Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 19/09/2019 07:38 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Góp ý vào bản Dự thảo văn kiện Đại hội XII: Cần chuẩn xác hơn và đầy đủ hơn khái niệm đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ Xã hội chủ nghĩa

Theo Nghị quyết của Bộ Chính trị, một số văn kiện dự thảo của Đại hội XII trong đó có hai văn kiện quan trọng là dự thảo Báo cáo chính trị và Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020 được công bố công khai trên các phương tiện truyền thông để lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân.

Trên tinh thần đó, tôi có một số ý kiến đóng góp vào Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa XI trình bày tại Đại hội XII của Đảng (sau đây gọi tắt là Dự thảo).

Ngay tiêu đề của Dự thảo đã nêu bật được năm nhiệm vụ quan trọng nhất của nhiệm kỳ này của Đảng là: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; Xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản tở thành nước công nghiệp hiện đại”. Đương nhiên, Dự thảo phải nêu nhiệm vụ xây dựng Đảng là nhiệm vụ đầu tiên vì đây là Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng. Nhưng người dân thấy việc làm “trong sạch” đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là nhiệm vụ cấp bách nhất hiện nay. Nhiệm vụ này đã được nói nhiều và Trung ương cũng đã đưa ra nhiều giải pháp nhưng căn bệnh này chưa có thuyên chuyển được bao nhiêu. Phải chăng, chúng ta vẫn chưa bắt mạch đúng để đưa ra bài thuốc trị bệnh từ gốc. Chính tệ nạn này làm cho người dân giảm lòng tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên và buộc phải sống chung với nó trong ứng xử hàng ngày. Nhiệm vụ “Bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định”, lần đầu tiên được đưa thành tiêu đề của Báo cáo chính trị. Điều này cho thấy, nhận thức vấn đề độc lập, toàn vẹn lãnh thổ ngày nay đã được đặt ra một cách cấp bách. Sau chiến thắng 30-4-1975, có người đã chủ quan cho rằng, nước ta từ nay vĩnh viễn hòa bình, độc lập và không kẻ thù xâm lược nào dám nhòm ngó đến nước ta nữa. Thực tế khác hẳn. Liên tiếp các cuộc chiến tranh biên giới những năm 1979, 1980 và gần đây là những căng thẳng tại biển Đông đã cho chúng ta thấy, nguy cơ toàn vẹn lãnh thổ lúc nào cũng phải đặt ra.

Trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói hết sự thật”, Dự thảo lần này đã dũng cảm nhìn nhận những yếu kém, bất cập của thực trạng kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục của nước ta hiện nay. Dự thảo viết: “ Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ văn hóa, xã hội chậm được khắc phục. Quản lý tài nguyên môi trường còn bất cập. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí…chưa được ngăn chặn và đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp. Dân chủ XHCN và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, phép nước chưa nghiêm…”. Chắc có người chưa hài lòng với khái niệm “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” suy thoái, biến chất. Khái niệm này được nhắc đến trong liên tiếp các văn kiện đại hội Đảng vừa qua nhưng rõ ràng không thể dùng khái niệm định lượng là “một số”, “một số ít”, “một bộ phận”. “Một bộ phận không nhỏ” của dự thảo lần này chắc chắn định lượng sẽ có nhiều hơn, đông hơn “một bộ phận không nhỏ” trước đây nhưng nó vẫn nằm trong giới hạn “một bộ phận” chứ chưa phải là đa số, phần lớn trong số đảng viên hiện nay. Nếu là đa số, phần lớn thì không có phép màu nào có thể làm cho “trong sạch” được.

Nhiệm vụ “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa” được đặt ra liền sau nhiệm vụ xây dựng Đảng chứng tỏ tầm quan trọng của nó. Đại đoàn kết chính là chìa khóa dẫn đến thành công của cách mạng nước ta. Vì vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn luôn được đặt ra cho mọi giai đoạn của đất nước. Trong mục XII, Dự thảo đã nêu những kết quả có được nhờ xây dựng được khối đại đoàn kết và cũng thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm của công tác này thời gian vừa qua. Dự thảo viết: “Chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền và lợi ích hợp pháp của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được kịp thời thể chế hóa, hoặc đã thể chế hóa nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc. Họat động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân có khi, có nơi chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở, còn có biểu hiện hành chính hóa, chưa thiết thực hiệu quả. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức chưa thật sự tôn trọng, lắng nghe ý kiến để giải quyết kịp thời, có hiệu quả những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách để thể chế hóa đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng về MTTQ và các đoàn thể nhân dân còn thiếu và chưa đồng bộ”.

Dự thảo cũng nêu: “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Tôi cho rằng, chỗ này cần xem xét lại. Chủ nghiã Mác- Lênin chỉ ra nguyên tắc liên minh công nông, về sau bổ sung đội ngũ trí thức. Nhưng do sự phát triển mau chóng của khoa học công nghệ cũng như tri thức của người lao động mà hiện nay trong xã hội ta, ranh giới về giai cấp đã không còn rõ ràng. Người công nhân cũng có thể là người trí thức vì họ cũng nghiên cứu khoa học, cũng sáng tạo. Có công nhân Việt đã chế tạo ra máy bay, tàu ngầm. Có bác nông dân “Hai Lúa” đã chế tạo ra máy móc khiến cả các nhà khoa học Ixrael cũng phải công nhận phát minh. Đó cũng là những dấu hiệu mà Mác đã tiên báo trong xã hội cộng sản tương lai:  Một người công nhân sáng đi nhà máy, trưa đi phòng thí nghiệm, chiều đi câu cá và tối đến câu lạc bộ khiêu vũ. Chúng ta tại sao cứ phải nhấn mạnh rạch ròi sự phân chia giai cấp. Công nhân ngày xưa là người làm thuê cho chủ nhà máy, nông dân là người làm thuê cho địa chủ. Bây giờ họ đều là chủ đất nước. Trước đây,  Lênin viết: “ Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định” (1) Định nghĩa này không còn phù hợp với xã hội chúng ta ngày nay vì tất cả công nhân, nông dân, trí thức doanh nhân đều là người lao động, đều là chủ đất nước, không có ai chiếm đọat lao động của ai cả. Hơn nữa trong dự thảo chỉ nói tới công nhân, nông dân và trí thức mà quên một tầng lớp quan trọng trong xã hội hiện nay đó là đội ngũ doanh nhân. Chính họ là người có nhiều đóng góp tạo ra của cải vật chất, công ăn việc làm và ngoại tệ cho xã hội. Cho nên tôi đề nghị sửa lại là : “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh tất cả những người lao động chân tay cũng như trí óc dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Trong phần kể ra các giai tầng, giới, tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chúng tôi muốn bổ sung một số ý. Chẳng hạn đối với trí thức mà chỉ “coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của cơ quan nghiên cứu khoa học” là chưa đủ. Đặc trưng của người được gọi là trí thức là biết phản biện xã hội. Cho nên, ngoài cơ quan nghiên cứu thì cá nhân trí thức khi họ phản biện xã hội cũng phải được lắng nghe.

Phần của các tín ngưỡng, tôn giáo dự thảo viết: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”. So với các Báo cáo chính trị các Đại hội trước đây, thì dự thảo lần này ngắn nhất và đầy đủ hơn. Ngay câu đầu tiên đã nói đến vai trò của Nhà nước phải có trách nhiệm tạo ra môi trường thông thoáng trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo tức là hoàn thiện hệ thống luật pháp. Luật tín ngưỡng, tôn giáo đang được soạn thảo cũng là nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Theo Nghị quyết năm 1990 “Về công tác tôn giáo” và Nghị quyết 25- NQ/TW “Về công tác tôn giáo” ban hành năm 2003 đều viết: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” (2). Như vậy, với các văn kiện này, chỉ mới có giá trị đạo đức của tôn giáo được công nhận. Bây giờ dự thảo ghi nhận một giá trị rất lớn của tôn giáo nữa là giá trị văn hóa. Đúng quá, tôn giáo là văn hóa và cũng là thành tố của văn hóa. Có quốc gia nào mà văn hóa không gắn với tín ngưỡng, tôn giáo. Bao đình chùa, nhà thờ trở thành danh thắng văn hóa của quốc gia. Nhưng vẫn chưa đủ. Tín ngưỡng, tôn giáo còn có nhiều giá trị nữa như kinh tế, xã hội và đảm bảo xã hội phát triển bền vững nữa. Chùa Hương, chùa Yên Tử, nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, nhà thờ Phát Diệm…hiện đã là nơi tạo ra công ăn việc làm của nhiều người và nơi “hái ra tiền” nhờ du lịch. Việc tiết dục của các tôn giáo không phải là lợi ích kinh tế sao? Rồi gia đình theo giáo lý của các tôn giáo được ổn định chẳng phài là cơ sở cho xã hội phát triển bền vững ư? Các lời răn dạy của tôn giáo khuyên bảo người ta xa lánh rượu chè, cờ bạc, ma túy, bảo vệ môi trường lại không có tác dụng với xã hội sao? Cho nên phải thêm một giá trị nữa của tôn giáo bên cạnh giá trị đạo đức, văn hóa là giá trị xã hội nữa.

Phần dân chủ XHCN được trình bày ở mục XIII. Chúng ta phải coi đại đoàn kết dân tộc và dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động cơ của công cuộc đổi mới hiện nay. Dự thảo không nêu dân chủ XHCN là gì, chỉ nêu ra những thuộc tính của nó: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi chính đáng của nhân dân, đều được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”. Báo cáo chính trị Đại hội XI có viết: “Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta” (3) nhưng cũng không nêu được thuộc tính cơ bản của nó là gì? Nếu nói như Dự thảo thì thấy nền dân chủ XHCN của ta cũng chẳng có gì khác với nền dân chủ các nước, vì đặc trưng “chính quyền của dân, do dân , vì dân” của xã hội dân chủ đã được Tổng thống Abraham Lincoln nói ra từ năm 1863. Vậy chúng ta phải làm rõ nền dân chủ này có gì khác biệt mà ưu việt hơn “triệu lần” dân chủ tư bản chủ nghĩa? Nước ta mới đạt nước có thu nhập trung bình nên kinh tế, văn hóa, giáo dục và cả dân chủ còn bất cập không có gì là lạ. Nhưng ngay trong sự kém cỏi đó phải thấy được triển vọng tương lai mà những nước phát triển chưa đạt được. Chẳng hạn, thế giới vẫn có kiểu “có tiền mua tiên cũng được”, nhưng ở Việt Nam, rất nhiều lĩnh vực không thể mua được bằng tiền.

Vẫn biết rằng, bản dự thảo đã có sự tham gia của nhiều chuyên gia nhưng nếu được nhiều ý kiến đóng góp của nhân dân thì văn kiện chính thức sẽ hoàn thiện hơn và có ý nghĩa hơn khi nó đi vào cuộc sống.

TS. Phạm Huy Thông

Chú thích:

1-     V. Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1997, tr.18

2-     -Văn kiện hội nghị lần thứ bảy BCHTW khóa IX, Nxb CTQG 2003, tr.45-46

3-     Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG 2011, tr.47

Góp ý vào bản Dự thảo văn kiện Đại hội XII: Cần chuẩn xác hơn và đầy đủ hơn khái niệm đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ Xã hội chủ nghĩaTrên tinh thần đó, tôi có một số ý kiến đóng góp vào Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa XI trình bày tại Đại hội XII của Đảng (sau đây gọi tắt là Dự thảo). Ngay tiêu đề của Dự thảo đã nêu bật được năm nhiệm vụ quan trọng nhất
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Báo cáo về tự do tôn giáo ở Việt Nam chỉ làm ảnh hưởng đến quan hệ Việt - Mỹ
Chấm dứt luận điệu thiếu thiện chí về tự do tôn giáo ở Việt Nam
Phong trào thi đua “Dân vận khéo” của ngành Dân vận trong 5 năm (2011-2015)
Giải quyết vấn đề tôn giáo trong sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Các vấn đề Giáo hoàng Francis quan tâm hàng đầu
Angkor bị giằng xé giữa lợi nhuận và giá trị linh thiêng
Người tiêu dùng Halal có thể đạt 26% dân số thế giới vào năm 2030
Đôi nét về giá trị nhân văn tôn giáo
Đôi nét về vở cải lương Vua Phật
Rộng cửa cho các tôn giáo hoạt động
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn