Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/10/2019 01:14 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Giáo lý, giáo luật của Giáo hội Công giáo với vấn đề Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ XX Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ). Cho đến nay công tác này đã thu được nhiều kết quả to lớn góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao mức sống cho người dân. Công tác truyền thông về DS - KHHGĐ đã góp phần không nhỏ vào thành tựu chung đó của cả nước.

Tuy nhiên, công tác truyền thông về DS - KHHGĐ cũng còn những hạn chế nhất định, nhất là đối với những vùng có đông đồng bào là tín đồ Công giáo và đạo Tin Lành. Ở những vùng này hiện nay, tuy tỷ lệ sinh đã giảm xuống rõ rệt nhưng vẫn còn cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước, công tác DS - KHHGĐ vẫn còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của giáo lý, giáo luật và tổ chức giáo hội ở địa phương cũng như trình độ dân trí và điều kiện kinh tế - xã hội. Muốn làm tốt công tác truyền thông về DS - KHHGĐ đối với đồng bào có đạo, những người làm công tác này cần được trang bị đầy đủ những kiến thức cơ bản về giáo lý, giáo luật của Giáo hội Công giáo đối với vấn đề hôn nhân và gia đình nhằm đảm bảo quyền tự do tôn giáo, không xúc phạm tới đức tin của chức sắc, tín đồ nhưng vẫn đạt được hiểu quả trong quá trình truyền thông.

1. Quan niệm của Giáo hội Công giáo về hôn nhân và gia đình

Người Công giáo đặc biệt coi trọng vấn đề hôn nhân và gia đình. Điều này được thể hiện rõ nét nhất trong Bí tích hôn phối, bí tích thứ bẩy trong Giáo luật. Đối với họ, “hôn nhân là một giao ước ký kết giữa một người nam và một người nữ, với ý thức tự do và trách nhiệm, để sống yêu thương và giúp đỡ nhau trong tình nghĩa vợ chồng; để sinh sản và giáo dục con cái trong nhiệm vụ làm cha làm mẹ”[1]. Hôn nhân là việc vô cùng hệ trọng đối với người Công giáo. Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em Công giáo đã được trang bị kiến thức về giới tính. Đến tuổi kết hôn, nam nữ thanh niên Công giáo phải trải qua các giai đoạn chuẩn bị trước hôn phối. Khi kết hôn, quan hệ giữa người nam và người nữ chuyển sang một giai đoạn mới, đó là quan hệ vợ chồng, hình thành gia đình mang tính đơn nhất (một vợ một chồng), bất khả phân ly và sẵn sàng cho việc sinh sản con cái. Sách Sáng thế viết rằng, Thiên Chúa dựng nên loài người có nam có nữ theo hình ảnh của Người. Thiên Chúa cho họ quyền cai quản vạn vật và truyền cho họ hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất (St 1, 26 - 30). Giáo hội khẳng định rằng, ngay từ đầu Thiên Chúa đã ấn định mục đích của hôn nhân là vợ chồng yêu thương nhau trọn đời và cùng nhau sinh sản con cái. Sách Thánh vịnh viết: “Con cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh hạ là phần thưởng Chúa ban” (Tv 127, 3). Người Công giáo quan niệm rằng, “có con nối dòng, để thờ kính cha mẹ. Đông con để bảo vệ an ninh bộ tộc, để có nhân công, bảo tồn nòi giống”[2].

Về gia đình, Giáo hội Công giáo cho rằng, đây là xã hội đầu tiên “có một tầm quan trọng cốt yếu liên quan đến con người. Chính trong chiếc nôi cuộc sống và tình yêu này mà con người được sinh ra và lớn lên”[3]. Sách Sáng thế viết: “Con người ở một mình không tốt” (St 2, 18) và do vậy Adam cùng Eva đã trở thành “một xương một thịt” (St 2, 24). Đây là hình thức hiệp thông đầu tiên giữa con người với con người. Họ cùng tham gia vào việc sinh sản và trở thành người cộng sự với Thiên Chúa. Khi đứa trẻ bắt đầu được hình thành qua việc thụ thai của người mẹ, xã hội sẽ được món quà là một con người mới. Lớn lên con người này lại được mời gọi hiệp thông với một con người khác giới, dâng hiến bản thân mình cho người đó. Sự dâng hiến cho nhau giữa người nam và người nữ được liên kết trong hôn nhân tạo nên gia đình, trong đó con cái được sinh ra, được nuôi dưỡng và giáo dục. Thánh Giáo hoàng John Paul II nói: “Cơ cấu đầu tiên và căn bản làm nên ‘môi sinh nhân loại’ chính là gia đình, trong đó con người tiếp nhận những ý tưởng đầu tiên mang tính giáo dục về sự thật và sự tốt lành, cũng như học được thế nào là yêu và được yêu và từ đó biết được làm người thực ra là gì”[4].

Vào thời của mình, trong Thông điệp Casti Connubii Giáo hoàng Pius XI đã bày tỏ quan điểm: “Việc sinh con và giáo dục con cái là mục đích đệ nhất của việc kết hôn nam nữ… vì thế sinh đẻ là việc thánh thiêng, diệu kỳ, không ai được xâm phạm tới”[5]. Đến Công đồng Vatican II, Giáo hội vẫn tiếp tục khẳng định và đề cao phẩm giá hôn nhân và gia đình. Văn kiện của Công đồng Vatican II viết: “Chúa Sáng Tạo đã chúc phúc cho đôi bạn đầu tiên của loài người: các ngươi hãy sinh sôi nảy nở và hãy nên đầy dẫy trên trái đất”; “con cái là ơn huệ quý báu nhất của hôn nhân… Bổn phận truyền sinh và giáo dục phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng”[6]. Như vậy, tư tưởng trong sách Sáng thế “hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất” (St 1, 26 - 30) luôn được Giáo hội cổ vũ.

Đến thời Thánh Giáo hoàng John Paul II, vào năm 1981 Ngài tiếp tục nhấn mạnh quyền sinh sản mà Thiên Chúa đã ban cho loài người: “Vâng theo chân lý là chính Chúa Kitô…đòi quyền cho chính đôi vợ chồng được tự do bàn tính với nhau mà quyết định việc điều hòa sinh sản. Không quyền bính xã hội nào, kể cả quốc tế, có quyền ép buộc vợ chồng phải theo những biện pháp vô luân để sinh đẻ có kế hoạch”[7]. Một số linh mục ở Việt Nam đã dựa vào giáo lý, giáo luật và quan điểm của người đứng đầu Tòa Thánh Vatican về vấn đề gia đình và sinh sản để cụ thể hóa vào các bài giảng giáo lý của mình cho giáo dân. Họ nói: “Sinh bao nhiêu con, sinh khi nào, hoàn toàn do vợ chồng quyết định…không ai có quyền can thiệp, áp đặt”, “xã hội và Giáo hội không được bắt ép phải kế hoạch bằng biện pháp này hay biện pháp kia. Nên đẻ mấy con? Khi nào đẻ? Hoãn đẻ hay thôi”[8].

2. Giáo hội Công giáo với vấn đề tránh thai và phá thai

Đối với vấn đề tránh thai: Vào năm 1968, trong Thông điệp “Đời sống con người”, Giáo hoàng Paul VI đã nêu ra nguyên tắc nhằm ngăn chặn tín đồ dùng các biện pháp tránh thai để điều hòa việc sinh sản. Trong Thông điệp này Ngài viết: “Phải loại bỏ tất cả những hành động hoặc dự liệu trước khi giao hợp hay trong lúc giao hợp hoặc khi triển khai các hậu quả tự nhiên của nó”[9]. Triển khai tư tưởng này tại Việt Nam, sách giáo lý về hôn nhân và gia đình của Giáo hội viết cụ thể hơn: “Giáo lý, giáo luật cấm bất cứ hành động nào nhằm ngăn chặn sự sinh sản, dù như mục đích hay chỉ như phương tiện. Nghĩa là không được dùng thuốc viên cản thụ thai; đặt vòng trong tử cung; dùng mũ bịt cửa tử cung; dùng ‘áo mưa’ bao dương vật; không được thắt ống dẫn tinh hay dẫn trứng; không được xuất tinh ra ngoài âm đạo”[10]. Trong các bài giảng giáo lý về hôn nhân và gia đình cho giáo dân, một số linh mục thường hay viện dẫn câu chuyện trong Kinh Thánh: “Onan biết là (sinh con ra) không kể là dòng giống mình, nên mỗi khi phối hiệp với vợ anh thì hắn để mất tinh dưới đất, có ý không cho anh được có dòng giống. Hắn đã làm điều thất đức trước mắt Yavê; nên Người trừng phạt nó phải chết”[11]. Điều này có nghĩa họ muốn làm cho giáo dân hiểu rằng, mục đích của quan hệ nam nữ trong hôn nhân Công giáo là để sinh con đẻ cái cho đầy trái đất như Kinh Thánh đã dạy chứ không phải để tìm hưởng lạc thú.

Công đồng Vatican II hoàn toàn không chấp nhận việc dùng các biện pháp nhân tạo để điều hòa sinh sản. Tuy nhiên, chắc rằng các nghị phụ cũng thấy được mặt trái của việc “bùng nổ dân số” thời hiện đại nên chấp nhận cho phép tín đồ điều hòa sinh sản bằng các biện pháp tự nhiên qua việc tính ngày rụng trứng ở người phụ nữ để chủ động việc điều tiết quan hệ vợ chồng. Nhưng hiệu quả của các biện pháp tự nhiên thường không cao, nhất là ở những vùng trình độ dân trí còn quá thấp.

Đối với vấn đề phá thai: Giáo lý, giáo luật của Giáo hội Công giáo tuyệt đối cấm việc phá thai dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả việc hút điều hòa kinh nguyệt. “Ai phá thai vừa phạm tội vừa bị vạ”[12]. Giáo hội coi đây là tội trọng - tội giết người. Về phá thai, Thánh Giáo hoàng John Paul II đã từng nhiều lần khẳng định đó là tội “sát nhân”. Ngài nói: “Chúng ta đang đối đầu với họa sát nhân…cố ý giết người vô tội”. Trong thư “Tin mừng và Sự sống” được công bố vào năm 1995 Ngài đã nói đến các “tội ác không kể xiết của sự phá thai”. Thánh Giáo hoàng John Paul II viết: “Phá thai là chủ ý và trực tiếp giết người, dù thực hiện bằng cách nào đi nữa, giai đoạn đầu hay giai đoạn cuối, từ lúc thụ thai cho đến khi được sinh ra”. “Người bị loại bỏ là một con người vào giai đoạn đầu đời”[13]. Ngài cho rằng, “đôi khi chính người mẹ đã quyết định và yêu cầu loại bỏ con của mình qua việc nhờ người khác giúp thực hiện”. “Không chỉ những người mẹ mà cả những người khác nữa đã quyết định giết đứa trẻ ngay trong bào thai”, trong đó “bác sĩ và y tá là những người có trách nhiệm khi họ dùng tài năng giết người thay vì phát huy cuộc sống”[14]. Cuối cùng, trong thư “Tin mừng và Sự sống” Thánh Giáo hoàng John Paul II nhắc nhở đàn chiên của mình: “Thánh Kinh dạy chúng ta phải tôn trọng sự sống con người trong cung lòng người mẹ, điều ấy là hệ luận từ giới răn của Chúa ‘ngươi không được giết người’ cũng được áp dụng cho trẻ chưa được sinh ra”[15].

Theo quy định của giáo luật, phá thai là một trường hợp đặc biệt tự động bị vạ tuyệt thông. Vạ này không chỉ được áp dụng đối với người mẹ đã phá thai, mà cho cả những người có liên quan như người chồng hay những người bà con đã đồng tình cho người mẹ phá thai cũng như các nhân viên y tế tham gia tích cực vào việc này. Người bị vạ tuyệt thông bị cấm lĩnh nhận các bí tích, kể cả bí tích Hòa giải, tức bí tích Giải tội. Điều này có nghĩa, khi một người bị vạ tuyệt thông thì không thể lĩnh nhận bí tích Hòa giải khi chưa được giải vạ tuyệt thông. Nếu một người bị vạ tuyệt thông vì tội phá thai thì chỉ có giám mục bản quyền và những linh mục do vị giám mục đó chỉ định mới có thể được quyền giải vạ. Nhưng mới đây Giáo hoàng Phanxicô đã quyết định cho phép mọi linh mục đều có quyền tha tội phá thai trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Ngày 1 tháng 9 năm 2015, trong thư gửi Tổng Giám mục Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng, Giáo hoàng Francis đã viết: “Tôi quyết định ban phép cho tất cả các linh mục, trong Năm Thánh, được giải tội phá thai cho những người đã gây ra và nếu họ thành tâm thống hối xin tha thứ. Các linh mục hãy chuẩn bị thi hành công tác quan trọng này, hãy biết liên kết những lời đón tiếp chân thành với một suy tư giúp hiểu tội đã phạm và chỉ dẫn con đường hoán cải đích thực để đón nhận sự tha thứ chân thực và quảng đại của Chúa Cha, Đấng đổi mới mọi sự bằng sự hiện diện của Ngài”[16]. Được biết, Năm Thánh Lòng Thương Xót bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 năm 2015 và kết thúc vào ngày 20 tháng 11 năm 2016.

3. Vai trò của các linh mục trong công tác DS - KHHGD ở cơ sở

Tổ chức giáo xứ là cấp cơ sở của Giáo hội Công giáo mà người đứng đầu là linh mục. “Linh mục được mời gọi chia sẻ trách nhiệm với giám mục về giáo hội địa phương: rao giảng Phúc Âm, hướng dẫn các tín hữu, cử hành Phụng vụ, chăm sóc cộng đoàn giáo xứ, hay một công việc phục vụ Hội Thánh”[17]. Như vậy, về nguyên tắc, linh mục không tham gia vào việc đời, nhưng trên thực tế, họ lại có vai trò rất lớn không chỉ trong đời sống đạo mà còn trong cả việc đời của giáo dân trong xứ, họ đạo mà mình cai quản. Vì vậy, những giảng giải của linh mục về giáo lý, giáo luật của Giáo hội Công giáo đối với vấn đề DS - KHHGĐ có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi sinh sản của giáo dân, nhất là việc sử dụng các biện pháp tránh thai hay phá thai. Một cuộc khảo sát điểm ở xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định[18] cho thấy, trong số các linh mục ở tổ chức giáo hội cơ sở có hai nhóm quan điểm khác nhau về việc áp dụng các biện pháp tránh thai để thực hiện chính sách DS - KHHGĐ.

- Nhóm thứ nhất cho rằng, ngoài việc sử dụng các biện pháp tránh thai tự nhiên, giáo dân có thể sử dụng thêm một số biện pháp nhân tạo như vòng tránh thai, bao cao su. Tuy nhiên, dù có buộc phải sử dụng các biện pháp nhân tạo, giáo dân vẫn phải sử dụng các biện pháp tự nhiên. Khi được hỏi về vấn đề này một linh mục nói: “Đặt vòng nhưng vẫn phải kết hợp với cách tính theo lịch” [19], trong khi đó ông trùm của một họ đạo khẳng định: “Nếu ai đặt vòng rồi nhưng vẫn sử dụng phương pháp tính lịch thì sẽ không phạm tội”. Điều này cho thấy rằng, tuy không phản đối việc sử dụng một số biện pháp tránh thai nhân tạo, nhưng để đảm bảo việc tuân thủ giáo lý, giáo luật, các linh mục vẫn buộc giáo dân áp dụng đồng thời các biện pháp tự nhiên.

- Nhóm thứ hai phản đối quyết liệt việc phổ biến và sử dụng các biện pháp tránh thai nhân tạo trong cộng đồng giáo dân. Một người đàn ông tại địa bàn khảo sát phản ảnh: “Có trường hợp giáo dân đặt vòng rồi đi xưng tội, có linh mục từ chối không rửa tội, hoặc đồng ý rửa tội nhưng họ phải hứa sẽ bỏ vòng”. Còn một chức sắc Công giáo ở Bùi Chu đã nói một cách dứt khoát: “Bà con giáo dân làm trái giáo luật thì không được rước lễ, nếu muốn rước lễ thì phải xưng tội”. Và kết quả là, ở một số họ đạo mà cuộc khảo sát nói trên tiến hành, nhiều giáo dân đã đặt vòng tránh thai, nhưng sau khi đi xưng tội về đã tức khắc đi tháo vòng chui.

Kết quả của cuộc khảo sát nói trên cũng chỉ ra rằng, một số linh mục tuy không phản ứng công khai, nhưng vào thời điểm địa phương tổ chức các đợt tuyên truyền vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình họ thường gây sức ép với chính quyền, nhiều khi khá căng thẳng. Một nhân viên của Ủy ban dân số huyện cho biết: “Trong hội nghị các linh mục, các ông trùm đều cam kết sẽ không nói về lương tâm, về phạm tội và tỏ ra ủng hộ, song khi về họ ngấm ngầm gây áp lực không cho xưng tội, không cho rước lễ, dùng hình thức cô lập giáo dân đi đặt vòng, triệt sản”.

Ngoài ra, chức sắc Công giáo ở địa bàn được khảo sát cũng tham gia tích cực vào việc truyền thông về dân số, nhưng theo quan điểm của Giáo hội. Việc này diễn ra ở nhiều nơi, nhưng chủ yếu là tại nhà thờ thông qua các bài giảng về giáo lí hôn nhân và gia đình, thông qua những nghi lễ xưng tội, rửa tội và thông qua các lớp học về giáo lý hôn nhân, gia đình dành cho nam nữ thanh niên trước kết hôn. Có tới 61,9% số giáo dân được hỏi trả lời rằng, những thông tin mà họ nhận được về dân số và “sinh đẻ có trách nhiệm” là từ các linh mục qua các bài giảng tại nhà thờ, 93,5% trả lời rằng, tại các lớp học về giáo lý hôn nhân, gia đình dành cho nam nữ thanh niên trước kết hôn các linh mục nói nhiều về các biện pháp tránh thai nhân tạo bị Giáo hội cấm và các biện pháp tránh thai tự nhiên phải tuân theo. Mức độ truyền thông về vấn đề này tăng hay giảm phụ thuộc vào thời điểm mà chính quyền địa phương mở các đợt truyền thông, vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Bên cạnh đó, các chức sắc Công giáo ở cơ sở còn tham gia kiểm soát việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình của giáo dân thông qua Hội Thánh, thông qua các lễ xưng tội, rửa tội và thông qua cộng đồng. Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 73,8% số giáo dân được hỏi trả lời rằng, linh mục giáo xứ biết rõ hiện họ đang sử dụng biện pháp tránh thai nào. Có thể nói một cách ngắn gọn rằng, chức sắc Công giáo ở cơ sở có ảnh hưởng rất lớn tới hành vi sinh sản của giáo dân ở các xứ, họ đạo.

4. Thái độ của người Công giáo Việt Nam đối với vấn đề DS - KHHGĐ

Những số liệu dưới đây được lấy từ một cuộc điều tra xã hội học tại 4 xã ở 2 huyện Tiền Hải và Đông Hưng, tỉnh Thái Bình[20], một tỉnh có dân số trên 1,8 triệu người, trong đó đồng bào Công giáo có 107.940 người, chiếm 6,06% dân số toàn tỉnh.

 Số liệu điều tra cho thấy, có 30,5% số người Công giáo được hỏi mong muốn gia đình có từ 1 đến 2 con, trong khi đó có tới 69,5% mong muốn có từ 3 con trở lên. Khi được hỏi về biện pháp tránh thai ưa thích, có 75,8% trả lời thích biện pháp tránh thai hiện đại, chỉ có 24,2% thích biện pháp tránh thai truyền thống. Về thái độ của người dân Công giáo đối với việc hút điều hòa kinh nguyệt: có tới 59,3% số người được hỏi cho rằng, việc làm này là có tội, chỉ có 37,4% cho là không có tội, còn 2,3% không trả lời; Riêng đối với việc nạo, phá thai thì có tới 93,5% số người được hỏi trả lời là có tội, chỉ có 4,5% trả lời không có tội và 2% không trả lời.

Về mối liên quan giữa độ tuổi và trình độ văn hóa với việc sinh sản, cho ta những con số như sau: trong số những người ở độ tuổi dưới 35, có 38,7% mong muốn có từ 1 đến 2 con, trong khi đó có tới 61,3% mong muốn có ít nhất là 3 con; đối với những người ở độ tuổi trên 35, chỉ có 12,8% mong muốn có từ 1 đến 2 con, nhưng có đến 87,2% mong muốn có ít nhất 3 con; về trình độ văn hóa, 28,1% số người có trình độ tiểu học trở xuống mong muốn có từ 1 đến 2 con, trong khi đó đối với những người có trình độ từ trung học cơ sở trở lên con số này là 71,9%, còn đối với những người mong muốn có ít nhất là 3 con thì những người có trình độ tiểu học trở xuống chiếm 41,5%, trong khi đó những người có trình độ trung học cơ sở trở lên chiếm 58,5%.

Từ những điều trình bày ở trên cho thấy công tác DS - KHHGĐ trong vùng đồng bào Công giáo ở nước ta, tuy đã có những chuyển biến đáng kể nhưng vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn. Kết quả giảm sinh chưa thật ổn định và thiếu tính bền vững, tỷ lệ sinh con thứ 3 ở các địa phương có đông đồng bào Công giáo vẫn còn cao hơn so với mặt bằng chung do nhiều nguyên nhân, trong đó, một mặt, do ảnh hưởng của giáo lý, giáo luật đến hành vi sinh sản của giáo dân, mặt khác, do trình độ dân trí, điều kiện kinh tế - xã hội, do tư tưởng trọng nam, muốn có con trai để nối dõi tông đường và do phong tục tập quán của địa phương. Để khắc phục tình trạng này nhiều địa phương thông qua Mặt trận Tổ quốc các cấp đã vận động chức sắc và tín đồ Công giáo xây dựng mô hình “Tín hữu Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh”, gắn cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” với phong trào xây dựng “Xứ, họ đạo 4 gương mẫu”, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào có đạo nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. 

TS. Nguyễn Văn Dũng, TS. Lê Thị Vân Anh

Chú thích:

[1]Hội đồng Giám mục Việt Nam. Giáo lý hôn nhân và gia đình. NXB Tôn giáo, Hà Nội 2004, tr.13.

2 Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Linh mục Xuân Bích. Hôn nhân Kitô giáo. NXB Thuận Hóa, Huế 1995, tr. 22.

3 Hội đồng Giám mục Việt Nam. Tóm lược học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo. NXB Tôn giáo, Hà Nội 2007, tr. 164.

4 Hội đồng Giám mục Việt Nam. Sđd , tr. 165.

5 Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Linh mục Xuân Bích. Sđd, tr. 144.

6 Trích theo: Đỗ Quang Hưng. Thái độ của Vatican với vấn đề dân số, kế hoạch hóa gia đình. Trong cuốn: Đồng bào Công giáo với chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình. NXB KHXH, Hà Nội 1998, tr. 150.

7 Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Linh mục Xuân Bích. Sđd, tr. 154.

8 Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Linh mục Xuân Bích. Sđd, tr. 234.

9 Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Linh mục Xuân Bích. Sđd, tr. 144.

10 Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Linh mục Xuân Bích. Sđd, tr. 157.

11 Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Linh mục Xuân Bích. Sđd, tr. 144.

12 Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Linh mục Xuân Bích. Sđd, tr. 144.

13 Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói về phá thai: “Chúng ta đang đối đầu với họa sát nhân…” .Truy cập ngày 6/ 12/ 2015: http://www.vietcatholic.org/News/Html/166107.htm

14 Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II... Bài và Website đã dẫn.

15 Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II… Bài và Website đã dẫn.

16 Quyết định của Đức Thánh Cha: Mọi linh mục đều có năng quyền tha tội phá thai trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Truy cập ngày 6/12/2015: http://www.vietcatholic.org/News/Html/143035.htm

17 Từ điển Công giáo 500 mục từ. NXB Tôn giáo,Tp Hồ Chí Minh 2011, tr. 206.

18 Xem: Phạm Quyết. Ảnh hưởng của giáo lí, giáo luật và tổ chức giáo hội cơ sở của Công giáo đến hành vi sinh sản của giáo dân. Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 3 - 2005, tr. 36 - 44.

19 Những trích dẫn trong mục này đều dẫn theo bài đã dẫn của tác giả Phạm Quyết.

20  Xem: Hà Thị Lãm. Chất lượng công tác kế hoạch hóa gia đình tại vùng đồng bào Công giáo tỉnh Thái Bình. 123doc.org/document/1124290-chat-luong-cong-tac-ke-hoach-hoa-gia-dinh-tai-vung-dong-bao-cong-giao-tinh-thai-binh-docx.htm



Giáo lý, giáo luật của Giáo hội Công giáo với vấn đề Dân số - Kế hoạch hóa gia đìnhTuy nhiên, công tác truyền thông về DS - KHHGĐ cũng còn những hạn chế nhất định, nhất là đối với những vùng có đông đồng bào là tín đồ Công giáo và đạo Tin Lành. Ở những vùng này hiện nay, tuy tỷ lệ sinh đã giảm xuống rõ rệt nhưng vẫn còn cao hơn so với mặt
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Thành tựu 10 năm hoạt động giao lưu hành đạo của Các Hội thánh và tổ chức Cao Đài
Hãy tự làm thanh thản trong tâm
Ảnh hưởng từ Công giáo đến lối sống của người Việt*
Tìm hiểu ăn chay và giữ chay của người Công giáo
Biến tướng lễ hội: Mê tín lấn át văn hóa
Cách nào bài trừ hiệu quả tư tưởng cực đoan của IS?
Tinh thần của Thủ tướng Võ Văn Kiệt về từ bi, hòa hợp trong Phật giáo
Những giá trị của lễ hội và quản lý lễ hội
Tăng cường hợp tác quốc tế và thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, một thông điệp hùng hồn với cộng đồng quốc tế
Vì sao bất hòa tôn giáo tại Trung Đông lại bùng phát?
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền trên vách thủy tinh - 'kỳ quan nhân tạo' độc đáo Thái Lan
Lễ Sene Đolta của đồng bào Khmer
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn