng vào tháng 2 năm 1920, Hội Truyền Giáo CMA đã thảo luận về đề nghị sẽ phong chức mục sư cho mục sư Hoàng Trọng Thừa sau khi mục sư tốt nghiệp chương trình thần học. Trong kỳ họp đó, Hội Truyền Giáo CMA đã yêu cầu Trường Kinh Thánh Ngô Châu gửi tiếp bài học cho năm tới. Chín tháng sau, theo biên bản của Ủy Ban Điều Hành của Hội Truyền Giáo tại Việt Nam vào tháng 11 năm 1920, Giáo sĩ Robert Jaffray cho biết mục sư Hoàng Trọng Thừa đã hoàn tất kỳ thi tốt nghiệp với Trường Kinh Thánh Ngô Châu và đề nghị Hội Truyền Giáo nên xúc tiến việc phong chức mục sư.

Trong kỳ họp này, Ủy Ban Điều Hành Hội Truyền Giáo CMA tại Đông Dương cũng đề nghị Giáo sĩ Robert Jaffray yêu cầu Mục sư H. E. Anderson, đại diện của Thánh Kinh hội, cho phép mục sư Hoàng Trọng Thừa được ngưng cộng tác với Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại trong việc phiên dịch Kinh Thánh để có thể dành trọn thời gian cho công tác truyền giảng trong tương lai. Trong khoảng thời gian đó, Hội Truyền Giáo CMA đang đối diện với hai nhu cầu cấp bách. Thứ nhất, muốn hoàn tất bản dịch Kinh thánh sang tiếng Việt càng sớm càng tốt để việc truyền giáo được dễ dàng. Thứ hai, vào lúc đó Hội Truyền Giáo CMA đã hoạt động tại Việt Nam gần 10 năm, nhưng chưa đào tạo được một mục sư người Việt nào. Hội Truyền Giáo cần có nhiều mục sư người Việt cộng tác để mở thêm các trung tâm truyền giáo và chi hội mới. Công tác phiên dịch Kinh Thánh rất cần nhưng đã có vài người có thể làm. Công tác truyền giáo trong tiếng Việt lúc đó chỉ có hai người là mục sư Hoàng Trọng Thừa và truyền đạo Khanh.

Mục sư Hoàng Trọng Thừa hoàn tất chương trình thần học vào năm 1920, năm 1921 do nhu cầu của công tác truyền giáo tại miền Nam, mục sư được Hội Truyền Giáo CMA cử vào Sài Gòn để hổ trợ công việc. Với khả năng giảng dạy và kiến thức Kinh thánh, mục sư đã giúp các tân tín hữu tại Sài Gòn trong sự nhận biết Chúa. Gần hai năm sau khi hoàn tất kỳ thi tốt nghiệp, ngày 3 tháng 9 năm 1922, mục sư Hoàng Trọng Thừa được chính thức phong chức mục sư tại nhà thờ Đà Nẵng. Cùng được phong chức mục sư với mục sư Hoàng Trọng Thừa trong năm 1922 là hai Giáo sĩ Arthur L. Hammond và H. Curwen Smith. Mục sư Hoàng Trọng Thừa trở thành mục sư đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam và cũng là mục sư Việt Nam đầu tiên của Hội truyền giáo CMA trên thế giới.

Thầy và trò trường Kinh Thánh Đà Nẵng năm học 1930-1931

Hình ảnh lớp học Kinh Thánh tại Đà Nẵng năm 1930-1931

Thanh Long

Mục sư Hoàng Trọng Thừa - vị Hội trưởng đầu tiên của Hội thánh Tin lành Việt NamXuất thân từ một gia đình Nho giáo, mục sư tìm hiểu đạo Tin lành qua việc đọc Kinh thánh và sau đó ông tin nhận Chúa. Mục sư Hoàng Trọng Thừa đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam trong giai đoạn đầu, ông cũng làm
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam
GTS: Đạo Cao đài - Hai khía cạnh Lịch sử và Tôn giáo
Di sản văn hóa Chăm
Triết học tôn giáo
Lý giải tôn giáo
Một số tôn giáo ở Việt Nam
Tôn giáo với đời sống chính trị - xã hội ở một số nước trên thế giới
Giáo dục Phật giáo Việt Nam định hướng và phát triển
Một số vấn đề về văn hóa Tôn giáo và tư vấn bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo trong giai đoạn hiện nay
Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam
Video
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ tại Đại lễ Phật đản Phật lịch 2564, Dương lịch 2020
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Hình ảnh
Hai ngôi chùa lập kỷ lục ở Bình Dương
Nhiều hoạt động chăm lo tại ngày hội Thanh niên các dân tộc, tôn giáo
Bảo tàng không gian văn hóa Mường - nơi lưu giữ bản sắc dân tộc Mường
Audio
TS. Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về Công tác chấn chỉnh các hoạt động lệch chuẩn tôn giáo tại các cơ sở thờ tự của Phật giáo
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn