Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 31/03/2020 06:15 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 1+2/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 12/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 11/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Đôi nét về vở cải lương Vua Phật

Vua Phật, vở cải lương do Nhà hát Cải lương Việt Nam dàn dựng dựa theo tác phẩm văn học của Tiến sĩ Bùi Hữu Dược, chuyển thể Cải lương Nhà giáo ưu tú Triệu Quang Vinh, Đạo diễn Nghệ sĩ ưu tú Triệu Trung Kiên.

Thời lượng vở diễn khoảng 150 phút, nội dung gồm tám cảnh, trên sân khấu kịch hoành tráng và hiện đại để tái hiện lại một giai đoạn lịch sử hào hùng và oanh liệt nhất của dân tộc ta, đó là những năm tháng oai hùng của triều đại nhà Trần với ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông, thời đại huy hoàng trong sự nghiệp xây dựng đất nước thái bình thịnh trị, một trong những trang sử đẹp nhất của pho lịch sử dân tộc Việt Nam. Thời đại mà chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng kiến thiết đất nước được đặt trên nền tảng căn bản của đạo đức lục hòa, đã đạt tới sự phát triển rực rỡ của mọi mặt, hảo sảng mà mang đậm chất thiền, vị giải thoát. Vở diễn có  nhiều nhân vật vang danh cùng lịch sử như:  Hoàng đế Trần Thánh Tông, Vua Phật Trần Nhân Tông, Hưng Ninh Vương Trần Tung (Tuệ Trung Thượng sĩ), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Bảo Thánh Hoàng hậu,…Trong đó nhân vật chính là Vua Phật Trần Nhân Tông do nghệ sĩ Trần Quang Khải đóng vai.

 Triết lý của câu chuyện giết hổ và chia thịt hổ là cơ sở để vở diễn dẫn dắt giải quyết những nội dung lý giải việc Trần Nhân Tông từ Vua thành Phật. Trần Nhân Tông dạy con là Trần Anh Tông: khi con làm vua, đứng đầu thiên hạ, con phải biết: “giết hổ tưởng khó mà dễ hơn chia thịt hổ”. Bởi khi biết hổ dữ, để giết nó thì ai cũng đồng lòng hướng mũi tên, chĩa ngọn giáo về phía hổ mà giết cho được. Khi chia thịt, ai cũng muốn phần hơn. Vì thế mà dẫn tới việc tranh công, đổ lỗi, từ đó sinh hiềm khích, tàn hại lẫn nhau. Đứng đầu thiên hạ phải biết: chống giặc ngoại xâm khác gì giết hổ, nhưng hòa bình, thảnh thơi khi đó mới thực sự gian nan. Pháp trị có thể nghiêm nhưng khó tránh được tệ nạn do đố kỵ, hiềm khích mà phần lớn từ hoàng tộc mà ra. Giải quyết tận gốc cái khó khăn trong việc “chia thịt hổ” không có cách nào khác là lấy đức lục hòa mà giáo hóa nhân tâm, lấy thanh tịnh thân, khẩu, ý làm nhân cho đạo đức thì đó là gốc bền để trên dưới thuận hòa, xã tắc trường tồn.

Tư tưởng ấy là tiền đề quan trọng, lý giải việc Trần Nhân Tông xuất gia tu Phật để đề cao đạo Phật, thực hiện “dựng Đạo để xây Đời”. Xuất phát điểm này khác với xuất phát điểm của Đức Phật xư kia. Đức Phật xưa đi tìm đạo trong bối cảnh chưa có đạo Phật, chưa hiểu tìm đạo để làm chủ sinh, già, bệnh, tử, tìm đạo để giải thoát khổ đau cho con người là đạo gì. Nhưng Trần Nhân Tông xuất gia đi tu khi đã có đạo Phật và đã hiểu đạo Phật, bởi từ nhỏ Trần Nhân Tông đã học Phật trong một xã hội Phật giáo là chính đạo, Phật giáo đã thịnh hành, được tôn trọng đề cao, theo truyền thống của Trần tộc lúc bấy giờ vua quan đã lấy Phật giáo làm mực thước ứng xử, đặc biệt Trần Nhân Tông là học trò ưu tú của Tuệ Trung Thượng sĩ (Hưng Ninh vương Trần Tung), người bác trong hoàng tộc, người rất uyên thâm về Phật giáo. Năm 18 tuổi Trần Nhân Tông đã được Tuệ Trung Thượng sĩ ấn chứng là người liễu đạo (chứng đạo Phật), người khi còn ở trong cung đã viết  Cư trần lạc đạo phú “ Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm” tác phẩm thể hiện sự thoát tục của bậc chứng đạo giải thoát. Như vậy Trần Nhân Tông xuất gia tu Phật chính là việc xiển dương, dựng đạo Phật để lấy đạo Phật mà giáo hóa nhân tâm vun bồi trí đức làm gốc vững bền cho sự trường tồn của xã tắc. Lập thiền phái Trúc lâm nột pháp môn tu hành hợp với căn cơ người Việt là muốn tìm một hướng đi riêng để nhằm đưa đạo Phật vào cuộc sống nhân gian hiệu quả nhất, đồng thời cũng tỏ rõ độc lập của Đại Việt trong “dựng Đạo tạo Đời”. Việc Trần Nhân Tông chọn núi Yên Tử là nơi tu hành không phải thuần túy chỉ để tu hành mà chính từ nhãn quan của bậc đế vương liễu đạo, Trần Nhân Tông đã nhận ra giá trị của núi Yên Tử là ngọn núi thiêng và nếu lấy núi này làm nơi xiển dương Phật giáo thì không chỉ dựng được Đạo mà còn xây dựng được thế trận lòng dân từ đây chạy dọc tuyến biên giới phía Bắc mà chống chọi với quân xâm lược phương Bắc, vì:

Cây thành thần mộc

Đá hóa thạch linh

Người người có đạo

Giặc nào không kinh

Bảy trăm năm hơn, từ khi Trần Nhân Tông về tu ở núi Yên Tử, nơi đây đã trở thành nơi thắng địa. Bởi thế nên mới có câu:

Phật Hoàng ngự giá

Yên Tử vươn mình,

Muôn đời sáng mãi

Tối cao tối linh

Khác với các vị vua ở Việt Nam, Trần Nhân Tông là một người đã liễu đạo làm vua nên có khác nào một nhà sư trên ngai vàng với tưởng từ bi, khoan dung và nhãn quan thấu triệt tính “hòa quang đồng trần”. Vì thế Trần Nhân Tông luôn thể hiện tính hòa giải trong mọi vấn đề, mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với lục hòa của Phật giáo đã thấm đẫm trong Trần Nhân Tông từ bé:

Đối với nhân dân, lấy triết lý Phật giáo làm tư tưởng chủ đạo để cố kết nhân tâm, vun bồi trí đức cùng nhâu xây dựng cuộc sống an lạc, lấy lục hòa của Phật giáo để chung sống. Trần Nhân Tông luôn tôn trọng và đề cao nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước. luôn đề cao và thực hiện tinh thần hòa hợp giữa vợ-chồng, cha- con, vua-tôi,.. Luôn tôn trọng và xem tất cả đều giống nhau, như ánh sáng cây đèn, đèn lớn thì ánh sáng mạnh hơn, đèn nhỏ ánh sáng yếu hơn, nhưng ánh sáng của đèn lớn đèn nhỏ hòa chung thành một ánh sáng, vốn chẳng có khác, dù muôn ngàn cây đèn cũng cùng một ánh sáng, gọi là hòa quang đồng trần. 

 Đối với trong nước, tư tưởng hòa giải là nền tảng cốt lõi để tạo nên sức mạnh đoàn kết trong chống giặc ngoại xâm và trong xây dựng đất nước. Khi đất nước đứng trước sự xâm lăng của giặc phương Bắc, Trần Nhân Tông đã cho triệu tập các tướng lĩnh cùng bàn kế và khẳng định quyết tâm đánh giặc tại Hội nghị Bình Than. Hội nghị Diên Hồng còn dành riêng cho các bô lão toàn quốc nghị bàn kế sách và quyết tâm đánh giặc. Hai hội nghị tiêu biểu ấy thể hiện sự dân chủ, lòng tôn trọng của Vua đối với cấp dưới, đối với quân dân, đó là đỉnh cao trong nghệ thuật hòa thuận để giải quyết việc chung. Đối xử với các tù trưởng vùng biên ải, nhân khi bên ngoài giặc lăm le xâm lược, trong nước phải tập trung cao độ cho chống giặc ngoại xâm, một số tù trưởng vùng phên dậu tỏ ra lạnh nhạt, bất tuân phục triều đình như Trịnh Giác Mật- vùng Đà Giang, Trần Nhân Tông đã cử những vị Thân vương giỏi và có uy tín với người vùng cao, thấu hiểu phong tục tập quán vùng biên cương như Trần Nhật Duật, thân tới tận nơi sơn lâm, làm gương úy lạo để thu phục nhân tâm, tránh hiểm họa nồi da xáo thịt… Sau chiến thắng quân Nguyên Mông xâm lược, Trong lễ ban thưởng cho những người có công. Tới phần luận tội, Trần Nhân Tông không cho mở hòm đựng thư của một số quan lại triều Trần mật gửi xin hàng vì sợ thế giặc mạnh (do quân báo thu được trong cuộc chiến) mà cho đốt trước Điện rồng. Việc làm ấy đã tránh được cảnh huynh đệ tương tàn, tạo nên thù oán sau chiến tranh,  những việc làm đó đã tạo được lòng tin và sự kính trọng của quân dân đối với một vị Hoàng đế anh minh, khoan dung, độ lượng. Từ đó ân đức âm thầm khắc cốt ghi tâm của những người được tha thứ lầm lỗi không bị tiếng tai phản vua hại nước. Vì thế mà tất cả hết lòng phò Vua giúp nước.

Đối với  các nước lân bang, Trần Nhân Tông luôn thể hiện sự tôn trọng hòa bình của các nước, lấy hòa hiếu và sự tương trợ nhau để đối xử. Sau khi xuất gia dưỡng đạo, Ngài đã thân hành đi khắp nơi dạy dân về nếp sống lục hòa, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, thân tới tận hai nước láng giềng Ai lao, Chiêm Thành dùng tư tưởng hòa giải nhằm thắt chặt mối đoàn kết. Mối nhân duyên giữa Công chúa Huyền Trân  và vua Chiêm Thành- Chế Mân do Trần Nhân Tông sắp đặt thể hiện mong muốn về sự hòa hiếu bang giao giữa hai nước lân bang, đồng thời cũng thể hiện tâm nguyện mong muốn một Hoàng hậu- Quốc mẫu có thể dùng đức hiếu sinh qua tư tưởng nhân hậu- Phật giáo của người Việt mà chuyển hóa nhân tâm, dần thay đổi một số tập tính  của người Chiêm Thành, ngăn chặn những cuộc tương tàn giữa hai bên lúc bấy giờ. Tiếc thay mối nhân duyên ấy chỉ được ba năm Chế Mân đã băng hà.

Đối với kẻ thù xâm lược, khi chiến tranh thì vua tôi “sát thát” một lòng giết giặc. Khi giặc thua thì nhìn thấy thây giặc chết mà thương không khác gì quân mình tử trận nên lệnh cho người chôn cất tử tế. Đối với quân thua trận đã quy hàng thì tha cho về nước, cho lương ăn, cho người bảo vệ. Lịch sử còn ghi Hưng Trí Vương- Trần Quốc Nghiễn mãi truy sát quân giặc, chưa biết lệnh Vua, đánh  vào đoàn quân giặc thua trận chạy về nước, phạm tội sát kẻ thù đã quy hàng, vì thế mà không được tính công ban thưởng. Sự anh minh rạch ròi ấy không chỉ quân thù phải tâm phục khẩu phục, mà quân dân trong nước cũng ngợi ca về một bậc minh quân anh hùng mà nhân hậu hết mực.

Tấm lòng khoan dung, tư tưởng hòa giải đó đã thu phục được cả xã hội và các nước lân bang lúc bấy giờ. 15 năm trên ngôi vị Hoàng đế, Đại Việt trở thành quốc gia hùng mạnh về nhiều mặt từ quân sự, văn hóa, kinh tế,…Dù trên ngai vàng hay trong mọi vị thế Trần Nhân Tông không chỉ giỏi điều binh khiển tướng đánh giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, Ngài còn là nhà chiến lược tài ba trong kiến thiết đất nước, là nhà văn hóa với nhiều áng thơ văn kiệt tác, nhà tu hành nhập thế luôn gắn đạo với đời. Ở lĩnh vực nào Ngài cũng là đỉnh cao của tài năng và trí tuệ trác việt thể hiện sự hào sảng của một bậc minh quân - bậc Giác ngộ xuất thế trong chốn nhân gian.

Ngoài những nội dung như đã nêu, vở diễn còn nhiều cảnh sống động với nội dung phản ánh sự khốc liệt, mất mát đau thương do chiến tranh, những cố gắng của cả một dân tộc bất khuất được lãnh đạo bởi một bậc minh quân trong chiến tranh và trong khôi phục xây dựng đất nước. Vở diễn còn đề cập tới nhiều tình tiết thể hiện phẩm chất trác việt của nhiều nhân vật nổi tiếng thời Trần mà đặc biệt là Trần Nhân Tông, người được tôn vinh là Phật Hoàng hay Vua Phật không chỉ bởi Ngài xuất gia tu hành và lập nên Thiền phái Trúc lâm riêng có ở Việt Nam còn tồn tại tới ngày nay mà còn bởi  từ cuộc đời và sự nghiệp của Ngài ở đâu, lúc nào cũng toát lên trí tuệ và đức hạnh tuyệt luân của Phật. Hơn bảy trăm năm sau khi Trần Nhân Tông viên tịch, nhưng tấm gương công hạnh của Ngài vẫn còn nguyên tính thời sự để hậu thế chúng ta học tập. Tư tưởng “hòa quang đồng trần” của Trần Nhân Tông cần được đề cao, được vận dụng để đoàn kết người Việt Nam trong và ngoài nước cùng chung nhau xây dựng quê hương Việt Nam. Đoàn kết cùng bạn bè quốc tế, để hướng tới xây dựng một xã hội  bình an, hạnh phúc.

Vở Cải lương Vua Phật được xây dựng bằng kinh phí xã hội hóa. đang được gấp rút thực hiện để hoàn thành và công diễn vào đúng dịp kỷ niện 707 năm ngày nhập niết bàn của Vua Phật Trần Nhân Tông một nhân vật vĩ đại cần được cho hậu thế biết đến mà tự hào mà phát huy để cùng nhau xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn, như lời bài hát làm nền cho vở kịch đã nêu.

Rũ  bỏ lợi danh thả tâm nhàn

Trọn đời hạnh nguyện nước non an

Minh quân giữ nước ngời sát thát

Sơ Tổ vì dân dựng thảo đàn

Trúc Lâm thiền phái vang Phật quốc

Cư trần lạc đạo ngát nhân gian

Phản quang tự kỷ tâm Phật tại

Nết dụng sơn lâm đặng Niết bàn

Trí đức viên dung hòa hợp thể

Nhật Nguyệt hùng huy tại giang san./.

Hữu tâm

Đôi nét về vở cải lương Vua PhậtThời lượng vở diễn khoảng 150 phút, nội dung gồm tám cảnh, trên sân khấu kịch hoành tráng và hiện đại để tái hiện lại một giai đoạn lịch sử hào hùng và oanh liệt nhất của dân tộc ta, đó là những năm tháng oai hùng của triều đại nhà Trần với ba lần chiến thắng
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Rộng cửa cho các tôn giáo hoạt động
Các tôn giáo trong sự phát triển của cộng đồng
Các quốc gia sẽ nắm vai trò quan trọng với Công giáo
Cách mạng Tháng Tám và câu chuyện đoàn kết tôn giáo
Không tôn giáo nào nói rằng hiến tặng mô, tạng là điều không nên
Vài nét về mối quan hệ giữa Tòa Thánh Vatican với Tòa Thượng phụ Constantinople hiện nay
Mấy kỷ niệm về những năm gắn bó với công tác tôn giáo
Công tác tôn giáo với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Công tác quản lý nhà nước về trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo
Những kỷ niệm khó quên về Ban Tôn giáo Chính phủ
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Các tổ chức Tin Lành chuyển đổi hình thức sinh hoạt tôn giáo để phòng, chống dịch Covid-19
Hàng vạn du khách dự lễ khai hội đền Sóc Xuân Canh Tý 2020
Nghi lễ 'Tống cựu nghinh Tân' tại Hoàng thành Thăng Long
Audio
TS. Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về Công tác chấn chỉnh các hoạt động lệch chuẩn tôn giáo tại các cơ sở thờ tự của Phật giáo
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn