Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 21/09/2019 01:06 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
TÌM HIỂU TỔ CHỨC GIÁO HỘI VÀ VẤN ĐỀ PHÁP NHÂN TÔN GIÁO

       Hoạt động tôn giáo và công tác quản lý hoạt động tôn giáo trong xã hội hiện đại có một vấn đề mà cả phía cơ quan nhà nước cũng như phía tổ chức tôn giáo đều quan tâm, đó là vấn đề tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo. Tuy nhiên, nghiên cứu về tổ chức giáo hội và vấn đề tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo ở nước ta vẫn còn là vấn đề mới. Chúng tôi xin nêu vấn đề để bạn đọc tham khảo.

 

 

I. TỔ CHỨC GIÁO HỘI CỦA CÁC TÔN GIÁO
 
Khi nói đến tôn giáo, chúng ta thường thấy hai khái niệm là Giáo hộiHội thánh. Hiểu một cách vắn tắt, Giáo hội là cơ cấu tổ chức, bộ máy hành chính của tôn giáo  và cũng là cơ quan quyền lực của tôn giáo, trong đó tập trung ở một số người. Nói đến Giáo hội là nói đến pháp nhân về tổ chức và không dừng lại ở mối quan hệ trong đạo mà còn là mối quan hệ xã hội. Hội thánh là nói về phần thiêng liêng, một tập hợp rộng rãi cả chức sắc và tín đồ có mối quan hệ trong đạo, mang tính chất tôn giáo thuần túy. Trên thực tế hai khái niệm này rất gần nhau, thậm chí ở một số tôn giáo, đôi khi được hiểu là một và sử dụng như nhau.
 
Trừ những hình thức tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo dân gian, còn đối với bất cứ một tôn giáo hoàn chỉnh nào đều hình thành cơ cấu tổ chức giáo hội để quản trị tín đồ và lo các công việc: đào tạo chức sắc, hướng dẫn việc tu học cho tín đồ, chức sắc, việc phong chức, bổ nhiệm và điều chuyển chức sắc, việc xây dựng nơi thờ tự, in ấn, xuất bản kinh sách,… Trong lịch sử ra đời và phát triển của các tôn giáo, tổ chức giáo hội thường được hình thành muộn hơn so với việc hình thành giáo lý, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo. Sau khi hình thành những cộng đồng tín đồ - người theo đạo và chức sắc - người có chức vụ hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, tạo gạch nối giữa tín đồ với Đấng Thiêng liêng. Nhu cầu quản trị xuất hiện để hướng dẫn các hoạt động tôn giáo, do đó bộ máy tổ chức ra đời. Tuy nhiên, không phải sau khi ra đời các tôn giáo có ngay bộ máy tổ chức mà được củng cố, hoàn chỉnh theo thời gian. Đạo Kitô ra đời vào đầu công nguyên, phải sau thời gian “sống dưới bóng” của đạo Do Thái, đến thế kỷ II mới hình thành phẩm trật chức sắc và tổ chức giáo hội, tuy nhiên còn đơn giản. Đạo Hồi cũng phát triển, đến khi hình thành chế độ Kha-li-phê mới có thiết chế giáo quyền hoàn chỉnh. Phật giáo dù có khác đôi chút, nhưng các tăng đoàn (Sangha) lúc đầu ra đời giữ mối quan hệ “lục hòa” cũng là bóng dáng của tổ chức giáo hội sơ khai. Ngoài ra cũng có một số tôn giáo ra đời trong xã hội hiện đại thiết lập tổ chức giáo hội ngay từ đầu, điển hình là đạo Cao đài ở Việt Nam.
 
Do những đặc điểm riêng của từng tôn giáo nên mỗi một tôn giáo có cơ cấu tổ chức cũng như quyền lực giáo hội khác nhau. Có tôn giáo tập trung xây dựng tổ chức giáo hội hai cấp: trung ương (toàn đạo) và cấp cơ sở như đạo Tin lành; có tôn giáo lại hình thành thêm những cấp trung gian như đạo Công giáo, đạo Cao đài,… 
 
Có tôn giáo tổ chức giáo hội được thiết lập bao gồm các phẩm trật chức sắc cố định (hàng giáo phẩm) như đạo Công giáo, đạo Cao đài, nhưng cũng có tôn giáo, tổ chức giáo hội lại được xây dựng trên cơ sở bầu cử dân chủ theo nhiệm kỳ mà cả tín đồ cũng tham gia, điển hình như đạo Tin lành. Phạm vi hoạt động của tổ chức tôn giáo cũng khác nhau, có tôn giáo theo quốc gia, có tôn giáo mang tính thế giới. Phật giáo Bắc tông hình thành cơ cấu quyền lực dựa trên các truyền thống sơn môn, tông phái; Phật giáo Nam tông thường hình thành tổ chức giáo hội theo phạm vi quốc gia. Tổ chức giáo hội của đạo Tin lành, Phật giáo thường được hình thành theo hệ phái ở từng quốc gia, thậm chí ở những phạm vi hẹp hơn. Riêng Công giáo hình thành tổ chức giáo hội toàn thế giới (hoàn vũ) mang tính truyền thống: Duy nhất (chỉ có một giáo hội), Công giáo (chung cho tất cả), Thánh thiện (tính thiêng liêng) và Tông truyền (liên tục từ thời tông đồ Phêrô đến nay). Nếu xét về quyền lực của tổ chức giáo hội, mỗi tôn giáo cũng có sự khác nhau. Giáo hội Công giáo là một tổ chức quyền lực chặt chẽ và thống nhất trên toàn thế giới, vì được thiết lập trên các phẩm trật chức sắc có quyền thiêng liêng. Giáo hội Tin lành, Phật giáo theo cơ chế lỏng lẻo, đôi khi mang tính chất của một liên hiệp.
Nói đến Giáo hội là nói đến bộ máy tổ chức hay bộ máy hành chính đạo. Bộ máy hành chính đạo của mỗi tôn giáo có sự khác nhau về cơ cấu, cơ chế quyền lực. Do đó cũng tránh một cách nhìn máy móc về tổ chức giáo hội các tôn giáo. Qua lăng kính của Giáo hội Công giáo, cho thấy chỉ có Công giáo mới có tổ chức giáo hội và giáo quyền, còn Phật giáo không có giáo hội, giáo quyền. Trong một số trường hợp khi nói về tổ chức giáo hội, có người lại chia thành “giáo hội” và “giáo phái” với quan niệm giáo hội là một tổ chức tôn giáo hoàn chỉnh, còn giáo phái là tổ chức tôn giáo nhỏ hơn tách ra từ giáo hội. Theo cách chia này thì giáo hội và giáo phái là hai cấp độ của tôn giáo, giáo hội đứng trên giáo phái, giáo hội lớn hơn giáo phái. Thực ra cách chia này không chính xác, thậm chí còn lẫn lộn khái niệm. Thực tế tôn giáo có bộ máy tổ chức (giáo hội), giáo phái cũng có bộ máy tổ chức (giáo hội) để điều hành công việc chung như nói ở trên.
 
II. TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TỔ CHỨC TÔN GIÁO
Trước hết, khi nói đến tư cách pháp nhân tổ chức tôn giáo là nói đến tư cách về mặt tổ chức, không phải tư cách pháp nhân của tôn giáo. Sẽ không đúng nếu ai đó nói: tới đây chính quyền công nhận tư cách pháp nhân của đạo Tin lành. Nghe vậy sẽ dễ bị hiểu lầm, dẫn đến có người nói lại: đạo Tin lành ra đời và hoạt động trên thế giới gần năm trăm năm, vào Việt Nam cũng gần một trăm năm, không cần phải công nhận tư cách pháp nhân. Mà đề nghị chính quyền công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức của một tổ chức Tin lành cụ thể, chẳng hạn như Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, Hội thánh Tin lành Mennonite,…
 
Từ điển tiếng Việt phổ thông xuất bản năm 2001 định nghĩa pháp nhân là chủ thể độc lập không phải là con người, phân biệt với thể nhân (chủ thể pháp luật là con người); … “Tư cách pháp nhân là tư cách của một đơn vị kinh doanh có tổ chức, có cơ sở giao dịch, tài khoản… đã được pháp luật thừa nhận”. Qua định nghĩa tư cách pháp nhân của một đơn vị kinh tế, chúng ta có thể hiểu tư cách pháp nhân nói chung là địa vị pháp lý của một chủ thể độc lập, hay nói đúng hơn, tư cách pháp nhân là một chủ thể độc lập đã được pháp luật thừa nhận.
 
Theo cách hiểu về tư cách pháp nhân như nói trên, thì tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo là một tổ chức tôn giáo độc lập, đã được pháp luật thừa nhận. Điều đó cũng có nghĩa: khi có tư cách pháp nhân, tổ chức tôn giáo được hoạt động hợp pháp về mặt tổ chức như: tổ chức đại hội, hội nghị, mở trường đào tạo chức sắc, phong chức, điều chuyển chức sắc, in ấn xuất bản kinh sách, xây dựng nơi thờ tự, quan hệ với các tổ chức tôn giáo quốc tế,… Khi có tư cách pháp nhân, tổ chức tôn giáo được duy trì quan hệ trên dưới về mặt tổ chức, có quyền sử dụng tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật… Khi có tư cách pháp nhân tổ chức tôn giáo được duy trì các mối quan hệ dân sự với các tổ chức tôn giáo và tổ chức xã hội khác, tổ chức tôn giáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của tổ chức tôn giáo mình.
 
Điều cần quan tâm là, tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo có điểm khác biệt lớn với tư cách pháp nhân của tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội khác. Nếu tổ chức kinh tế, sau khi được công nhận tư cách pháp nhân mới được triển khai hoạt động ở cơ sở hoặc các chi nhánh, còn đối với tôn giáo, trong khi chưa có tư cách pháp nhân về tổ chức, thì các cơ sở tôn giáo vẫn được thừa nhận và hoạt động bình thường. Do vậy, đối với tổ chức tôn giáo người ta còn sử dụng khái niệm “hoàn chỉnh tư cách pháp nhân”. Lấy ví dụ như đạo Cao đài những năm 1994-2000, nhà nước mới công nhân tư cách pháp nhân về mặt tổ chức, nhưng các họ đạo của các hệ phái Cao đài ở cơ sở vẫn được nhìn nhận hoạt động bình thường; đạo Tin lành ở miền Nam, năm 2001 Nhà nước mới công nhận tư cách pháp nhân Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) và gần đây các tổ chức Tin lành khác mới tiến hành đăng ký để chuẩn bị cho việc công nhận tổ chức, nhưng các chi hội của đạo Tin lành vẫn được thừa nhận và hoạt động bình thường từ năm 1975 đến nay.
 
Việc công nhận tư cách pháp nhân tổ chức tôn giáo thực hiện đầu tiên ở Việt Nam qua việc Phó Thủ tướng Phan Kế Toại ký văn bản công nhận tổ chức Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam năm 1958. Sau ngày giải phóng miền Nam, Chính phủ ta còn ký các văn bản công nhận tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981. Đặc biệt từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, Nhà nước đã ký công nhận tư cách pháp nhân về mặt tổ chức đối với các Hội thánh Cao đài (Hội thánh Cao đài Tiên Thiên - 1995, Hội thánh Minh Chơn đạo Hậu giang - 1996, Hội thánh Chiếu Minh Long Châu - 1996, Hội thánh Truyền giáo Cao đài - 1996, Hội thánh Cao đài Tòa thánh Tây Ninh - 1997, Hội thánh Cao đài Ban Chỉnh đạo - 1997…), Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo - 1998, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) - 2001… Tuy nhiên các lần công nhận nói trên, có trường hợp văn bản nói rõ là công nhận tư cách pháp nhân, nhưng cũng có trường hợp không nói trực tiếp, nhưng ai cũng hiểu, công nhận về mặt tổ chức là công nhận tư cách pháp nhân.
 
Tiếp nối các hình thức quản lý nhà nước đối với tôn giáo nói trên, sau khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004), Nhà nước tiếp tục xem xét công nhận tư cách pháp nhân tổ chức cho các tôn giáo. Khác với trước đây, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 16) quy định rất cụ thể đối với các tổ chức tôn giáo được công nhận về tổ chức phải đảm bảo các tiêu chí như sau:
1. Là tổ chức có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, luật lệ, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc;
2. Có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật;
3. Có đăng ký hoạt động và hoạt động tôn giáo ổn định;
4. Có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp;
5. Có tên gọi không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận.
 
Như vậy, theo Pháp lệnh, trước khi được công nhận tư cách pháp nhân, tổ chức tôn giáo phải đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động ổn định, tức là có hai bước trong quá trình công nhận tư cách pháp nhân tổ chức tôn giáo: bước một, đăng ký hoạt động về tổ chức, bước hai, công nhận về tổ chức. Sau này Nghị định số 22 của Chính phủ (2005) hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh đã giới hạn thời gian từ khi đăng ký hoạt động về tổ chức cho đến khi xem xét công nhận về tổ chức 20 năm. Tuy nhiên, đối với tổ chức tôn giáo hoạt động liên tục bình thường và ổn định từ trước năm 1975 thì sau một năm đăng ký sẽ được xem xét công nhận tổ chức, nếu hoạt động gián đoạn thì phải cộng đủ 20 năm mới được xem xét công nhận tổ chức (Điều 8- Nghị định số 22). Điều 7- Nghị định số 22 cũng quy định đối với tổ chức tôn giáo sau khi được chính quyền chấp nhận đăng ký tổ chức tôn giáo, được tiến hành các hoạt động tôn giáo như sau:
1. Tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, thực hiện lễ nghi, truyền đạo, giảng đạo tại cơ sở tôn giáo đã đăng ký;
2. Bầu cử, suy cử những người lãnh đạo tổ chức, mở lớp bồi dưỡng giáo lý;
3. Sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công trình thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo;
4. Hoạt động từ thiện nhân đạo.
 
Đến năm 2004, khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ban hành, Nhà nước đã công nhận 16 tổ chức tôn giáo, bao gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), 10 tổ chức Cao đài, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, Ban Đại diện Cộng đồng Hồi Giáo TP.Hồ Chí Minh. Từ khi thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đến nay (năm 2010), Nhà nước đã cấp đăng ký hoạt động về tổ chức cho 16 tổ chức tôn giáo như: Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, Hội thánh Báptít (Ân điển Nam phương), Hội thánh Báptít Việt Nam (Nam phương), Hội thánh Tin lành Mennonite Việt Nam, Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam, Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam, Tịnh độ cư sỹ Phật hội Việt Nam, đạo Baha’i, đạo Bửu sơn Kỳ hương, đạo Tứ ân Hiếu nghĩa, Giáo hội Phật đường Nam tông Minh sư đạo, Minh lý đạo - Tam tông miếu… 
 
Thời gian vừa qua, khi Nhà nước xem xét công nhận tư cách pháp nhân cho một số tổ chức tôn giáo, cũng nẩy sinh tâm lý băn khoăn: Nhà nước công nhận nhiều tổ chức tôn giáo sẽ bị “loãng” không quản lý được, hoặc có sự so sánh giữa những tôn giáo có đông tín đồ, chức sắc, phạm vi hoạt động rộng với các tổ chức tôn giáo hoạt động trong phạm vi hẹp, tín đồ chức sắc ít hơn. Một khía cạnh nào đó, có thể chia sẻ với những tâm lý này. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng quản lý tôn giáo cũng như quản lý xã hội không chỉ dựa vào quy mô và phạm vi để có hình thức công nhận tư cách pháp nhân, mà còn dựa vào thực lực và phạm vi hoạt động của đối tượng quản lý để phân cấp quản lý. Một vài ví dụ trong tồn tại của xã hội và tự nhiên để tham khảo góp phần giải tỏa tâm lý này. Có ngôi nhà số 34, rộng 500m2, cao 15 tầng về mặt quản lý không khác một ngôi nhà bên cạnh số 36, rộng 50 m2,cao hai tầng vì đây là hai đơn nguyên độc lập, đều chịu sự quản lý như nhau. Trong sản xuất kinh doanh với hàng trăm công ty lớn, nhỏ, có công ty hàng ngàn công nhân, có công ty chỉ vài trăm, thậm chí vài chục công nhân, nhưng đều chịu sự quản lý của pháp luật. Ở một dãy núi có quả núi to, quả núi vừa, quả núi nhỏ, nhưng tất cả đều tồn tại với tư cách là những đơn nguyên độc lập trước tự nhiên./.
 
Nguyễn Cao Thanh

 

TÌM HIỂU TỔ CHỨC GIÁO HỘI VÀ VẤN ĐỀ PHÁP NHÂN TÔN GIÁOI. TỔ CHỨC GIÁO HỘI CỦA CÁC TÔN GIÁO   Khi nói đến tôn giáo, chúng ta thường thấy hai khái niệm là Giáo hội và Hội thánh . Hiểu một cách vắn tắt, Giáo hội là cơ cấu tổ chức, bộ máy hành chính của tôn giáo  và cũng là cơ quan quyền lực của tôn giáo, trong
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn