Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 24/09/2019 12:43 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Công tác quản lý nhà nước về trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo

Trong những năm qua việc trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo đã được Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo nhất là từ khi có luật Xây dựng và từ năm 2002 Nhà nước ban hành luật Di sản văn hoá thì việc trùng tu di sản, di tích và các công trình tôn giáo đã đi vào nền nếp, bảo đảm tuân thủ theo pháp luật, giữ gìn được bản sắc văn hoá của dân tộc. Hiện nay cả nước có hơn 40 nghìn di tích thắng cảnh trong đó có hơn 3 nghìn di tích được xếp hạng cấp quốc gia và hơn 5 nghìn di tích được xếp hạng cấp tỉnh, thành phố.

Hàng năm trên phạm vi cả nước có hàng vài chục công trình di sản cấp quốc gia được trùng tu do Nhà nước đầu tư, hàng trăm di tích, các công trình tôn giáo thuộc cấp tỉnh quản lý, hàng nghìn công trình di tích, công trình tôn giáo ở cơ sở được trùng tu ở những cấp độ khác nhau. Nhìn chung việc trùng tu đã được các cấp quan tâm đầu tư kinh phí của Nhà nước, các tổ chức từ thiện, sự đóng góp của nhân dân. Thủ tục xây dựng cơ bản và được thực hiện theo luật xây dựng, các công trình sau khi trùng tu, bảo đảm về mỹ thuật, kiến trúc, giữ được những nét kiến trúc cổ và bản sắc về văn hóa dân tộc, các công trình đã được xếp hạng ít bị xâm hại.

Tuy nhiên, việc trùng tu di sản, di tích và các công trình tôn giáo trong những năm qua còn bộc lộ một số yếu kém, hạn chế, những vấn đề đáng quan tâm đó là:

1. Nhận thức về trùng tu chưa đúng. Trùng tu di sản, di tích là vấn đề quan trọng đã được luật di sản văn hóa quy định, vấn đề cốt lõi là phải giữ được nguyên trạng kiến trúc cổ của các công trình, không được xâm hại, làm biến dạng, méo mó đi, một số công trình đã bị phá dỡ đi, lắp ghép lại, hoặc làm mới, có những hạng mục thay cả vật liệu từ gỗ sang gạch, đá, thay cả hoa văn họa tiết cổ mà ông cha ta đã dựng nên có công trình hàng nghìn năm tuổi. Nguồn vốn Ngân sách của Nhà nước giành cho trùng tu có hạn, nên một số nơi sử dụng nguồn vốn công đức, một số nhà đầu tư làm từ thiện đầu tư bỏ vốn vào mở rộng, xây mới với quy mô lớn hơn, bề thế hơn, có nơi đã đưa lối kiến trúc mới, các hạng mục công trình được làm mới khập khễnh so với kiến trúc cổ không bảo đảm yếu tố nguyên gốc của di sản, di tích đã làm mất đi vẻ đẹp kiến trúc cổ của dân tộc.

2. Công tác quản lý Nhà nước về trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo còn nhiều yếu kém và bất cập. Trước hết là công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật chưa tốt, các cấp các ngành và nhân dân chưa nắm được luật Di sản văn hóa, luật Xây dựng, do vậy có nhiều hiện tượng làm lấn, làm trái quy định, không tuân thủ quy trình, quy phạm trong xây dựng cơ bản về trùng tu, bảo vệ di sản, di tích. Công tác phân cấp quản lý di sản, di tích, các công trình tôn giáo chưa được chỉ đạo chặt chẽ, rõ ràng như quản lý chất lượng công trình, quản lý vốn đầu tư để trùng tu, thiếu kiểm tra kiểm soát, nên một số công trình đã xuống cấp có nguy cơ sập đổ không có biện pháp để trùng tu. Công tác bảo vệ di sản ở nhiều nơi di sản di tích, trung ương giao cho tỉnh, tỉnh lại giao cho huyện, huyện lại giao cho cơ sở quản lý, người bảo vệ không có chuyên môn nghiệp vụ, không có hiểu biết về pháp luật, lịch sử, văn hóa, ở một số chùa lớn cấp quốc gia, các sư được phân công chủ trì do không có trình độ quản lý, bảo vệ nên dễ dẫn đến sai phạm.

3. Do thiếu hiểu biết về chính sách pháp luật của Nhà nước, người chủ trì các công trình di sản, di tích, công trình tôn giáo còn làm trái quy định, các thủ tục về xây dựng cơ bản, lại không được các cơ quan chuyên môn hướng dẫn nên còn vi phạm về nguyên tắc như, xây dựng thiếu quy hoạch, thiết kế, dự toán chưa được thẩm định phê duyệt, cá biệt có công trình chưa được cấp phép đã xây dựng, khi thanh tra kiểm tra một số công trình phải dừng thi công để làm thủ tục.

4. Về quản lý vốn đầu tư xây dựng có nơi chưa chặt chẽ, thiếu dân chủ công khai, có nơi nhân dân còn thắc mắc trong nội bộ. Hiện nay vấn đề xã hội hóa trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo, có mặt tích cực là tạo được vốn cho công trình, nhưng mặt trái là làm bất chấp không giữ được kiến trúc cổ và bản sắc văn hóa dân tộc, hoặc phá đi làm lại, hoặc làm theo ý của những người có vốn đóng góp.

5. Công tác quản lý kỹ thuật xây dựng chưa được quan tâm, các nhà đầu tư thì muốn lợi nhuận cao, phần nhiều các đơn vị thi công là các công ty xây dựng,  đội ngũ thợ xây dựng thiếu kinh nghiệm trong bảo tồn di sản, di tích, lịch sử, văn hóa thiếu bằng cấp, đào tạo cơ bản, thi công còn chắp vá chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm.

6. Những vấn đề nêu trên thể hiện rất rõ ở sự kiện chùa Trăm Gian ở Chương Mỹ Hà Nội bị xâm hại vừa qua. Sau khi chùa được hạ giải hàng tháng nhưng xã, huyện, thành phố, Bộ Văn hóa không biết, nhân dân đã đóng góp tiền, một số người làm từ thiện đã bỏ vốn đầu tư để xây dựng công trình. Khi các cơ quan thanh tra, kiểm tra vào cuộc thì sự việc đã rồi, một số hạng mục kiến trúc cổ đã bị xâm hại, cũng may mà hạng mục chính vẫn còn. Điều này thể hiện sự yếu kém về công tác quản lý Nhà nước đối với việc trùng tu di sản, di tích, công trình tôn giáo, yếu cả về tuyên truyền giáo dục pháp luật, quản lý di sản, di tích, yếu cả về hướng dẫn thủ tục xây dựng cơ bản, phân cấp bảo quản di tích, thanh tra kiểm tra. Đây cũng là bài học của công tác quản lý Nhà nước về trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo cần phải được rút kinh nghiệm sâu sắc bảo đảm đưa vấn đề này vào nền nếp.

Từ thực tế trên đây, để tăng cường công tác quản lý Nhà nước về trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo cần nắm vững và thực hiện tốt một số vấn đề sau đây:

1. Tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương chính sách pháp luật  của Đảng và Nhà nước về di sản, di tích, các công trình tôn giáo. Đặc biệt là tuyên truyền về luật Di sản văn hóa, luật xây dựng để mọi người hiểu được những nguyên tắc cơ bản về trùng tu, về thủ tục, quy trình xây dựng cơ bản đề thực hiện. Khi trùng tu di sản, di tích phải có vốn đầu tư, báo cáo đầu tư hoặc dự án được phê duyệt, thực hiện nghiêm túc các bước khảo sát thiết kế, thẩm định, kiểm định chất lượng, cấp phép xây dựng, kiểm tra giám sát, nghiệm thu và đưa vào sử dụng. Đặc biệt phải bảo đảm việc giữ gìn các hạng mục kiến trúc cổ, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc. Tránh những hiện tượng làm sai nguyên tắc, vi phạm pháp luật.

2. Thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về trùng tu di sản, di tích các công trình tôn giáo tập trung vào những vấn đề chủ yêu sau đây:

- Cơ quan quản lý Nhà nước các cấp phải hướng dẫn về trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo trong việc quản lý, bảo vệ di sản, di tích, hướng dẫn các thủ tục khảo sát, lập kế hoạch, báo cáo đầu tư hoặc dự án, thiết kế, dự toán trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Tập trung vốn trùng tu cho các công trình xuống cấp, hướng dẫn huy động các nguồn vốn để trùng tu.

- Tăng cường việc kiểm tra giám sát thực hiện quản lý di sản, di tích, các công trình tôn giáo và quá trình thực hiện trùng tu. Hàng năm người quản lý, bảo vệ, chủ trì các di sản, di tích, công trình tôn giáo phải báo cáo với cơ quan quản lý có thẩm quyền về chất lượng, hiện trạng di sản, di tích, kế hoạch trùng tu (nếu có). Cơ quan quản lý Nhà nước các cấp phải xem xét và có kế hoạch trùng tu. Phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai sót trong quá trình thực hiện ở cơ sở.

3. Thực hiện chặt chẽ việc phân cấp quản lý di sản, di tích, các công trình tôn giáo, phân định trách nhiệm rõ ràng đối với cơ quan quản lý Nhà nước về quản lý, đầu tư trùng tu, trách nhiệm của cơ sở và người chủ trì bảo quản di sản, di tích. Tránh trường hợp như sự kiện chùa trăm gian ở Chương Mỹ Hà Nội vừa qua, khi vi phạm pháp luật, xâm hại di sản thì chẳng có ai chịu trách nhiệm chính. Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý sẽ góp phần tích cực vào việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Cơ quan quản lý Nhà nước cần ban hành các quy chế như: Quy chế quản lý vốn đầu tư và quỹ công đức. Tránh trường hợp khi có vốn kể cả quỹ công đức và vốn của các nhà từ thiện khi trùng tu thực hiện bất chấp, không giữ được những nét kiến trúc cổ và di sản văn hóa dân tộc. Phải có quy chế về bảo vệ, bảo quản di sản, di tích, các công trình tôn giáo, xác định rõ trách nhiệm của địa phương và người chủ trì, có quy chế riêng quy định các di sản di tích cấp quốc gia phải do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quản lý, không để các địa phương, huyện, xã quản lý và trùng tu tự phát.

4. Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ những người làm công tác bảo tồn, chủ trì tại các di sản, di tích công trình tôn giáo bảo đảm họ phải có bằng cấp, có am hiểu về pháp luật, lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, có ý thức trách nhiệm, có phẩm chất đạo đức, được nhân dân tín nhiệm, đồng thời phải củng cố và xây dựng đội ngũ tư vấn về chuyên môn nghiệp vụ, có như vậy việc trùng tu di sản, di tích các công trình tôn giáo mới đúng đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.

5. Để việc thực hiện trùng tu di sản di tích các công trình tôn giáo đạt chất lượng hiệu quả phải củng cố ban quản lý dự án bao gồm những người biết việc có chuyên môn xây dựng, đồng thời tuyển chọn đơn vị thi công có năng lực, có thợ giỏi, tay nghề cao về trùng tu di sản, di tích. Càn giảm bớt các thủ tục rườm rà không cần thiết trong việc xem xét hồ sơ và cấp phép xây dựng tạo điều kiện cho cơ sở thực hiện. Củng cố hồ sơ của di sản, di tích, các công trình tôn giáo để có cơ sở trùng tu bảo đảm gìn giữ được những nét kiến trúc cổ và bản sắc văn hóa dân tộc.

6. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cần thống nhất với các tổ chức tôn giáo Việt Nam và các cơ quan chức năng về những vấn đề phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý Nhà nước đối với việc trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo, chức năng nhiệm vụ đối với các cấp các ngành có liên quan và cơ sở không để chồng chéo, nhiệm vụ quyền hạn không rõ ràng trong việc trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo. Đồng thời cần nghiên cứu điều chỉnh một số điểm trong luật Di sản văn hóa cho phù hợp với tình hình hiện nay.

Trên đây là một số vấn đề về công tác quản lý Nhà nước trong việc trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáo. Thực hiện tốt những vấn đề đã nêu, hy vọng việc trùng tu di sản, di tích các công trình tôn giáo sẽ có nền nếp, đúng pháp luật, góp phần giữ gìn kiến trúc cổ và bản sắc văn hóa dân tộc.

Nguyễn Hồng Chương

Công tác quản lý nhà nước về trùng tu di sản, di tích, các công trình tôn giáoHàng năm trên phạm vi cả nước có hàng vài chục công trình di sản cấp quốc gia được trùng tu do Nhà nước đầu tư, hàng trăm di tích, các công trình tôn giáo thuộc cấp tỉnh quản lý, hàng nghìn công trình di tích, công trình tôn giáo ở cơ sở được trùng tu ở những
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Những kỷ niệm khó quên về Ban Tôn giáo Chính phủ
Tiền Giang: 20 năm thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với đạo Cao đài (1995-2015)
Trách nhiệm của Phật giáo Hòa Hảo tham gia giải quyết những vấn đề xung đột của xã hội hiện đại
Lễ hội và những vấn đề đặt ra về quản lý lễ hội
Những tiếng nói thiện chí của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và trong nước về tự do tôn giáo ở Việt Nam
Báo chí với việc phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp các tôn giáo, góp phần xây dựng và phát triển đất nước văn minh
Chủ động đề xuất đơn đặt hàng tư vấn
Luật nhân quả: Giàu là do siêng giúp người, nghèo là do bủn xỉn
Quy tắc cần biết khi đến thăm các quốc gia Hồi giáo
Câu chuyện văn học: Liên quan đến cửa Thiền
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn