Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/09/2019 02:04 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Luật pháp thế giới và luật pháp Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo

       Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền nhân thân cơ bản của con người. Điều này được thể hiện rõ trong Công ước quốc tế cũng như Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta.

           Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 16/12/1966 (Việt Nam tham gia ngày 24/9/1982), trong đó Điều 18 ghi rõ:

            1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ tín ngưỡng, tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo.

            2. Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hoặc tín ngưỡng.

            3. Quyền tự do bày tỏ tôn giáo, tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức của công chúng hoặc những quyền tự do cơ bản của người khác.

           Ngày 05/3/1993, Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc ra Nghị quyết số 25 về “thực hiện tuyên ngôn về việc loại trừ các hình thức bất khoan dung và kỳ thị vì lý do tôn giáo hoặc xác tín”, trong đó Điều 3 có ghi: “Khẩn thiết yêu cầu các nước đảm bảo quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tôn giáo và tự do xác tín một cách thích hợp bằng những quy định trong Hiến pháp và luật pháp, kể cả bằng dự kiến những biện pháp dự phòng hữu hiệu nhằm tránh xảy ra bất khoan dung, kỳ thị vì lý do tôn giáo hoặc xác tín” và Điều 5: “Khẩn thiết yêu cầu tất cả các nước sử dụng mọi biện pháp thích hợp đấu tranh chống sự thù hận, sự bất khoan dung và các hành vi bạo lực, kể cả các hành vi có động cơ tôn giáo cực đoan, để cổ vũ sự thông cảm, khoan dung và sự tôn trọng trong các lĩnh vực tôn giáo hoặc xác tín”. 

          Để vận dụng công pháp quốc tế cho phù hợp với đặc điểm của mỗi nước, các nước trên thế giới đều có những quy định pháp lý về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 9, phần I “Công ước châu Âu ngày 04/11/1950 về sự bảo vệ các quyền của con người và các quyền tự do căn bản” cũng khẳng định rằng: mọi người có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo... Sự tự do biểu lộ tôn giáo hoặc xác tín của mỗi cá nhân không thể làm đối tượng cho những hạn chế nào khác ngoài những hạn chế do luật pháp dự kiến, vốn là những biện pháp cần thiết trong một xã hội dân chủ, cho an ninh công cộng, cho sự bảo vệ trật tự, sức khoẻ hay đạo đức công cộng hoặc cho sự bảo vệ các quyền và tự do của người khác. Cộng hòa Pháp là một trong những quốc gia ở châu Âu có hệ thống pháp quy đầy đủ và chi tiết nhất về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Điều I Đạo luật ngày 09/12/1905 của Pháp ghi: “Nền Cộng hòa bảo đảm quyền tự do lương tâm, bảo đảm quyền tự do thực hành các việc thờ phụng với những hạn chế duy nhất được ban bố... vì lợi ích trật tự công cộng. Theo Điều 25: “Các cuộc hội họp để cử hành một việc thờ phụng được điều hành trong những trụ sở thuộc một hiệp hội tôn giáo... là công cộng. Chúng được đặt dưới sự giám sát của nhà chức trách vì lợi ích của trật tự công cộng”.

           Ở châu Á, Trung Quốc là một nước có truyền thống tín ngưỡng, văn hóa lâu đời. Nghị định 145 ngày 31/01/1994 quy định: “Các nơi hoạt động tôn giáo phải đăng ký theo thể thức do Cục Tôn giáo Quốc gia ấn định. Các nơi đó không thể do người nước ngoài điều khiển. Các nơi thờ tự không được nhận tiền bạc của các tổ chức và cá nhân từ nước ngoài gửi về. Tiền bạc do người nước ngoài tặng hoặc dâng cúng phải được tiếp nhận theo luật pháp quốc gia… Nghị định 144 ngày 31/01/1994 cũng nêu: “Cấm người ngoại quốc không được thành lập các tổ chức tôn giáo và các cơ cấu phụ thuộc tôn giáo… không được hoạt động truyền đạo trong nhân dân trừ phi được phép của chính quyền. Cấm người nước ngoài nhập khẩu vào Trung Quốc các sách, báo và tài liệu tôn giáo. Các tài liệu khác như sách tôn giáo, băng video, cát-sét tôn giáo thì được phép mang theo và chỉ sử dụng riêng cho bản thân”.

           Còn ở Việt Nam, từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 ngay sau khi nước ta giành được độc lập đã nêu rõ: “Mọi công dân có quyền tự do tín ngưỡng”. Sau khi đất nước thống nhất, Hiến pháp năm 1980 đã ghi: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 80). Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 70).

           Có thể khẳng định rằng pháp luật Việt Nam hiện nay hoàn toàn phù hợp với những chuẩn mực quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này. Thực tế cho thấy Việt Nam đặt vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp và luật pháp đạt chuẩn quốc tế ngay từ khi có Hiến pháp đầu tiên và ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Chính điều đó đã đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân phù hợp với Công ước quốc tế và ngang tầm với luật pháp của nhiều nước có nền pháp chế lâu đời. Nhà nước ta không những tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn giúp đỡ nhân dân thực hiện quyền lợi ấy; đồng thời pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật (Sắc lệnh 234/SL).

           Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo hộ cơ sở vật chất như chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, điện, đền, trụ sở của tổ chức tôn giáo, trường lớp tôn giáo; kinh bổn và các đồ dùng thờ cúng của tín ngưỡng, tôn giáo.

           Nhà nước ta vừa nghiêm cấm việc kỳ thị hoặc xúc phạm người có tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời cũng nghiêm cấm việc lợi dụng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lạm dụng tôn giáo để làm trái pháp luật. Nếu những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vi phạm nghiêm trọng pháp luật như gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, đến truyền thống văn hóa dân tộc… có thể bị đình chỉ. Quy định như vậy chính là đảm bảo cho những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được lành mạnh, phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng những nhu cầu chính đáng của quần chúng nhân dân, không bị các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái với thuần phong, mỹ tục làm ảnh hưởng đến đời sống tâm linh, sức khỏe, nhân phẩm, tiền bạc của nhân dân…

           Có thể khẳng định Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh trực tiếp về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo kể từ sau Sắc lệnh 234/SL ngày 14/6/1955 về vấn đề tôn giáo do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành và là bước tiến quan trọng trong việc thực hiện chương trình cải cách pháp luật, cải cách hành chính của Nhà nước ta hiện nay, đánh dấu mốc quan trọng về chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới. Pháp lệnh ra đời cũng thể hiện việc quyết tâm thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX Về công tác tôn giáo. Pháp lệnh này sẽ làm cơ sở cho việc xây dựng Luật tín ngưỡng, tôn giáo sau này.

          Viện dẫn những nội dung nêu trên để mọi công dân trong đó có tín đồ các tôn giáo hiểu được những quy định của pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của công dân vừa phù hợp với luật pháp quốc tế và không khác với luật pháp của các nước về lĩnh vực này.

Đặng Tài Tính

Ban Tôn giáo Chính phủ

Luật pháp thế giới và luật pháp Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáoCông ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 16/12/1966 (Việt Nam tham gia ngày 24/9/1982), trong đó Điều 18 ghi rõ:               1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA SINGAPORE
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA NƯỚC NGA HIỆN NAY
THƯ NGỎ GỬI NHỮNG NGHỊ SĨ MỸ “QUAN TÂM” ĐẾN NHÂN QUYỀN, TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
KHÔNG NGẠC NHIÊN VỀ " BÁO CÁO NHÂN QUYỀN HÀNG NĂM" CỦA MỸ
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn