Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 19/09/2019 01:38 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Khái lược về Phật giáo ở Trung Quốc

Phật giáo Trung Quốc bắt nguồn từ Ấn Độ cổ, phân ra làm ba hệ là: hệ Phật giáo Hán ngữ, hệ Phật giáo Tạng ngữ và hệ Phật giáo Ba li ngữ. Hiện nay, tại Trung Quốc có hơn 13.000 ngôi tự viện và khoảng 200.000 tăng ni.

Trong đó, hệ phái Phật giáo Hán ngữ có khoảng 70.000 tăng ni, hơn 8.500 cơ sở thờ tự, Phật giáo hệ phái Tạng ngữ có 120.000 tăng ni, hơn 3.000 ngôi tự viện. Hệ Phật giáo Ba li có khoảng 10.000 vị, hơn 1.600 ngôi tự viện.

1. Hệ Phật giáo Hán ngữ

Thời gian cụ thể Phật giáo truyền vào Trung Quốc rất khó có thể xác định một cách cụ thể. Theo sách Sử ký, năm 64 sau Công nguyên Hán Minh Đế phái sứ giả đến Tây Vực (Ấn Độ) để thỉnh giáo Phật pháp. Sau ba năm sứ giả cùng hai vị cao tăng Ấn Độ trở về thành Lạc Dương đem theo kinh sách và tượng Phật. Hán Minh Đế đích thân cho xây dựng chùa Bạch Mã gần thành Lạc Dương, vời các vị cao tăng đến ở đó và bắt đầu dịch kinh Phật. Chùa Bạch Mã là ngôi tự viện đầu tiên của Trung Quốc và hiện vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Thời kì đầu khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, người ta chỉ coi đó như một loại phương thuật thần tiên. Phật Tổ được coi là một vị tiên và chỉ có thiểu số nhân sĩ tầng lớp trên tín phục. Lúc này số lượng tự viện cũng rất ít, đều là nơi các vị tăng ngoại lai cư trú. Triều đình nghiêm cấm người Hán xuất gia, hoạt động chủ yếu của Phật giáo là phiên dịch kinh tạng. Từ thế kỉ thứ III đến thế kỉ thứ VI, là khoảng thời gian đất nước Trung Quốc rơi vào cảnh chia cắt, xã hội loạn lạc, đời sống dân chúng lầm than. Việc đó đã kéo người dân hướng đến xu thế tìm kiếm một niềm tin, chỗ dựa tinh thần để nương tựa. Bấy giờ, tư tưởng tôn sùng huyền học hư vô đang thịnh hành trong tầng lớp nhân sĩ đại phu và những triết lý của Phật gíáo có những điểm tương đồng với tư tưởng đó có cơ hội phát triển. Một số vị tăng tiếp thu tư tưởng huyền học, bắt đầu truyền bá Phật học làm cho ảnh hưởng của Phật giáo ngày thêm lớn mạnh, tín đồ trong các giai tầng xã hội ngày một tăng lên. Trong giai đoạn đó các vị tăng người Hán cũng bắt đầu tìm đến Tây Vực để học Phật pháp.

Thời kì Nam Bắc triều (420-589), công việc dịch kinh tạng Phật giáo đã có được những tiến triển vượt bậc. Học thuyết của các phái Phật giáo Ấn Độ đều được nghiên cứu, tìm hiểu, lúc này phật giáo Trung Quốc đă bắt đầu xuất hiện nhiều khuynh hướng, đạo Phật xâm nhập vào mọi giai tầng trong xă hội, hoàng đế, quý tộc, tầng lớp bình dân đều cung tiến xây dựng chùa chiền, đúc tượng Phật. Số lượng tăng ni xuất gia tăng lên. Tự viện cũng có kinh tế độc lập với quy mô tương ứng. Ba hang đá lớn nổi tiếng Trung Quốc, ngoài hang đá Tuân Hoàng được bắt đầu kiến tạo từ giữa thế kỷ IV, hang đá Vân Phong và Long Môn đều bắt đầu được tạo dựng vào thời điểm này. Hiện nay các hang đá này đều được tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc đưa vào ''Di sản văn hóa thế giới''.

Để giữ vững vị thế của mình, Phật giáo chú trọng hấp thu tư tưởng Nho gia. Đó là thông suốt xuất thế và nhập thế, Phật pháp và vương pháp, giới luật và luân lý. Đến đời nhà Tùy (581-618), nhà Đường (618-907) Phật giáo bước vào giai đoạn cực thịnh. Kết hợp giữa địa tự nhiên và văn hóa truyền thống Trung Quốc, đại đa số tầng lớp thống trị thời Tùy, Đường đều duy trì lợi ích của Phật giáo. Các giai tầng trong xã hội cũng coi Phật giáo là một bộ phận của văn hóa bản địa. Vào giai đoạn này, việc dịch kinh cơ bản do quốc gia chủ trì. Hàng loạt đại đức, tôn sư, học giả Phật giáo nổi tiếng xuất hiện. Một số vị cao tăng còn vượt xa bên ngoài lãnh thổ để truyền bá Phật pháp. Thời điểm này Phật giáo Trung Quốc còn được truyền đến bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản... Tại các nước này cũng có nhiều tăng nhân tìm đến Trung Quốc học Phật pháp, sau đó quay về nước sáng lập các tông phái Phật giáo. Điểm nổi bật trong giai đoạn Tùy, Đường là đã hình thành các tông phái Phật giáo Trung Quốc. Đây là tiêu chí quan trọng để “Trung Quốc hóa” hoàn toàn Phật giáo. Trong nhiều tông phái thì Tịnh độ tông và Thiền tông là những tông phái chủ yếu và có sức lưu truyền rộng rãi nhất tại Trung Quốc cho đến tận ngày nay.

Tịnh độ tông tuyên xưng chỉ cần tin tưởng vào lực lượng thần thông A Di Đà Phật, thường xuyên tụng niệm ''Nam mô A Di Đà Phật'', sau khi chết đi thì có thể đến được thế giới Tây phương cực lạc. Do không cần lý luận sâu sắc khó hiểu và phương pháp luận chứng phức tạp, giáo nghĩa, nghi thức đều đơn giản, dễ thực hiện cho nên phái Tịnh độ tông được truyền bá rộng rãi và rất phổ biến trong dân chúng.

Phái Thiền tông chủ trương không lập văn tự, không cần tụng kinh cũng không cần tiến hành nghi lễ tôn giáo phức tạp, chỉ cần tin tưởng vào Phật tính vốn có của bản thân và trải qua thể nghiệm tôn giáo cố định. Một khi đã mở rộng giác ngộ là có thể thành Phật. Chính vì loại bỏ luận chứng lý luận phức tạp, hình thức kinh viện và phương pháp tư duy biện luận nên Thiền tông thu hút được tầng lớp nhân sĩ đại phu trong xã hội.

Sau đời Đường, các tông phái trong nội bộ Phật giáo cùng nhau hợp lưu đồng thời thấm nhuần tư tưởng Nho học chính thống của xã hội Trung Quốc cổ đại, hấp thu các phương pháp tư duy của cả hai tông phái đã hình thành nội hàm ''thần học''. Trên thực tế là bắt đầu “Nho giáo hóa” Phật giáo. Tam giáo Nho, Phật, Đạo cùng tiến thêm một bước bổ sung và dung hòa cho nhau với xu thế ''tam giáo hợp nhất''. Trong khoảng thời gian hơn một nghìn năm từ cuối đời Đường đến đời Thanh (1644-1911) sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc cơ bản vẫn duy trì theo truyền thống cũ. Vào một giai đoạn nhất định, địa phương nhất định, tông phái nhất định, Phật giáo khá hưng thịnh song nhìn chung là dần dần ngày một suy yếu. Tuy nhiên, vào thời kỳ xã hội Trung Quốc cuối đời Thanh, tinh thần Phật giáo được nhiều văn nhân, học giả tuyên truyền, nghiên cứu với một xu thế sôi động đặc biệt. Họ viết sách, thuyết giáo, nơi nơi thành lập viện nghiên cứu, hội nghiên cứu Phật giáo. Trong khoảng thời gian ngắn, Phật giáo được chấn hưng. Cho đến nay, tại Trung Quốc, Phật giáo vẫn là tôn giáo có mức độ ảnh hưởng rộng rãi.

2. Hệ Phật giáo Tạng ngữ

Hệ Phật giáo Tạng ngữ còn gọi là hệ Phật giáo Tạng truyền. Thế kỷ thứ VII, Phật giáo bắt đầu du nhập vào vùng Tây Tạng. Thế Tổ nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt Phong Bát Tư Ba (1235-1280) sáng lập phái Cách Lỗ dần dần trở thành tông phái chủ yếu của Phật giáo Tạng truyền. Do tăng nhân phái này thường đội mũ tăng màu vàng nên còn gọi là Hoàng giáo.

Tín đồ của Phật giáo Tạng ngữ chủ yếu là người dân tộc Tạng và Mông Cổ, ngoài ra còn có người Dụ Cố, Môn Ba, Thổ... Trong đó vùng đất Tây Tạng là nơi tập trung nhiều tín đồ nhất. Tại đa số gia đình các tín đồ đều có khám thờ Phật, một số nhà còn có Kinh đường riêng. Hoạt động Phật giáo thường gặp là đốt hương bái Phật, chuyển kinh, làm lễ tại thánh địa. Vào những ngày quan trọng như kết hôn hay lễ tết một số gia đình còn mời các vị sư (Lạt ma) tới nhà tiến hành nghi thức Phật giáo.

Hệ phật giáo Tạng ngữ thực hiện chế độ Phật sống truyền thế, địa vị của Phật sống cao hơn hẳn tăng ni bình thường. Nhưng cũng có danh phận lớn nhỏ khác nhau, trong đó địa vị cao nhất, có ảnh hưởng lớn nhất là Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni. Một số Tiểu Phật sống xuất thân từ tự viện của mình và được đãi ngộ không khác so với các tăng nhân khác.

Phật sống truyền thế giải quyết vấn đề kế tục lãnh đạo tự viện Phật giáo Tạng truyền. Thông thường vị Phật sống đời trước để lại di ngôn dự báo linh đồng truyền thế sẽ xuất hiện tại địa điểm nào đó và có các dấu hiệu đặc biệt. Nếu như không có di ngôn, tăng nhân của tự miếu sẽ thông qua phương pháp bói toán, giáng thần để có được gợi ý lựa chọn Phật sống.

3.Hệ Phật giáo Ba Li ngữ

Hệ Phật giáo Ba Li ngữ hay còn gọi là Phật giáo Nam truyền Thượng tọa bộ, gọi tắt là Phật giáo Nam truyền. Dựa trên nguyên tắc chỉ tin bái vào giáo chủ Thích Ca Mâu Ni không thừa nhận tồn tại Bồ tát và các vị Phật khác. Do đó trong tự viện chỉ thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Vào khoảng thế kỷ VII, Phật giáo Nam truyền du nhập vào vùng Vân Nam, Trung Quốc dần dần lan đến nhiều vùng đất của người Thái như Tây Song Bản Na, Đức Hoành, Tư Mao, Bảo Sơn... Và một số dân tộc thiểu số Bố Lan, A Xương... Trong đó dân tộc Thái vẫn là những tín đồ chủ yếu tại Tây Song Bản Na và các địa danh có người dân tộc Thái sinh sống, thường thì mỗi thôn đều xây dựng tự tháp. Theo phong tục truyền thống của người Thái, nam tiểu đồng khi 7 đến 8 tuổi phải xuất gia ở tại chùa để học giáo nghĩa, giáo quy và tri thức văn hóa, chỉ có như vậy đứa trẻ đó mới được coi là có giáo hoá. Sau khi trải qua một khoảng thời gian, ngắn là vài tháng, dài là vài năm, đại đa số đều hoàn tục, chỉ có một số tiếp tục nghiệp tu hành. Tuy nhiên, khi xã hội phát triển những quy định này cũng có sự thay đổi cho phù hợp, nam thiếu niên có thể không nhất thiết phải xuất gia.

Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc là tổ chức giáo vụ và đoàn thể ái quốc liên hợp giáo đồ Phật giáo các dân tộc toàn quốc được thành lập vào năm 1953. Cơ cấu quyền lực tối cao của Phật giáo Trung Quốc là Hội nghị đại biểu toàn quốc 5 năm tổ chức một lần.

Nhiệm vụ chủ yếu của Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc là căn cứ vào quy định của Hiến pháp, pháp luật và chính sách của nhà nước để duy trì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tín đồ Phật giáo và đoàn thể Phật giáo. Bảo đảm quyền nghĩa vụ hợp pháp, giáo dục văn hóa Phật giáo và sự nghiệp tu dưỡng Phật giáo... Thực hiện chỉ đạo và kiểm tra giám sát, làm công tác từ thiện, hoạt động xã hội, triển khai nghiên cứu học thuật văn hóa Phật giáo, bảo vệ di tích văn vật Phật giáo, hợp tác quốc tế, thúc đẩy giao lưu văn hóa Phật giáo ở trong và ngoài nước. Về giáo dục hiện nay hệ thống giáo dục Phật giáo phân ra làm ba cấp sơ, trung, cao. Phật giáo của cả ba hệ ngữ đều có Học viện Phật giáo của mình./.

 

Hải Bằng - Phúc Nguyên

Lược dịch từ cuốn ''Tôn giáo trung Quốc''. Nhà Xuất bản Truyền thông Ngũ Châu ấn hành.

Khái lược về Phật giáo ở Trung QuốcTrong đó, hệ phái Phật giáo Hán ngữ có khoảng 70.000 tăng ni, hơn 8.500 cơ sở thờ tự, Phật giáo hệ phái Tạng ngữ có 120.000 tăng ni, hơn 3.000 ngôi tự viện. Hệ Phật giáo Ba li có khoảng 10.000 vị, hơn 1.600 ngôi tự viện. 1. Hệ Phật giáo Hán ngữ
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Lịch sử hình thành và phát triển đạo Công giáo ở Trung Quốc
Phong trào đoàn kết, liên tôn giáo ở Hàn Quốc
Nguồn gốc sự xung đột giữa người Palestine và người Israel
Vài nét về chuyến tông du thứ ba tới nước Đức của Giáo hoàng Benedicto XVI
Một số vấn đề của Islam giáo trong đời sống xã hội hiện đại
Báo L’Osservatore Romano của Tòa thánh Vatian tròn 150 tuổi
Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Liên bang Nga
Vài nét về Hồi giáo ở Hàn Quốc
Vài nét về Hồi giáo ở Thái Lan
Quan hệ giữa Tòa thánh Vatican với Liên bang Nga: lịch sử và hiện tại
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn