Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 17/09/2019 01:35 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tết Chol Chnamthmay của người Khmer Nam bộ

Cũng như các nước ở khu vực: Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar,… người dân Khmer Nam Bộ thường ăn Tết Chol Chnamthmay (Vào năm mới) trong khoảng thời gian từ 13 đến 17 tháng 4 Dương lịch và gắn với những truyền thuyết gần giống nhau hoặc gắn với nền văn minh lúa nước. Chính vì vậy mà lễ hội truyền thống của những nước này liên quan chặt chẽ đến đời sống sản xuất của cư dân nông nghiệp và Phật giáo hay tín ngưỡng nguyên thủy, thờ cúng những vật thiêng,…

Hằng năm cứ đến trung tuần tháng Tư Dương lịch, người dân Khmer Nam Bộ ở mười ba tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với hơn 1,3 triệu người Khmer sinh sống, nhiều nhất là ở các tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang lại tổ chức Tết Chol Chnamthmay. Theo quan niệm của người dân Khmer, đây là lúc giao thời giữa mùa nắng và mùa mưa. Vào thời kỳ này, cỏ cây trở lại tốt tươi. Chính sự đâm chồi nảy lộc của cỏ cây và sự trỗi dậy của thiên nhiên đã được người dân quan niệm như là sự khởi đầu của một năm mới. Từ thời xa xưa, Chol Chnamthmay đã trở thành ngày lễ hội truyền thống của dân tộc Khmer, gắn chặt với nghi lễ của cư dân nông nghiệp làm lúa nước và một số nghi thức Phật giáo Tiểu thừa, chủ yếu diễn ra tại chùa.

Từ xa xưa, Tết này đã trở thành lễ hội truyền thống của người dân Khmer, xuất phát từ một sự tích, đó là sự đấu trí giữa một cậu bé tên là Thom Ma Bal rất thông minh với thần Ka Bul Ma Ha Prum trên thượng giới. Thom Ma Bal lúc mới 7 tuổi đã biết đem sự hiểu biết của mình truyền bá cho mọi người và được mọi người rất thán phục, thích nghe cậu thuyết giảng. Tiếng đồn về tài trí thông minh của cậu ngày càng lan rộng, vang lên tận thượng giới khiến các vị thiên thần cũng xuống trần gian nghe giảng.

Thần Ka Bul Ma Ha Prum vốn rất có uy thế trên thượng giới. Nay nghe ở trần gian có kẻ hơn mình, lấy làm tức giận và cho gọi hết các thiên thần trở về, cấm không cho nghe thuyết giảng, đồng thời tìm cách hãm hại Thom Ma Bal. Một hôm, cậu đang thuyết giảng thì Thần xuất hiện, phán rằng: Ta nghe đồn nhà người thông minh xuất chúng, nhưng ta chưa tin điều ấy. Nay ta ra cho ngươi ba câu đố, nếu ngươi giải đáp đúng, ta sẽ cắt đầu mình trước mặt ngươi. Còn nếu không giải đáp được thì ngươi phải dâng mạng sống của ngươi cho ta. Không thể từ chối, Thom Ma Bal đành phải chấp nhận. Thần liền đặt ba câu hỏi: Buổi sáng, duyên của con người ở đâu? Buổi trưa, duyên của con người ở đâu? Buổi tối, duyên của con người ở đâu? Thần hẹn 7 ngày sẽ trở lại nghe cậu giải đáp, rồi trở về trời. Cậu suy nghĩ suốt ngày đêm mà vẫn không tìm được lời giải đáp. Đến ngày thứ sáu, cậu đi lang thang từ sáng đến trưa. Quá mệt mỏi và thất vọng, cậu ngồi nghỉ dưới cây thốt nốt. Lúc ấy, trên cây có hai con chim đại bàng đang nói chuyện với nhau. Chim mái hỏi chim trống: Ngày mai, ta sẽ đi ăn ở đâu? Chim trống đáp: Ta sẽ ăn thịt Thom Ma Bal. Chim mái ngạc nhiên hỏi: Tại sao lại ăn thịt Thom Ma Bal? Chim trống liền thuật lại chuyện Thần Ka Bul Ma Ha Prum yêu cầu Thom Ma Bal phải trả lời ba câu hỏi của Thần. Nghe xong, chim mái hỏi: Vậy có ai giải đáp được không? Chim trống liền tự đắc: Thế này nhé, sáng, duyên của con người ở trên mặt nên ngủ dậy người ta phải rửa mặt cho tươi tỉnh. Trưa, duyên của con người ở trên ngực nên người ta phải tắm cho mát. Tối, duyên của con người ở dưới chân nên người ta rửa chân cho sạch trước khi đi ngủ. Ngồi dưới gốc cậy cậu nghe được câu chuyện nên rất vui mừng liền trở về nhà.

Hôm sau đúng hẹn, Thần tay cầm gươm vàng đáp xuống gặp Thom Ma Bal. Theo lời chim trống nói, cậu trả lời ba câu hỏi của Thần trôi chảy. Thần thua cuộc, ngửa mặt lên trời, gọi bảy người con gái yêu xuống trần, rồi bảo: Cha đã thua trí Thom Ma Bal. Theo lời hứa, cha phải chết. Các con hãy cất giữ đầu của cha trong tháp trên đỉnh núi Kaylas, nơi người trần không chạm đến được và hãy cẩn thận, nếu để đầu cha rơi xuống biển, biển sẽ cạn; nếu tung đầu lên không trung thì trời không có mưa và nếu để đầu cha trên mặt đất thì đất sẽ khô cằn, cỏ cây không mọc được. Dặn các con xong, Thần tự cắt cổ, trao đầu mình cho con gái lớn và thân của Thần biến thành một luồng ánh sáng bay vút lên không. Người con gái lớn đặt đầu của cha trên chiếc mâm vàng, cùng sáu người em đem về đặt trong ngôi tháp theo lời cha dặn. Từ đó, hằng năm đúng ngày Thần tự sát, bảy cô gái đến núi Kaylas luân phiên nhau vào tháp làm lễ rước đầu của cha mình, đi quanh núi Pressome ba lần để tưởng nhớ đến cha.

Theo thông lệ hằng năm, sắp đến gần ngày Tết, các phum sóc lại nhộn nhịp không khí đón mừng năm mới. Nhà nhà chuẩn bị mọi thứ để đón mừng Tết như việc ăn mặc, trang trí nhà cửa, sửa sang đường sá, đặc biệt là việc chuẩn bị đón Tết ở các chùa. Chol Chnamthmay có nghĩa là “Vào năm mới”, “Lễ chịu tuổi” và là lễ tết lớn nhất trong năm của người dân Khmer được diễn ra vào giữa tháng Tư (Dương lịch), là lúc giao mùa giữa mùa nắng và mùa mưa ở Nam Bộ. Giai đoạn này trời đất giao hòa, cỏ cây trở nên tươi tốt đầy sức sống. Sự đâm chồi nảy lộc của cỏ cây được người Khmer quan niệm như là sự khởi đầu của một năm mới. Người Khmer chịu ảnh hưởng nhiều từ nền văn hóa Ấn Độ, nên đa số theo Phật giáo Tiểu thừa. Vì thế, người dân ăn Tết cũng khác với một số nước trong vùng Đông Nam Á và thế giới. Người Khmer Nam Bộ chuẩn bị ngày Tết cổ truyền rất trang trọng, nhà cửa được dọn dẹp sạch sẽ, quần áo may mới cho mọi người trong gia đình như Tết Nguyên Đán. Tùy theo điều kiện, việc đón Tết với quy mô khác nhau. Dọc theo các con đường vào phum sóc, vào các ngôi chùa và đến các gia đình đều được dọn dẹp sạch sẽ. Các cổng chùa, người ta trang trí cờ hoa rực rỡ kèm các khẩu hiệu chúc mừng năm mới. Ở mỗi nhà, người dân trang trí và bày bánh các loại, hoa đẹp ở trên bàn thờ Phật và bàn cúng ông bà. Vào dịp Tết này, người dân Khmer thường làm nhiều loại bánh như: num chruk (bánh tét), num team (bánh ít), num knhây (bánh gừng), num trom, num tom be (bánh men),… để mang đi cúng ở chùa, ở nhà và tiếp khách trong những ngày Tết.

Thời gian tiến hành lễ đúng theo tập tục với ba hoặc bốn ngày đêm. Ngày bắt đầu Chol Chnamthmay bao giờ cũng như nhau, dựa vào âm lịch Khmer theo chu kỳ 365 ngày. Đêm đầu tiên (Chol Chnam chăs, tức đêm ngày 12 hoặc 13 tháng 4 dương lịch), mọi người tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo đẹp, đem theo nhang đèn, lễ vật lên chùa. Tại các chùa, người dân tổ chức tụng kinh, rảy nước có hương thơm ở các khu vực cần thiết với ý nghĩa tiễn đưa vị thần cũ và còn có ý nghĩa như xua đuổi tà ma, tẩy sạch những xui xẻo và lỗi lầm của năm cũ. Đây cũng là hình thức làm trong sạch về tinh thần để đón vị thần năm mới một cách trang trọng nhất, bày tỏ sự cung kính đối với ông bà, cha mẹ. Đồng thời mong ước được vị thần mới và tổ tiên phù hộ độ trì cho cuộc sống bình an, khỏe mạnh, làm ăn phát đạt, may mắn.

Ngày thứ nhất, ngày 13 Khe chét (tức ngày 13 tháng tư Dương lịch, nếu năm nhuận thì vào ngày 14) với việc quan trọng là tổ chức rước Mahasoogkran (cuốn Đại nông lịch Khmer). Ngày này được tính theo lịch của người Khmer. Người Khmer do ảnh hưởng của khoa thiên văn truyền thụ từ Ấn Độ, họ tính đầu năm bằng hai cách: Chol tính theo chuyển động của mặt trăng và đánh dấu việc thay đổi bằng biểu tượng của 12 con thú tượng trưng của con giáp trong một kỳ. Chnam tính theo chuyển động của mặt trời. Chol được tính vào tháng 4 dương lịch, còn Chnam thì thay đổi theo trăng tròn hay khuyết. Mỗi năm các vị sư sẽ soạn ra một quyển Đại lịch để tính giờ giao thừa. Lễ rước được tổ chức thành đoàn, dưới sự điều khiển của vị Acha hoặc vị sư cả. Dẫn đầu đoàn rước là người mang mặt nạ chằn, tay cầm gậy múa mở đường, tiếp theo là đội trống Chhayam hoặc dàn nhạc ngũ âm... kế tiếp là vị Acha đội mâm lễ vật lên đầu (lễ vật gồm: quyển Đại lịch, nhang, đèn cầy, hoa...), sau cùng là những người Khmer tay cầm nhang, đèn cầy, lần lượt từ người già đến người trẻ xếp hàng ba, hàng tư, đi vòng quanh chánh điện ba vòng, bắt đầu từ hướng Đông để bày tỏ sự cung kính đối với Đức Phật và để chào mừng năm mới. Vừa đi, đội trống vừa đánh liên tục, thúc giục mọi người từ khắp mọi nơi nối tiếp nhau về chánh điện để đón vị thần trong năm mới. Sau khi đi đủ ba vòng, đoàn rước vào chánh điện, vị sư cả tiếp nhận quyển Đại lịch, đặt lên bàn thờ Phật, tụng kinh đón chào vị thần năm mới và cầu an cho tất cả mọi người. Ý nghĩa lễ rước Đại lịch của người Khmer cũng tương tự như ý nghĩa lễ đón giao thừa trong Tết Nguyên Đán của người Việt. Những nghi lễ này đều nhằm mục đích tống tiễn những điều xui xẻo trong năm cũ và chào đón những điều mới mẻ, may mắn trong năm mới. Nhưng nghi thức và thời gian tiến hành nghi lễ khác nhau. Lễ đón giao thừa của người Việt thường tổ chức cố định vào 0h ngày 01 tháng 01 âm lịch. Lễ rước Đại lịch của người Khmer thường vào ngày 13 tháng 4 dương lịch, giờ vào lễ thay đổi theo từng năm. Người Việt vừa đón giao thừa ở nhà, vừa có thể lên chùa thắp nhang, hái lộc đầu năm, nhưng quan trọng là nghi lễ đón giao thừa ở nhà. Người Khmer chỉ tham gia lễ rước Đại lịch ở chùa.

Ngày thứ hai, người dân Khmer tổ chức dâng cơm sáng và trưa cho sư. Trước khi độ cơm, các vị sư tụng kinh làm lễ tạ ơn những người đã làm ra vật thực và cũng để dâng vật thực đến linh hồn ông bà, tổ tiên. Trưa hôm đó, người lớn tổ chức bốc thăm theo quy định để nghe sư thuyết giảng với mục đích đoán sự may mắn trong năm và thanh niên lại vui chơi với các chương trình văn nghệ truyền thống, như: rom vong, hát aday đối đáp hay xem rô băm, dù kê,…

Trong ngày này, một tập tục không thể thiếu của người Khmer là đắp núi cát tại các ngôi chùa. Ngày xưa, theo quan niệm của Balamon giáo, người Khmer đắp chín núi, một núi ở giữa là núi Tudi (Mêru) gọi là trung tâm của thế giới, tám núi xung quanh theo bốn phương tám hướng của vũ trụ. Núi cát tượng trưng cho ngôi tháp ở tầng trời thứ ba, nơi cất giữ mớ tóc của Phật Thích Ca lúc bỏ nhà đi tìm thầy học đạo. Mỗi hạt cát do tín đồ đắp lên thành núi sẽ giải thoát được một kẻ có tội ở thế gian. Vì thế, người Khmer rất hăng hái đắp núi cát, để mong Đức Phật thấy sự khổ cực của mình mà ban cho phúc lành. Người Khmer còn gọi lễ đắp núi cát là “phúc duyên đắp núi cát” (Anisoong pun phnum khsách). Lễ này còn được giải thích bằng một câu chuyện khác cũng liên quan đến Phật giáo. Chuyện kể về một người làm nghề săn bắt, từ trẻ đến già đã giết hại quá nhiều muông thú, nhưng ông được một nhà sư hướng dẫn tích phúc bằng cách đắp nhiều núi cát trong một ngôi chùa gần nơi ông ở. Về già, ông thường xuyên đau ốm, do bị ám ảnh bởi bầy thú vây quanh hành hung, đòi nợ oan nghiệt. Nhờ ông đã tích phúc trong việc đắp nhiều núi cát, ông tỉnh táo bảo bọn muông thú hãy đếm hết những hạt cát từ núi mà ông đã đắp, trước khi đến đòi nợ ông. Bọn thú đồng ý, chúng cùng nhau đi đếm, nhưng không tài nào đếm hết, chán ngán, chúng bỏ đi và người thợ săn hết bệnh. Từ đó, ông cố gắng tích đức bằng cách làm việc thiện cho đến khi chết được lên thiên đàng. Trong những ngày lễ Chol Chnamthmay, người Khmer đến chùa ngoài việc thắp nhang ở các bàn thờ Phật còn đến thắp nhang, khấn nguyện ở các núi cát nhằm để cầu xin được xóa bỏ tội lỗi mà họ đã gây ra trong năm qua. Một số gia đình còn mang lễ vật bày trước núi cát, mời sư sãi đến tụng kinh rửa tội và tích phước cho cả gia đình trong ngày thứ ba của lễ Chol Chnamthmay.

Lễ tắm tượng Phật được tổ chức vào ngày thứ ba, ngày cuối cùng của lễ Chol Chnamthmay. Vào buổi chiều, người Khmer tập trung ở chánh điện, các vị Acha đặt tượng Phật vào thau lớn; chuẩn bị nước thơm được ướp từ nhang thơm và sáp. Đến giờ, sư cả đánh trống, tập trung mọi người vào chánh điện, thắp nhang ở bàn thờ Phật và các vị sư sãi, Acha đọc kinh. Đọc kinh xong, các vị sư sãi dùng cành hoa hoặc một bó lá tre nhúng vào nước thơm tắm tượng Phật. Sau đó, những người Khmer tuần tự đến trước tượng để làm lễ tắm tượng Phật. Ai cũng muốn tự mình lấy nước tưới lên tượng Phật, càng tưới được nhiều nước, càng được nhiều phúc đức và tài lộc trong năm mới. Mọi người cùng lấy nước tắm tượng Phật, tát nước vào sư sãi, vào những người tham gia nghi lễ. Sau khi làm lễ tắm tượng Phật ở chùa, người Khmer trở về nhà, tiếp tục làm lễ tắm tượng Phật ở gia đình.

Vào cuối buổi chiều ngày thứ ba của lễ Chol Chnamthmay, sau khi kết thúc lễ tắm tượng Phật ở chùa, người Khmer trải chiếu trong sân chùa và mời các vị sư ngồi vào chiếu theo chức sắc, bắt đầu từ sư cả, sư phó, sadi,... Người Khmer bày tỏ ý muốn tắm sư sãi. Vị sư đồng ý, đứng dậy, đi tránh ra xa, cởi bỏ áo vàng, vận chiếc xà rông, ngồi lại vào chỗ cũ. Phật tử múc nước thơm đổ lên mình sư sãi, kỳ cọ tự nhiên trước mặt mọi người. Trong văn hóa người Khmer, lễ tắm này tượng trưng cho sự xua đuổi những gì dơ bẩn trong năm qua và tiếp đón nguồn vui, trong sạch, mới mẻ của năm mới. Đồng thời cũng là lễ chúc phúc, chúc thọ cho các vị sư lớn tuổi trong năm mới. Ở một số chùa, mọi người đến dự lễ cùng tát nước vào nhau để chúc mừng và cầu xin sự may mắn bởi đối với người Khmer nước là biểu tượng của sự sung túc và may mắn. Song song với việc tắm sư sãi, ở từng gia đình, người Khmer cũng làm lễ tắm cho ông bà, cha mẹ, những người lớn tuổi và thay quần áo mới cho ông bà cha mẹ. Việc làm này để chúc phúc, chúc thọ cho ông bà sang năm mới tiếp tục sống khỏe, sống trường thọ cùng con cháu.

Ngoài ra còn Lễ cầu siêu được tổ chức vào buổi chiều ngày cuối cùng kết thúc lễ Chol Chnamthmay. Sau khi kết thúc lễ tắm tượng Phật, tắm sư sãi, các vị Acha tập trung con sóc đến khu vực tháp đựng hài cốt các vị sư đã viên tịch để cầu siêu cho linh hồn các vị sư này. Sau đó, mỗi gia đình người Khmer mời từ 2 đến 4 vị sư sãi đến tháp lưu giữ hài cốt của những người thân đã mất để cầu siêu cho linh hồn những người thân của mình. Các vị sư sãi cũng dùng nước ướp hương thơm rắc lên người còn sống và rắc lên hài cốt của những người đã mất. Việc dùng nước thơm để rắc lên người còn sống cũng như hài cốt người chết theo quan niệm của người Khmer là thể hiện niềm mong ước trong năm mới mọi điều sẽ diễn ra tốt đẹp, mát mẻ, sạch sẽ đối với người còn sống giống như bản chất tinh khiết tốt đẹp của nước. Đồng thời đối với linh hồn của người chết, rắc nước lên hài cốt của họ để cầu mong họ ra đi về thế giới bên kia siêu thoát dễ dàng như dòng nước trôi đi.

Như vậy, Tết Chol Chnamthmay hay còn gọi là Tết cổ truyền của người Khmer được tổ chức với những nghi lễ, những sinh hoạt văn nghệ, trò chơi khác nhau nhưng đều đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Khmer. Đây là lễ hội đặc trưng tiêu biểu nhất của người Khmer.

Đặng Tài Tính

Tết Chol Chnamthmay của người Khmer Nam bộHằng năm cứ đến trung tuần tháng Tư Dương lịch, người dân Khmer Nam Bộ ở mười ba tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với hơn 1,3 triệu người Khmer sinh sống, nhiều nhất là ở các tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang lại tổ chức Tết Chol
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Xứng đáng là người đại biểu nhân dân
Kinh Thánh và sự thông minh của người Do Thái
Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân khóa XIV phải thật sự là người tài đức
Thông điệp của Giáo hoàng về khủng bố và nhập cư
Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp: Cơ hội thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Cách tính và những biểu tượng đặc trưng của Ngày Lễ Phục sinh
Giáo lý, giáo luật của Giáo hội Công giáo với vấn đề Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Thành tựu 10 năm hoạt động giao lưu hành đạo của Các Hội thánh và tổ chức Cao Đài
Hãy tự làm thanh thản trong tâm
Ảnh hưởng từ Công giáo đến lối sống của người Việt*
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn