Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 15/10/2019 10:53 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tìm Hiểu Ngày Lễ Tạ Ơn

Hằng năm vào cuối tháng 11, dân chúng Hoa Kỳ lại kỷ niệm Lễ Tạ Ơn.  Lễ Tạ Ơn được những di dân đầu tiên đến Hoa Kỳ tổ chức cách đây khoảng 400 năm. Những di dân đó là những tín hữu Tin Lành, họ quyết định mỗi năm dành riêng ra một ngày để tạ ơn Chúa vì Chúa đã bao dung che chở họ giữa những khó khăn trong cuộc sống và đã ban cho họ cơ hội tự do thờ phượng Ngài. Truyền thống tốt đẹp đó theo thời gian đã được cả nước Mỹ công nhận và trở thành một ngày quốc lễ quan trọng tại Hoa Kỳ.

1. Bối cảnh lịch sử

Giữa thế kỷ thứ 15, Âu Châu đang sống trong thời hoàng kim. Trong cuộc sống thịnh vượng vốn đã giàu có, việc khám phá ra những mỏ bạc tại Tyrol và tại nhiều nơi khác ở Âu Châu làm cho số lượng tiền bạc lưu hành tại Âu Châu ngày càng nhiều hơn. Tiền bạc dồi dào khiến giới quý tộc và cả giới trung lưu tại Âu Châu càng ăn chơi xa xỉ. Dân chúng Âu Châu ưa chuộng hàng hóa, vật phẩm, những của ngon vật lạ từ Ấn Độ, Viễn Đông và nhất là từ Trung Hoa xa xôi.

Khi ấy, mặc dầu Con Đường Tơ Lụa giữa Âu Châu và Trung Hoa đã được nối liền, nhưng sa mạc Gobi và những rặng núi cao hiểm trở ở Trung Á khiến những đoàn thương buôn không thể nào cung ứng đủ nhu cầu hàng hóa, nhất là vải vóc, tơ lụa, hương liệu, cho dân chúng Âu Châu. Vì thế, các thương nhân Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đã dong buồm ra khơi; những nhà hàng hải Âu Châu hy vọng sẽ tìm được một con đường đến Ấn Độ và Trung Hoa dễ dàng hơn đường biển.

Năm 1487, Bartholomew Diaz đi vòng mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) tại Nam Phi đến Ấn Độ, sau đó từ Ấn Độ trở về lại Âu Châu. Tuy nhiên tuyến đường đầy sóng gió này không mang lại nhiều triển vọng cho việc kinh doanh. Vùng biển nổi sóng quanh mũi Hảo Vọng đã làm cho nhiều nhà buôn khánh kiệt. Vài năm sau, một thuyền trưởng người Ý tên là Christopher Columbus, quê tại Genoa, phục vụ cho triều đình Tây Ban Nha, đã thuyết phục Nữ hoàng Isabella trợ cấp tài chính để ông vượt biển tìm đường đến châu Á về hướng tây.  Ngày 3/8/1492, Columbus nhổ neo tại Palos. Hai tháng sau, ngày 12/10/1492, ông đặt chân đến quần đảo Watling, thuộc vùng biển Caribbean (Trung Mỹ). Columbus cho rằng đã đến được các quần đảo ngoài khơi Trung Hoa. Vài ngày sau, ông đổ bộ lên Cuba, vì nghĩ rằng đã đến đại lục Trung Hoa nên Columbus đã cử người đi triều kiến Thành Cát Tư Hãn.

Sau bốn chuyến vượt Đại Tây Dương, Columbus qua đời và ông vẫn tin rằng mình đã đến Á Châu. Những thổ dân đầu tiên mà ông gặp có nước da ngăm đen đã được gọi là người Indian vì Columbus và những người cùng đi cứ nghĩ rằng đó là người Ấn Độ (India). Năm 1497, John Cabot, một nhà thám hiểm Anh đặt chân đến Bắc Mỹ. Vùng đất bao la trù phú này gần như không thấy bóng người. Đây đó có vài bộ lạc Da Đỏ đóng trại, những chú bò rừng nhởn nhơ gặm cỏ khắp nơi. Cuộc thám hiểm của John Cabot là sự kiện quan trọng giúp nước Anh trong những năm về sau công bố Bắc Mỹ là thuộc địa của Anh.

Sự kiện lịch sử quan trọng thứ hai liên quan đến việc những di dân đầu tiên đến Tân Thế Giới xảy ra 25 năm sau ngày Columbus tìm ra Châu Mỹ.   Ngày 31/10/1517 một linh mục người Đức tên là Martin Luther đã dán 95 Luận Đề trên cửa nhà thờ Wittenberg đề nghị các nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo hãy sửa lại những sai lầm trong giáo hội. Không mấy ai vào lúc đó nghĩ rằng những luận đề trên của Martin Luther chính là khởi điểm của Phong Trào Cải Chánh và dẫn đến việc thành lập Giáo hội Tin Lành.  Tuy nhiên, Phong Trào Cải Chánh sau những khởi đầu tại Đức, Thụy Sĩ đã lan rộng sang nhiều quốc gia Âu Châu.

Trong thế kỷ 16, nhiều cuộc tranh giành quyền lực đã diễn ra tại Âu Châu.  Các nhà lãnh đạo Âu châu trong thời gian đó đã xem tôn giáo như là một phương tiện để giành ảnh hưởng chính trị, do đó dẫn đến việc các lãnh đạo địa phương hoặc quốc gia bày tỏ sự ủng hộ Tin Lành hoặc Công giáo.

Một sự kiện đáng lưu ý xảy ra vào năm 1534 tại Anh, sau những xung đột về chính trị, và đồng thời bất bình vì Giáo Hoàng không phê chuẩn cuộc hôn nhân cho ông và Anne Boleyn, vua Henry VIII của nước Anh đã quyết định tách Giáo hội Anh khỏi Công giáo và thành lập Anh Quốc giáo. Vua Henry VIII tuyên bố Anh Quốc giáo không lệ thuộc vào sự điều khiển của Giáo Hoàng và vua tự xưng mình là lãnh đạo tối cao của Giáo hội Anh.

2. Những di dân đầu tiên tới Mỹ

Lịch sử cho thấy động cơ dẫn đến thành lập Anh Quốc giáo của vua Henry VIII là vì quyền lợi riêng của nhà vua và nước Anh chứ không phải vì muốn ủng hộ Phong Trào Cải Chánh. Trên thực chất, nghi thức thờ phượng và quan điểm thần học của Anh Quốc giáo vào lúc đó vẫn còn mang nặng đặc điểm của Giáo hội Công giáo. Một số tín hữu Tin Lành tại Anh muốn được thờ phượng Chúa cách thuần khiết (purity) dựa trên căn bản Thánh Kinh. Những tín hữu này không hoàn toàn đồng ý với nghi thức, tín lý và tổ chức của Anh Quốc giáo.   Vì quan điểm niềm tin thuần khiết đó, những người này đã được gọi là những người Puritan (Thanh giáo). Cộng đồng Puritan tin rằng Cơ Đốc nhân là những người được Chúa chọn.  Hội Thánh được thành lập từ những người được cứu và cần được hướng dẫn bởi chính Chúa.

Mặc dầu không tán đồng quan điểm của Anh Quốc giáo, đa số tín hữu Puritan vẫn sinh hoạt trong Anh Quốc giáo.  Nhóm tín hữu này hy vọng sẽ kêu gọi và dần dần sẽ cải cách những tồn tại về nghi thức thờ phượng và tín lý của Anh Quốc giáo.  Những tín hữu theo khuynh hướng này được gọi là những người Thanh giáo bất ly khai (non-separating Puritan). Tuy nhiên trong những người Puritan, có một nhóm không hy vọng sẽ cải cách được Anh Quốc giáo, họ đã quyết định ly khai. Năm 1606, những người này tách ra thành lập một Hội Thánh tại Scrooby, và được gọi là nhóm Thanh giáo Ly Khai (Separatists Puritan). Quyết định ly khai này khiến chính quyền Anh và các nhà lãnh đạo Anh Quốc giáo nổi giận. Nhóm Thanh giáo Ly Khai đã bị chính quyền Anh bách hại. Trước những khó khăn chất chồng, năm 1609, một số tín hữu Thanh giáo Ly Khai đã rời nước Anh đến Hà Lan, một quốc gia ủng hộ Tin Lành, để được tự do thờ phượng Chúa.

Mười năm sau, một lần nữa những tín hữu Thanh giáo Ly Khai lại lên đường. Lúc đó, Hà Lan đang có chiến tranh với Tây Ban Nha. Viễn ảnh phải sống dưới sự cai trị của người Tây Ban Nha khiến các tín hữu Thanh giáo Ly Khai lo ngại. Lần này họ quyết định đi thật xa về phía tây, đến một vùng đất được mệnh danh là Tân Thế Giới. Từ lúc còn sống tại Hà Lan, các tín hữu Thanh giáo Ly Khai biết vào năm 1607 có 120 người Anh đã vượt Đại Tây Dương đến thành lập một cộng đồng cư dân tại Jamestown, vùng đất thuộc tiểu bang Virginia Hoa Kỳ ngày nay. Các tín hữu Thanh giáo Ly Khai biết đất đai tại Bắc Mỹ rất rộng.  Dù Bắc Mỹ là thuộc địa của Anh nhưng nơi đó thật sự chưa có chính quyền cai trị, do đó không ai bắt bớ họ trong vấn đề tín ngưỡng, như vậy họ có thể tự do sinh sống và thờ phượng Chúa theo ý nguyện tại vùng đất mới.  Những di dân này đã đến Hoa Kỳ vì lý do tôn giáo, do đó các sử gia đã gọi họ là những người đi hành hương (Pilgrim).

Tháng 9 năm 1620, tàu Mayflower gồm 121 người rời Âu Châu,  trong đó có 102 người là hành khách và số còn lại là thủy thủ đoàn.  Sau hai tháng vượt biển, ngày 9 tháng 11 năm 1620, tàu Mayflower cập bến Mỹ Châu. Ngay khi đặt chân đến vùng đất mới, những tín hữu Thanh giáo Ly Khai đã cũng nhau quỳ gối trên bờ biển cầu nguyện. Họ cùng đọc Thi Thiên 100 để cảm tạ Chúa. Sau nhiều năm tháng gian truân để giữ niềm tin, giờ đây họ đã đến vùng đất mới được bình an, họ được tự do thờ phượng Chúa. Nhớ đến quê nhà, họ đặt tên cho vùng đất mới là Tân Anh-cát-lợi (New England) và chỗ ở mới là Plymouth, tên một thị trấn tại Anh Quốc.

Sau đó, các di dân bắt tay vào việc xây dựng nơi trú ẩn qua mùa đông. Tuyết rơi phủ khắp mặt đất và núi rừng. Mặt biển ảm đạm mù sương, bầu trời mờ mịt nên thủy thủ đoàn tàu Mayflower cũng quyết định ở lại trú đông với họ. Mùa đông ở Bắc Mỹ thật khắc nghiệt, kéo dài từ cuối tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau. Sau mùa đông đầu tiên đó, lạnh giá đã vật ngã nhiều di dân.  Trong số 102 người đến nơi bình an giờ đây chỉ còn 55 người sống sót. Tuy nhiên, khi mùa xuân đến, tin cậy nơi Chúa, 55 người còn sống này vẫn quyết định ở lại Tân Thế Giới. Họ tiễn thủy thủ đoàn chiếc tàu Mayflower trở về Âu Châu. Tàu Mayflower ra khơi không một hành khách trên tàu. Những người tỵ nạn tôn giáo này quyết định ở lại, chấp nhận đối đầu với cuộc sống cam go để được tự do thờ phượng Chúa và xây dựng cuộc sống mới.

3. Lễ Tạ Ơn

Giữa những khó khăn đó, Đức Chúa Trời chăm sóc họ.  Ngài sai người đến giúp họ. Tisquantum là một thổ dân Da Đỏ thuộc bộ lạc Wampanoag, đã có lần theo chân các nhà thám hiểm sang Anh, nên biết nói tiếng Anh. Tisquantum đã đến giúp những người di dân, hướng dẫn họ cách săn bắn, bắt cá, trồng bắp và trồng các loại rau. Những di dân gọi Tisquantum là Squanto. Squanto là người phiên dịch và cũng là người đứng ra giúp thương thuyết với các lãnh tụ Da Đỏ cho những di dân có chỗ định cư. Sau đó, họ đã ký một thỏa ước giữa những người Thanh giáo và bộ lạc Da Đỏ Wampanoag. Thỏa ước này đã được tôn trọng 50 năm. Mùa thu đến, những di dân thu hoạch vụ mùa đầu tiên thật sung túc. Họ có đủ lương thực dự trữ cho mùa đông và đủ sống cho đến vụ mùa năm sau. Vui mừng vì Chúa đã nhậm lời cầu nguyện ban cho thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu, dân chúng được mạnh khỏe, Thống đốc William Bradford quyết định công bố một ngày để tạ ơn Chúa. Những di dân cũng muốn dùng dịp này để cảm ơn những người Da Đỏ địa phương đã giúp họ trong những ngày mới đến định cư.

Mùa Thu năm 1621, lễ Tạ Ơn đầu tiên được cử hành. Sau thì giờ cầu nguyện, hát Thi Thiên tạ ơn Chúa, một bữa tiệc linh đình kéo dài trong ba ngày được tổ chức. Theo nhật ký của Edward Winslow, một trong số những di dân khi ấy thuật lại: thực khách bữa tiệc gồm có 90 người Da Đỏ, trong đó có vua Massasoyt và 50 người di dân. Đãi tiệc gồm có 4 phụ nữ Anh và 2 cô gái. Trên bàn ngoài những bánh làm từ bắp, khoai, đậu, còn có vịt trời, ngỗng trời và bốn chú gà tây rừng quay vàng rượm. Hai nhóm dân da trắng và da đỏ cùng chung vui. Những người Da Đỏ đáp lại lòng hiếu khách đã đi săn 5 con nai về tặng Thống đốc Bradford và những người di dân.

Mặc dầu lễ Tạ Ơn đầu tiên diễn ra vào tháng 11 năm 1621, tuy nhiên dựa vào truyền thống của người Puritan, các sử gia cho rằng ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên thật sự, có lẽ diễn ra vào ngày 30/6/1623 tức hai năm sau đó. Theo các sử gia, căn cứ theo lời ký thuật của Edward Winslow, ngày lễ Tạ Ơn vào tháng 11/1621 chỉ là một ngày hội mùa. Vì nếu đúng theo truyền thống của người Puritan thì lễ Tạ Ơn là một thánh lễ, thường dành nhiều thì giờ cho việc kiêng ăn, cầu nguyện, sẽ không có yến tiệc linh đình.

Cũng theo các sử gia, sau vụ mùa đầu tiên kết quả, mùa màng của năm thứ hai thu hoạch sa sút. Sau mùa đông thứ ba, khi xuân đến, những di dân bắt đầu tỉa bắp, nhưng hạn hán kéo dài từ tháng Năm, tháng Sáu và sắp sang tháng Bảy. Trước tình hình đó, những người di dân dự định dành trọn tháng Bảy cho sự kiêng ăn, cầu nguyện. Không chờ đến tháng Bảy, tất cả cùng đồng ý và bắt đầu hiệp lòng cầu xin Chúa.

Chiều ngày 30/6/1623, mây đen xuất hiện và trời đổ mưa. Dân chúng vui mừng tạ ơn Chúa và họ càng vui hơn khi Miles Standish báo cho biết đã trông thấy dấu hiệu của tàu Anne chở theo những anh em Thanh giáo Ly Khai còn sót lại tại Leiden, Hà Lan sắp đến. Trước niềm vui đó, Thống Đốc Bradford công bố dành một ngày dâng lên Chúa lời tạ ơn. Và theo các sử gia, đó mới chính thật là ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên – ngày 30/6/1623.

Dù lễ Tạ Ơn đầu tiên diễn ra vào năm 1621 hay 1623, những người di dân này đã quyết định mỗi năm dành một ngày để tạ ơn Chúa. Các tín hữu này quyết định làm như vậy vì họ muốn vâng theo mạng lệnh Chúa truyền cho người Do Thái ngày xưa khi sắp vào Đất Hứa.  Chúa đã dạy rằng: Nếu họ trung tín tin cậy, thờ phượng Chúa, Chúa sẽ ban phước cho họ và cho dòng dõi họ cách sung mãn. Ngược lại, nếu họ chối bỏ Ngài, tương lai của họ nơi vùng đất mới sẽ trở thành bi đát. Đức tin và lòng kính sợ Chúa của những người lập quốc Hoa Kỳ đã là nguồn phước cho nước cộng hòa non trẻ được thành lập hơn 150 năm về sau.

4. Lễ Tạ Ơn đầu tiên

Mặc dầu câu chuyện Lễ Tạ Ơn đầu tiên diễn ra tại Plymount, New England vào năm 1621 đã được ghi lại trong nhiều sách sử Hoa Kỳ, nhưng nhiều địa phương khác vẫn công bố xứ mình mới là nơi đầu tiên tổ chức Lễ Tạ Ơn Chúa. Một trong những địa phương đó là Boston. Khi nhóm Thanh giáo Ly Khai rời Anh Quốc ra đi thì nhóm Thanh giáo Bất Ly Khai vẫn ở lại với hy vọng cải cách Giáo hội Anh. Năm 1625, đến lượt những người này bị vua Charles Đệ I bách hại và do đó họ cũng phải bỏ nước ra đi. Nhóm người này đông, giàu và có tổ chức hơn nhóm Thanh giáo Ly Khai. Thành phần gồm cả dân biểu, mục sư và những người tốt nghiệp đại học. Tuy nhiên, như những người Thanh giáo Ly Khai, họ cũng chỉ là những người tỵ nạn nơi vùng đất mới.

Năm 1630, người Thanh giáo đến Charlestown. Sau đó họ thành lập thành phố Boston tại Massachusetts. Những người này tự nhận là tuyển dân Israel mới và được Chúa chọn đem đến Tân Thế Giới. Họ quyết định xây dựng một cộng đồng sinh hoạt dựa trên căn bản Thánh Kinh. Khi còn ở Anh, những người Thanh giáo không muốn chính quyền can thiệp vào giáo hội, nhưng tại Tân Thế Giới, họ chủ trương giáo hội phải có ảnh hưởng tốt trên chính quyền. Một điều không may, những di dân Thanh giáo đầu tiên đổ bộ lên Massachusetts vào mùa hè, họ không kịp gieo trồng nên không đủ lương thực cho đến mùa thu năm sau. Trước tình hình đó, Thống Đốc John Winthrop cử thuyền trưởng Pierce lái tàu Lyon trở về Anh tìm mua thêm lương thực.

Tháng ngày trôi qua, thời gian dự định cho chiếc Lyon quay lại đã qua nhưng con tàu vẫn biệt tăm. Mùa đông năm đó những người di dân này phải leo lên cây lấy hạt dẻ của sóc để ăn. Họ cũng đi dọc theo bãi biển kiếm sò giữa mùa đông lạnh giá. Những người này không biết rằng chiếc Lyon trên đường về Anh Quốc bất ngờ gặp tàu buồm Ambrose bị nạn, nên phải kéo giúp tàu Ambrose về Bristol sửa chữa. Do đó, sứ mạng tiếp liệu lương thực bị chậm trễ.

Tháng 2 năm 1631, tình thế trở nên tuyệt vọng, Thống đốc Winthrop quyết định công bố ngày 22 tháng Hai sẽ dành thì giờ kiêng ăn cầu nguyện. Trong hoàn cảnh không có thức ăn thì việc kiêng ăn có vẻ dường như là một việc hài hước, nhưng những người Thanh giáo đã thành kính thực hiện.

Đúng vào sáng ngày 22/2/1631, ngày dự định lễ kiêng ăn cầu nguyện, chiếc Lyon cập bến Boston. Con tàu mang tiếp liệu và lương thực thật dồi dào. Trước tình hình đó, Thống đốc Winthrop quyết định đổi ngày kiêng ăn cầu nguyện thành ngày Lễ Tạ Ơn. Từ đó, những người Thanh giáo tại Boston cho rằng họ mới thực sự là những người đầu tiên tổ chức Lễ Tạ Ơn Chúa tại Bắc Mỹ.

Vài năm sau, các nhóm Thanh giáo khác đổ đến Boston ngày càng đông. Năm 1634 đã có mười ngàn dân tại Boston. Tại cộng đồng mới, những luật lệ đặt ra đều dựa trên căn bản Thánh Kinh. Những tín hữu Thanh giáo tin rằng Hội Thánh phải có ảnh hưởng tốt trên xã hội; họ chủ trương các mục sư phải được huấn luyện chu đáo, do đó họ quyết định thành lập trường đại học để đào tạo các mục sư. Harvard College ra đời vào năm 1636. Đây là tiền thân của Viện Đại Học Harvard ngày nay. Ngôi trường đó do những tín hữu Tin Lành đầu tiên đến Mỹ thành lập với mục đích đào tạo các mục sư.  Ngày nay, Harvard là trường đại học cổ nhất nước Mỹ và là một trong những viện đại học danh tiếng nhất trên thế giới.

Tuy nhiên, không phải chỉ có Plymount và Boston, nhưng các thành phố khác như Maine, Virginia, Texas và Florida cũng công bố thành phố mình là nơi đầu tiên tổ chức Lễ Tạ Ơn. Dầu bắt đầu ở đâu, những cư dân đầu tiên đến Hoa Kỳ lập nghiệp đã thành kính nhận biết rằng cuộc đời và tương lai của xứ sở của họ đang ở trong sự quan phòng của Chúa. Họ tin cậy và dâng lên Chúa lòng biết ơn Ngài.

5. Giành Độc lập

Thời gian dần trôi, di dân đổ xô đến Bắc Mỹ càng đông thêm, họ xây dựng vùng đất này thành một khu vực trù phú. Chính phủ Anh vẫn kiểm soát xứ sở này và xem đây là một thuộc địa quan trọng của Anh Quốc. Sau 150 năm hợp tác chấp nhận sự cai trị của Anh, năm 1774 dân chúng tại Bắc Mỹ quyết định đòi độc lập. Họ bất mãn trước sưu cao thuế nặng do mẫu quốc Anh áp đặt trên thuộc địa và các sắc thuế này cứ tiếp tục gia tăng. Lúc ấy, tại Mỹ đã có rất nhiều giáo phái Tin Lành. Khi tiếng súng đầu tiên của cuộc chiến tranh cách mạng nổ ra, những người từng được sinh trưởng và giáo dục tại Anh, và thuộc Anh Quốc giáo, đã rời thuộc địa Bắc Mỹ đi Canada, West Indian hoặc trở về Anh quốc. Trong khi ấy, các mục sư Giám Lý, Presbyterian, Congregational và các giáo phái Tin Lành khác vẫn ở lại thuộc địa. Họ giảng mạnh mẽ về ý thức độc lập, tự do trong các bài giảng nhân ngày Lễ Tạ Ơn.

Cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài từ năm 1773 đến năm 1783 kết thúc thành công. Năm 1793, tại Paris chính phủ Anh ký hòa ước và công nhận nền độc lập của Hoa Kỳ. Năm 1789, George Washington, nguyên Tổng Tư Lệnh quân đội cách mạng, đắc cử và trở thành vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Khi ấy Elias Boudinot, đại biểu của tiểu bang New Jersey, đã đề nghị Tổng Thống George Washington dành một ngày tạ ơn Chúa vì Ngài đã ban cho người Mỹ được độc lập, tự do; và cũng để cầu xin Chúa giúp họ xây dựng một quốc gia bình an và hạnh phúc. Tổng Thống George Washington chấp thuận đề nghị này nên công bố ngày 26/11/1789 là ngày Tạ Ơn trên toàn quốc Hoa Kỳ.

Thật ra, trước đó Lễ Tạ Ơn vẫn được tổ chức hằng năm, tuy nhiên lễ chỉ được tổ chức theo truyền thống của từng địa phương. Đây là lần đầu tiên, một ngày Lễ Tạ Ơn được chính thức tổ chức trên toàn quốc với mạng lệnh của vị nguyên thủ quốc gia. Tổng Thống George Washington vốn là một tín hữu tin kính Chúa, thuộc Giáo hội Episcopal. Khi còn làm Tổng Tư Lệnh quân đội, George Washington đã ra lệnh cho bốn vị tuyên úy dưới quyền mình phải tổ chức lễ thờ phượng mỗi Chúa nhật và Lễ Tạ Ơn hàng năm cho binh sĩ. Ông cho rằng sự thờ phượng Chúa sẽ giúp nâng cao đạo đức trong quân đội, đem lại niềm vui cho người lính, và sẽ giảm thiểu tình trạng say rượu và chưởi thề.

Khi trở thành nguyên thủ quốc gia, Tổng Thống George Washington đã hai lần công bố ngày Tạ Ơn trên toàn quốc. Khi vấn đề này được đem ra thảo luận tại Quốc Hội, một vài đại diện dân cử đã phản đối. Thomas Tucker, đại biểu của tiểu bang South Carolina, cho rằng: “Tại sao Tổng Thống lại ra lệnh cho người dân làm một điều mà có thể người dân không muốn làm? Hãy để việc đó cho các viên chức tiểu bang lo.”

Tuy nhiên, ý kiến của Thomas Tucker khi ấy đã không được các đồng viện tại quốc hội chấp thuận. Do đó, Tổng Thống George Washington đã công bố ngày Tạ Ơn trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Trong lời công bố, Tổng Thống George Washington viết: “Đây là ngày được tổ chức để công chúng cầu nguyện, tạ ơn bằng sự nhận biết với tấm lòng tri ân về rất nhiều ân huệ từ Đức Chúa Trời Toàn Năng.”

(còn tiếp)

Minh Thanh

Tìm Hiểu Ngày Lễ Tạ Ơn1. Bối cảnh lịch sử Giữa thế kỷ thứ 15, Âu Châu đang sống trong thời hoàng kim. Trong cuộc sống thịnh vượng vốn đã giàu có, việc khám phá ra những mỏ bạc tại Tyrol và tại nhiều nơi khác ở Âu Châu làm cho số lượng tiền bạc lưu hành tại Âu Châu ngày càng
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Những nét đặc sắc của kiến trúc tôn giáo Chăm
Nhân Ngày Nhân quyền thế giới 10/12/1948 – 10/12/2014 Tuyên ngôn Nhân quyền có ý nghĩa cao cả và giá trị vĩnh hằng
Về một sự kiện gây bất bình cho tín đồ Anh giáo ở Mỹ
Tìm hiểu tên thánh của người Công giáo Việt Nam
Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ: 'Người Hồi giáo tìm ra châu Mỹ'
Việt Nam được đánh giá cao về mức độ đa dạng tôn giáo
Đóng góp của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước ở các địa phương trong hoạt động của Phật giáo Nam tông Khmer
Công cuộc cải tổ Vatican của Giáo hoàng Francis
Vài nét về tự viện Gunzetroinei của Phật giáo Nga ở Saint-Peterburg
Lễ Hằng Thuận: Nghi thức cưới trong chùa
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền trên vách thủy tinh - 'kỳ quan nhân tạo' độc đáo Thái Lan
Lễ Sene Đolta của đồng bào Khmer
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn