Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 21/10/2019 09:09 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Nhân Ngày Nhân quyền thế giới 10/12/1948 – 10/12/2014 Tuyên ngôn Nhân quyền có ý nghĩa cao cả và giá trị vĩnh hằng

Ngày 10/12/1948, tại Thủ đô Paris của nước Cộng hòa Pháp, Đại hội đồng Liên Hợp quốc (LHQ) đã chính thức thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (Tuyên ngôn nhân quyền). Gần 70 năm qua, Bản Tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả vẫn còn nguyên giá trị, đã và đang là mục tiêu phấn đấu của toàn thể nhân loại. LHQ đã lấy chính ngày thông qua Tuyên ngôn này làm Ngày Nhân quyền thế giới.

Bản Tuyên ngôn lịch sử mang tính quốc tế rộng lớn đã được Ủy ban Nhân quyền tiến hành dự thảo từ năm 1946, sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ II chưa đầy một năm. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của Tuyên ngôn với mục đích kêu gọi cộng đồng quốc tế cùng đoàn kết, có trách nhiệm bảo vệ hòa bình nhân loại. Trên cơ sở Tuyên ngôn này, LHQ tiếp tục thông qua hai Công ước quốc tế vào ngày 16/12/1966 nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của con người trên toàn thế giới cũng như thiết lập các cơ chế giám sát các quốc gia thành viên trong thực thi Công ước.

Trong mấy chục năm qua, nhân loại vẫn phải chứng kiến những cuộc chiến tranh phi nghĩa ở một số nơi, làm thương vong hàng triệu người. Sự ra đời của Tuyên ngôn mang tính chuẩn mực quốc tế và có sự ràng buộc mạnh mẽ nên đã góp phần quan trọng ngăn chặn, hạn chế các cuộc chiến tranh lan rộng. Thực tế, Tuyên ngôn này đã đặt nền tảng cho việc xây dựng hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về nhân quyền cũng như quyền tự quyết của mỗi dân tộc; đồng thời trở thành động lực thúc đẩy các nước phát triển trên các mặt kinh tế, pháp luật, văn hóa,… Việt Nam là một trong những nước đi đầu và bền bỉ trong thực hiện Tuyên ngôn – một giá trị vĩnh hằng mà các quốc gia đã cam kết và quyết tâm thực hiện vì cuộc sống đích thực của người dân.

Nhân quyền là phạm trù lịch sử gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, giải phóng con người qua các hình thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp, qua đó quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Những tiến bộ trong việc thực hiện nhân quyền là thành quả đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống đế quốc, thực dân và của nhân dân lao động chống sự bóc lột của chế độ thống trị. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhất là những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay, nhân quyền là vấn đề thu hút sự quan tâm của các quốc gia và các tổ chức quốc tế do sự phát triển nhận thức về quyền con người và sự lợi dụng nhân quyền để thực hiện mưu đồ riêng.

Lần đầu tiên các quyền con người được chính thức ghi trong các văn kiện quan trọng như: Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ, Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của Pháp năm 1789, ... Tuy nhiên, giai cấp tư sản chỉ tập trung nhấn mạnh quyền dân sự, chính trị, nhưng coi nhẹ quyền kinh tế, văn hoá, xã hội là cơ sở và điều kiện quan trọng để người lao động thoát khỏi đói nghèo, không bị bóc lột. Cách mạng tháng Mười Nga đã tạo nên một phạm trù mới về quyền con người: đó là các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước XHCN đã đi đầu trong việc nêu bật các quyền dân tộc cơ bản như bộ phận thiết yếu của các quyền tập thể, đưa ra cách đề cập toàn diện và biện chứng hơn về nhân quyền. Theo đó, các quyền con người có thể được chia thành ba thế hệ, thể hiện sự phát triển của khái niệm quyền con người qua các giai đoạn lịch sử. Thế hệ 1 là các quyền cá nhân trong lĩnh vực dân sự, chính trị, các quyền bình đẳng và tự do cá nhân. Thế hệ hai là các quyền cá nhân trong lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hoá. Thế hệ ba là các quyền tập thể như quyền dân tộc cơ bản, tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc và quốc gia; quyền phát triển, quyền thông tin, quyền được sống trong hoà bình, trong môi trường lành mạnh,...

Qua quá trình phát triển, các văn bản pháp lý quốc tế về nhân quyền đã ra đời, đánh dấu về nhận thức và sự tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền. Hiến chương LHQ đã dành nhiều đoạn, mục khẳng định mục tiêu, quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của LHQ trong việc bảo vệ và thúc đẩy tôn trọng các quyền và quyền tự do cơ bản của con người. Hiến chương LHQ và Tuyên ngôn Nhân quyền là hai văn kiện quốc tế quan trọng đầu tiên về nhân quyền. Trong đó, Tuyên ngôn Nhân quyền do LHQ thông qua ngày 10/12/1948 được đánh giá là một trong những thành tựu lớn của LHQ và có ý nghĩa lịch sử vì đã đưa ra được những chuẩn mực chung cho tất cả các nước và dân tộc về các quyền con người và như đã nói ở trên được lấy làm Ngày Nhân quyền được LHQ kỷ niệm hàng năm. Từ đó, quyền con người được pháp điển hoá trong một số Công ước quốc tế về nhân quyền; trong đó, quan trọng nhất là hai Công ước ra đời năm 1966: Công ước về các quyền Dân sự và Chính trị, và Công ước về các quyền Kinh tế, Văn hoá và Xã hội. Lần đầu tiên “quyền tự quyết của các dân tộc kể cả quyền được tự do sử dụng của cải và nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình” được đảm bảo trong 2 Công ước nêu trên mà trước đây không được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh vì quyền tự quyết của tất cả các dân tộc. Việt Nam đã ký kết và gia nhập các Công ước quốc tế về nhân quyền, trong đó có hai Công ước cơ bản nói trên vào ngày 24/9/1982.   

LHQ cũng đã hình thành bộ máy: hệ thống các cơ quan LHQ trên cơ sở các quy định của Hiến chương LHQ và hệ thống các cơ quan được thành lập trên cơ sở các Công ước quốc tế về nhân quyền; trong đó có Uỷ ban chuyên trách về các vấn đề nhân quyền, nhân đạo, xã hội, Uỷ ban nhân quyền (UBNQ), Cao uỷ LHQ về nhân quyền,... UBNQ chịu trách nhiệm đưa ra các khuyến nghị và báo cáo về các vấn đề nhân quyền thông qua Ủy ban kinh tế, văn hóa, xã hội - ECOSOC trình lên Đại Hội đồng (ĐHĐ) LHQ. UBNQ gồm 53  nước thành viên, nhiệm kỳ 3 năm, hàng năm họp một lần kéo dài 6 tuần (thường vào cuối tháng 3, đầu tháng 4) tại Giơ-ne-vơ. Năm 2005, tại Hội nghị Thượng đỉnh LHQ, Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) đã được thành lập để thay thế UBNQ thành lập năm 1946 với nỗ lực để đưa vấn đề nhân quyền trở thành một trong ba trụ cột chính của LHQ cùng với hoà bình an ninh và phát triển. Theo nghị quyết A/60/251 được ĐHĐLHQ thông qua ngày 16/3/2006, HĐNQ bao gồm 47 thành viên và trở thành một cơ quan trực thuộc ĐHĐ. Ngoài chức năng cơ bản kế thừa các chức năng của UBNQ trước đây, HĐNQ có nhiệm vụ rà soát, cải tiến và hợp lý hoá các cơ chế, nhiệm vụ và chức năng của UBNQ, đồng thời xây dựng Cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ quát về tình hình thực hiện nhân quyền của các nước trên thế giới.

Cùng với sự quan tâm ngày càng tăng đối với nhân quyền trên phạm vi toàn cầu, tại các diễn đàn đa phương đã diễn ra sự đấu tranh, phân hóa theo hai nhóm quan điểm trên lĩnh vực này xuất phát từ lợi ích và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau: Quan điểm của các nước đang phát triển - Không liên kết (KLK) và quan điểm của Mỹ và phương Tây. Việt Nam vừa là nước đang phát triển, vừa là nước XHCN có quan điểm rất gần với các nước KLK tích cực. Cuộc đấu tranh xoay quanh 3 cụm vấn đề chính. Một là, tính phổ biến và tính đặc thù, thẩm quyền quốc gia và thẩm quyền quốc tế: Phương Tây tuyệt đối hóa tính toàn cầu, phổ cập của nhân quyền vượt lên trên thẩm quyền quốc gia, chủ trương can thiệp quốc tế đối với tình hình vi phạm nhân quyền ở các nước. Các nước đang phát triển thừa nhận tính chất chung của những giá trị cơ bản nhất trong khái niệm nhân quyền nhưng đồng thời cho rằng trong việc hiểu và thực hiện nhân quyền ở các nước không thể không dựa trên đặc thù lịch sử, văn hoá, kinh tế - xã hội của từng khu vực và từng nước; chống lại sự áp đặt mô hình và tiêu chuẩn về giá trị của bên ngoài, chống việc nhân danh bảo vệ nhân quyền để can thiệp nội bộ vi phạm chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết dân tộc. Hai là, mối tương quan giữa các loại quyền con người: Phương Tây nhấn mạnh các quyền chính trị - dân sự và các quyền tự do cá nhân với dụng ý đề cao và áp đặt nền “dân chủ” và hệ thống giá trị chính trị - xã hội của phương Tây. Các nước đang phát triển đòi hỏi phải coi trọng ngang bằng cả hai loại quyền chính trị - dân sự và kinh tế - xã hội - văn hoá; đồng thời cho rằng các quyền tự do cá nhân không thể vượt lên trên mà phải gắn liền với quyền và lợi ích của số đông, của cộng đồng và dân tộc, quyền của thiếu số phải phục tùng quyền của đa số, quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội. Ba là, quyền phát triển và loại bỏ việc gắn điều kiện nhân quyền đối với hợp tác, viện trợ cho phát triển: Ở những mức độ khác nhau, các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ ngần ngại thừa nhận quyền phát triển của các dân tộc như một quyền con người cơ bản vì điều này dẫn đến trách nhiệm của họ với tư cách là những nước phát triển giàu có, phải đóng góp, hỗ trợ cho nỗ lực phát triển của các nước đang phát triển. Thậm chí, một số nước phương Tây vẫn chủ trương đặt tiến bộ về nhân quyền tại một nước thành điều kiện cho viện trợ phát triển hoặc những điều kiện thuận lợi cho thương mại,... Trong khi đó, các nước đang phát triển khẳng định quyền phát triển là quyền phổ biến, một trong những quyền cơ bản của con người, bác bỏ việc gắn điều kiện nhân quyền cho phát triển,...

Hiện nay, nhân quyền đã và đang trở thành một nhân tố không kém phần quan trọng trong các chương trình nghị sự và văn kiện của các hội nghị quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực cũng như các hiệp định song phương, đa phương. Nhân quyền trong quan hệ quốc tế thể hiện xu thế chung là vừa hợp tác, vừa đấu tranh giữa các nước và các tổ chức quốc tế, với lợi ích đan xen giữa kinh tế và chính trị,... Tại các diễn đàn đa phương, vấn đề nhân quyền tiếp tục bị lợi dụng và bị chính trị hoá. Trong khuôn khổ LHQ, các nước phương Tây tìm mọi cách tăng cường tính chất cưỡng chế và ràng buộc của các cơ chế nhân quyền. Các nước khác, nhất là đại đa số các nước châu Á luôn đi đầu trong đấu tranh chống áp đặt và can thiệp của phương Tây.

Một trong những chủ thể đề cập nhiều đến vấn đề nhân quyền là các tổ chức phi chính phủ (NGOs) về nhân quyền có mặt ở hầu khắp các nơi trên thế giới. Trong đó, các Tổ chức Ân xá quốc tế, Tổ chức Theo dõi nhân quyền,... thường ra báo cáo về tình hình nhân quyền trên toàn thế giới, tố cáo vi phạm nhân quyền, kêu gọi tiến hành các biện pháp trừng phạt như cắt viện trợ, cấm vận đến đưa ra Tòa án Hính sự quốc tế, nhưng không ít báo cáo đã phản ánh sai lệch sự thật về các quốc gia mà các tổ chức này thiếu thiện chí. Trong những năm qua, một số nước mà chủ yếu là Mỹ và Nghị viện châu Âu đã sử dụng các báo cáo về tình hình nhân quyền của nhiều nước khác để dựa vào đó tìm cách áp đặt, ra điều kiện, thậm chí can thiệp,... nhất là các nước có chế độ chính trị khác hoặc tỏ ra “cứng đầu” nhưng lại lờ đi về tình hình nhân quyền của các nước thân hữu hoặc ở chính nước họ. Một số tổ chức và cá nhân có thái độ thiếu thiện chí với Việt Nam đã luôn câu kết với những phần tử xấu, cơ hội chính trị ở trong nước để xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam với những ý đồ chính trị nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của ta.

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn xác định quyền con người là giá trị chung của nhân loại; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững. Theo đó, những tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố và phát triển, đời sống của người dân ngày càng thay đổi và được nâng cao. Những thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam được cộng đồng quốc tế thừa nhận và được coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia khác noi theo. Những quyền cơ bản của người dân đang ngày càng được pháp luật bảo đảm, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và những cam kết mà Việt Nam tham gia với tư cách là thành viên quốc tế và khu vực. Với việc thông qua Hiến pháp năm 2013, trong đó giành toàn bộ Chương II quy định việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân; ban hành mới nhiều luật như: Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Tố cáo, Luật Công đoàn, Luật Khiếu nại, Luật Luật sư, Luật Phòng, chống mua bán người,… đã giúp hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý về quyền con người ở Việt Nam, nhằm thực hiện tốt hơn quyền con người trên thực tế.

Với những thành tựu và uy tín của mình nên Việt Nam đã trúng cử làm thành viên HĐNQ với số phiếu cao nhất. Sau gần năm tháng kể từ khi Việt Nam bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) của HĐNQ LHQ khóa 26, ngày 20/6/2014, HĐNQ tại Geneva (Thuỵ Sĩ) đã chính thức thông qua Báo cáo UPR chu kỳ 2 của Việt Nam. Việc bảo vệ thành công Báo cáo UPR chu kỳ II chứng tỏ Việt Nam đã có những chủ trương đúng đắn, bước đi thuyết phục làm cho thế giới hiểu về quan điểm nhân quyền của mình với những thành tựu được cộng đồng quốc tế thừa nhận và rằng Việt Nam có quyền tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa,… theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của LHQ. Đó cũng chính là câu trả lời rõ ràng cho những tổ chức, cá nhân vẫn ấp ủ âm mưu lợi dụng nhân quyền chống lại Việt Nam./.

Đặng Tài Tính

Nhân Ngày Nhân quyền thế giới 10/12/1948 – 10/12/2014 Tuyên ngôn Nhân quyền có ý nghĩa cao cả và giá trị vĩnh hằngBản Tuyên ngôn lịch sử mang tính quốc tế rộng lớn đã được Ủy ban Nhân quyền tiến hành dự thảo từ năm 1946, sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ II chưa đầy một năm. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của Tuyên ngôn với mục đích kêu gọi cộng đồng quốc
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Về một sự kiện gây bất bình cho tín đồ Anh giáo ở Mỹ
Tìm hiểu tên thánh của người Công giáo Việt Nam
Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ: 'Người Hồi giáo tìm ra châu Mỹ'
Việt Nam được đánh giá cao về mức độ đa dạng tôn giáo
Đóng góp của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước ở các địa phương trong hoạt động của Phật giáo Nam tông Khmer
Công cuộc cải tổ Vatican của Giáo hoàng Francis
Vài nét về tự viện Gunzetroinei của Phật giáo Nga ở Saint-Peterburg
Lễ Hằng Thuận: Nghi thức cưới trong chùa
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn nói về sư tử ở chùa
Phật giáo Thanh Hóa: Dấu ấn 30 năm xây dựng và phát triển
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền trên vách thủy tinh - 'kỳ quan nhân tạo' độc đáo Thái Lan
Lễ Sene Đolta của đồng bào Khmer
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn