Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 26/03/2019 07:25 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 1+2/2019
“Tượng thờ Hindu giáo: Từ đền tháp Chăm đến chùa miếu Việt”
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 12/2018
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 11/2018
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Huyền Trân Công chúa

Trần Huyền Trân Công chúa (1287 – 1340) ( Huyền Trân Công chúa) con gái út của Đức vua Trần Nhân Tông và Hoàng hậu Khâm Từ [1]. Trần Nhân Tông là bậc minh quân đã hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan đế quốc Nguyên Mông, đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.

Thắng giặc, Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông rồi làm Thái thượng hoàng để giúp con vững chãi trên ngai vàng, sau đó Ngài xuất gia tu hành theo Phật giáo ở núi Yên Tử, mong tìm pháp tu theo Phật giáo phù hợp với căn cơ người Việt, để người người có đạo, qua triết lý đạo Phật, giáo hóa dân chúng, đoàn kết nhân tâm, vun bồi trí đức mà cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước. Trần Nhân Tông đã tìm ra phương pháp tu  phù hợp với căn cơ người Việt, đó là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử riêng có ở Việt Nam còn tồn tại tới ngày nay. Ơn công hạnh to lớn của Ngài với đời, với đạo, Ngài được nhân dân tôn vinh là Vua đời Vua đạo (Phật hoàng Trần Nhân Tông).  Khâm Từ Hoàng hậu là người hết mực nhân từ, đức độ, Hoàng hậu là con gái của Đức Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn bậc khanh tướng lẫy lừng của triều Trần, được nhân dân tôn là Đức Thánh Trần. Vốn con nhà dòng dõi trâm anh, Huyền Trân Công chúa là người mang đủ tố chất trác việt của cha, mẹ và nhờ được làm học trò của Văn Túc vương Đạo Tái, một trong những văn sĩ giỏi nhất thời bấy giờ nên trí, đức, dung nhan của Công chúa luôn là niềm tự hào của cả Hoàng tộc [2].

 Năm 1301, Huyền Trân 14 tuổi, Thượng hoàng Trần Nhân Tông lúc đó đã là người xuất gia tu Phật theo hạnh đầu đà, Ngài chống gậy trúc đi khắp nơi để khuyên dân học Phật, từ bỏ mê tín. Trên đường du hóa, Ngài tới đất Chiêm Thành, với mong muốn kết tình hòa hiếu giữa hai dân tộc Việt- Chăm để cùng nhau chống giặc Nguyên Mông ở phương Bắc, là kẻ thù chung của cả hai dân tộc. Gặp Quốc vương Chiêm thành là Harijit, nghĩa là sư tử chiến thắng (người Đại Việt gọi tên là Chế Mân), Trần Nhân Tông rất có cảm tình với vị vua trẻ thông minh, dũng cảm cũng đã từng trực tiếp lãnh đạo quân dân Chiêm Thành đánh đuổi đội quân Nguyên Mông do Toa Đô cầm đầu [3]. Quý trọng vị sư Đại Việt cũng đã từng là bậc minh quân xuất chúng hai lần đánh tan đế quốc Nguyên Mông, nay lại mang tâm hòa hiếu đi đoàn kết lân bang, Chế Mân đã mời Trần Nhân Tông làm thượng khách ở Chiêm Thành trong 9 tháng, để tìm hiểu phong tục tập quán và chia sẻ Phật pháp với các vị sư Chiêm Thành. Trước khi về nước Trần Nhân Tông đã hứa gả con gái cho Chế Mân với mong muốn kết giao hai nước cùng nhau đoàn kết chống giặc ngoại xâm, hôn sự sẽ được tiến hành khi Huyền Trân tròn 18 tuổi ( có nghĩa là 4 năm sau).

Năm 1305, Huyền Trân 18 tuổi, Chế Mân cho sứ giả mang sính lễ và địa đồ, dân số hai châu Ô, Rí sang cầu hôn Huyền Trân. Trong triều lúc bấy giờ có hai luồng ý kiến khác nhau: phía phản đối đứng đầu là quan Tham tri Chính sự Đoàn Nhữ Hài cho rằng cuộc hôn nhân như thế là không môn đăng hậu đối, công chúa nước lớn không thể làm vợ lẽ của vua nước nhỏ, nhất là Huyền Trân có vị thế rất lớn trong Hoàng tộc triều Trần; Phía đồng thuận đứng đầu là Văn Túc vương Đạo Tái và Thượng thư Tả bộc xa Trần Khắc Chung, cho rằng đây là cơ duyên ít có để kết tình hòa hiếu hai nước, là cơ hội để hóa giải những vướng mắc do các cuộc chiến chinh giữa hai dân tộc từ trước đã để lại, là thời cơ để vô hiệu hóa sự kích động, chia rẽ nhằm thôn tính các dân tộc phương Nam của Nguyên Mông và cũng là điều tốt khi đất đai được mở rộng [4]. Đôi bên trao đổi khó phân vì lý của bên nào cũng đúng, ruốt cuộc Vua Trần Anh Tông quyết định theo lời đã nói của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Lễ rước dâu sẽ được thực hiện vào năm sau (1306).  Trong thời gian gần một năm, Huyền Trân đã học tiếng, học chữ viết và phong tục tập quán của người Chăm. Với thiên bẩm thông minh, trong thời gian ngắn Huyền Trân đã thông thạo ngôn ngữ, nắm vững phong tục Chăm và quy tắc ứng xử của Hoàng cung Chiêm Thành.

Năm 1306, Huyền Trân về Chiêm Thành, được Chế Mân phong là Vương hậu. Chế Mân và nhân dân Chiêm Thành yêu quý Vương hậu Huyền Trân bởi sự đoan trang, tính tình đôn hậu và sự cảm thông chia sẽ của Vương hậu với mọi người. Mối nhân duyên của Huyền Trân với Chế Mân đã tạo nên tình giao hảo tốt đẹp giữa hai nước nhưng đẹp hơn là hình ảnh Vương hậu người con gái nước Đại Việt nhân từ thương quý gần gũi mọi người. Tiếc thay, chưa tròn một năm làm Vương hậu, trong khi còn mang thai chưa tới kỳ sinh nở, Chế Mân do bạo bệnh đã băng hà. Cái chết của Chế Mân là một uẩn khúc về sự phân hóa trong vương triều Chiêm Thành lúc bấy giờ. Theo phong tục Chiêm Thành ,Vua băng hà các Vương hậu và một số cung phi phải chết theo, nhưng Huyền Trân vì còn mang thai con Vua mà được trì hoản tới sau khi sinh con [5].

Đầu năm 1307, Huyền Trân sinh con trai, theo ý kiến của Chế Mân khi còn sống, đặt tên con là Thế tử Dayada (có nghĩa là con trai, là hậu duệ, là người nối dõi).  Sau khi Chế Mân chết, vua Chiêm Thành nối ngôi là Harijitputra (người Đại Việt gọi là Chế Chí con trai trưởng của Chế Mân) cho sứ giả sang Đại Việt báo tin mừng lên Hoàng đế Đại Việt đã có cháu và đồng thời báo tang Chế Mân. Được tin, vua Trần Anh Tông và triều đình nghị luận, thấy rõ cái chết của Chế Mân đã làm thay đổi cục diện trong mối quan hệ Việt-Chăm. Trước bối cảnh ấy vua phái quan Thượng thư Tả bộc xa Trần Khắc Chung một danh tướng, một nhà ngoại giao lão luyện đã từng đi sứ Bắc quốc, cùng bốn vị đại sư và đoàn tùy tòng tới Chiêm Thành viếng tang và cầu siêu cho Chế Mân theo phong tục nước Đại Việt, tháng 11 năm 1307 đoàn tới kinh đô Chiêm Thành [6].

Đoàn sứ bộ Đại Việt tới Chiêm Thành, trong lễ gọi hồn, cầu siêu cho Chế Mân ngoài biển có Huyền Trân và các tì nữ cùng theo, nhưng Thế tử con trai của Huyền Trân còn nhỏ nên phải ở lại trên bờ. Trên biển, Trần Khắc Chung đã lập mưu đưa Huyền Trân lên thuyền nhỏ, có người khỏe, thạo sóng nước để chạy về hướng Bắc, sau lên thuyền lớn để đi. Huyền Trân được cứu sống để đưa về nước nhưng phải để lại đứa con bé bỏng là kết quả của tình yêu thương với bậc Quân vương vắn số. Huyền Trân không khỏi ngậm ngùi, phải chăng đây là duyên, phận của một kiếp hồng nhan. Đau khổ hơn là sự ra đi không từ biệt của Huyền Trân và phái đoàn sứ bộ dường như đi ngược lại với tâm nguyện của Thượng hoàng Trần Nhân Tông vì bao công sức của Ngài nhằm kết tình hòa hiếu hai nước, vì chuyện này mà lại rạn nứt. Thoát chết nhưng trong tâm Huyền Trân như có cả trăm mối tơ vò, phải xa đứa con bé bỏng, ray rứt về tình cảm của những người Chăm nơi xứ sở của người chồng mà Huyền Trân rất yêu quý. Ai  hiểu tấc lòng Huyền Trân với chí nguyện mang hết tình yêu thương vì hòa hiếu hai nước.

Thuyền chở Huyền Trân và đoàn sứ bộ đã qua vùng biển Chiêm Thành nguy hiểm nhưng không may đoàn gặp bão biển, thuyền hỏng khá nặng phải cho vào bờ lánh bão và sửa thuyền, dù ở vùng biển thuộc đất Đại Việt nhưng xưa thuộc châu Ô, Rí. Trong lúc lánh nạn, sửa thuyền, đoàn phải đóng giả làm thương nhân để tránh lộ tung tích, sợ quân Chiêm Thành đuổi theo. Mặt khác vì không đưa được Thế tử con Huyền Trân về nước nên Trần Khắc Chung cho người Chăm thân tín tiếp tục trở lại tìm cơ hội đưa Thế tử cùng về [7]. Sau nửa năm với nhiều nhóm được phái đi nhưng biệt vô âm tín, biết là chuyện không thành, đoàn đành phải  hành trình về Thăng Long.

Tháng 8 năm 1308, đoàn  sứ bộ đưa Huyền Trân về tới Thăng Long, sau đó không lâu Huyền Trân  lên Yên Tử gặp Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Tại Yên Tử, Trần Nhân Tông đã an ủi con gái: duyên sự âu cũng do nghiệp quả phải qua của hai dân tộc và của mỗi con người, luật nhân quả còn cao hơn nhân định [8]. Và để vãn hồi  sự việc đã qua, Trần Nhân Tông cho người nói với vua Trần Anh Tông đưa hơn ba trăm tù binh Chiêm Thành  về nước để gắn bớt sự rạn nứt do đoàn sứ bộ tạo nên [9]. Thượng Hoàng khuyên Huyền Trân xuất gia làm ni sư để xả bỏ nỗi niềm nhưng cũng là mang tâm đức để giúp đời, giúp cho tình giao hảo giữ hai nước và tạo phúc cho thế tử Dayada khi đã không còn cha và xa mẹ .

Huyền Trân xuất gia để phát túc siêu phương, Quốc sư Bảo Sát là người xuống tóc quy y cho Huyền Trân tại chùa Vũ Ninh, đặt pháp danh Hương Tràng. Sau một thời gian ngắn được học với thầy ở chùa Vũ Ninh, năm 1311, Ni sư Hương Tràng  về tu tại chùa Hổ sơn (Nộn sơn) thuộc Thiên Bản (xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định hiện nay). Từ đây trong đời sống tu hành ni sư Hương Tràng được nhân dân kính trọng vì đức hiếu sinh, vì thiện tâm luôn giúp đỡ dân nghèo, mang tâm sức dạy cho trẻ thơ biết chữ để làm người có ích. Việc làm của vị ni sư giúp dân, giúp nước đã được nhân dân ca tụng như là tấm gương sáng về đạo đức nhân sinh.

Năm 1340 (bắt đầu thời kỳ suy vi của nhà Trần) ni sư Hương Tràng viên tịch. Tri ân công hạnh của Huyền Trân với dân với nước, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ  Huyền Trân Công chúa, tại Hổ sơn, nơi Huyền Trân tu hành, nhân dân lập đền thờ tôn là Thánh mẫu. Sau khi  Công chúa Huyền Trân viên tịch, các triều đại về sau đều sắc phong Công chúa Huyền Trân là Thần hộ Quốc. Nhà Nguyễn ban Chiếu ghi nhận “công đức của Công chúa Huyền Trân trong việc giữ nước giúp dân có nhiều linh ứng”, nâng bậc tăng là “ Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”.

Hữu Tâm

Tài liệu tham khảo:

-[1,2,3,4,5,6,7,8,9,10] Am mây ngủ- Thích Nhất hạnh, 2012

-[11] Huyền Trân, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Huyền Trân Công chúaThắng giặc, Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông rồi làm Thái thượng hoàng để giúp con vững chãi trên ngai vàng, sau đó Ngài xuất gia tu hành theo Phật giáo ở núi Yên Tử, mong tìm pháp tu theo Phật giáo phù hợp với căn cơ người Việt, để người người có
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Giáo hội Công giáo Việt Nam phát huy vai trò giáo dục trong xu thế hội nhập toàn cầu
Sự cần thiết của Bát kỉnh pháp trong Phật giáo
Tết Chol Chnamthmay của người Khmer Nam bộ
Xứng đáng là người đại biểu nhân dân
Kinh Thánh và sự thông minh của người Do Thái
Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân khóa XIV phải thật sự là người tài đức
Thông điệp của Giáo hoàng về khủng bố và nhập cư
Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp: Cơ hội thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Cách tính và những biểu tượng đặc trưng của Ngày Lễ Phục sinh
Giáo lý, giáo luật của Giáo hội Công giáo với vấn đề Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Video
Người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam
Giao lưu văn nghệ nhân kỷ niệm 63 năm Ngày thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ Ngày truyền thống ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo(2/8/1955-2/8/2018)
Hành trình về nguồn đong đầy ý nghĩa
Hình ảnh
Thanh Hóa: Đặc sắc lễ hội Mường Xia
Tìm hiểu Nghi thức Quét Lẩu trong đại lễ Lẩu Then của người Tày xứ Lạng
Những khoảnh khắc màu xanh độc đáo trong lễ hội cổ truyền Ireland tổ chức tại Hà Nội
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương
Ủy ban Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước vận dụng những kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo của Việt Nam


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn