Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 25/08/2019 09:30 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh về khoan dung tôn giáo

Tư tưởng khoan dung có từ rất sớm trong lịch sử nhân loại cả ở phương Đông và phương Tây, nhưng cho đến thiên niên kỷ thứ II, loài người mới tìm thấy trong ngôn ngữ chung của cộng đồng quốc tế về sự khoan dung.

Năm 1995, “Năm quốc tế về khoan dung” được thể hiện trong bản“Tuyên ngôn những nguyên lý về khoan dung”, chính thức thông qua và công bố trước loài người 16-11-1995 của Liên hợp quốc đã đưa ra một định nghĩa về sự khoan dung: “Khoan dung là tôn trọng, thừa nhận và đánh giá tính phong phú và đa dạng của các nền văn hóa trong thế giới chúng ta. Khoan dung là hài hòa trong khác biệt. Nó không chỉ là một nghĩa vụ thuộc lĩnh vực đạo đức mà còn là một sự cần thiết về chính trị và pháp lý”[1]. Ở Việt Nam, trong Tuyên ngôn của Ủy ban UNESCO Việt Nam cũng viết: “khoan dung là một hình thức tự do, tự do về thiên hướng, về pháp lý. Một con người khoan dung là người làm chủ về tư tưởng và hành động của mình, khoan dung là một thái độ ứng xử tích cực, không hàm nghĩa ban ơn, hay hạ mình chiếu cố đối với những người khác.

Khoan dung là thừa nhận và chấp nhận sự khác biệt. Đó là học cách nghe, cách thông tin và cách hiểu người khác.

Khoan dung là tôn trọng sự đa dạng của nền văn hóa, là sự cởi mở đối với các tư tưởng triết lý khác mình, là sự ham học hỏi, tìm hiểu những bổ ích để làm giàu cho bản thân, không bác bỏ những gì mà mình chưa biết.

Khoan dung là tôn trọng quyền tự do của người khác. Khoan dung là thừa nhận không có một nền văn hóa, một quốc gia nào độc tôn về tri thức và chân lý”[2]. Từ cơ sở trên cho thấy, khoan dung là tôn trọng quyền tự do của người khác về niềm tin tôn giáo cũng như về các quan điểm chính trị, triết học; là cách nhìn rộng lượng với những cái khác biệt, là chấp nhận đối thoại về giá trị trong sự đa dạng của các nền văn hóa để cùng tồn tại và phát triển.

Khoan dung trong lĩnh vực tôn giáo càng có ý nghĩa quan trọng, vì tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội đặc biệt rất đa dạng, phong phú, linh thiêng và nhạy cảm, phức tạp cả về giáo lý, tổ chức, lễ nghi. Khi mới ra đời các tôn giáo nhìn chung đều phản ánh khát vọng giải phóng quần chúng nhân dân lao động, nhưng trong quá trình tồn tại, nó thường bị các giai cấp thống trị lợi dụng nhằm duy trì sự áp bức, bóc lột quần chúng. Trong nhiều trường hợp, tôn giáo là một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột, chiến tranh, mất ổn định chính trị-xã hội. Chính những đặc thù trên đã làm cho không ít người, trong đó có cả những người cộng sản dễ có thái độ thiếu khoan dung đối với tôn giáo. Bởi vậy, ngày nay văn hóa khoan dung tôn giáo càng có ý nghĩa quan trọng góp phần tạo nên sự hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, sự ổn định hòa bình và phát triển trong từng quốc gia, khu vực và toàn cầu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tinh thần tiếp thu, kế thừa truyền thống khoan dung của dân tộc Việt Nam kết hợp với tư duy độc lập và sáng tạo, Người đã xây dựng, thực thi và nâng cao văn hóa khoan dung lên một trình độ mới – khoan dung cộng sản chủ nghĩa. Thể hiện tư tưởng nhân văn và chiều sâu văn hóa ứng xử của Hồ Chí Minh tất cả cho con người, vì con người. Khoan dung cộng sản chủ nghĩa đã trở thành một trong những giá trị văn hóa đặc sắc của Hồ Chí Minh được thế giới ca ngợi, coi đó như là giá trị văn hóa của tương lai-văn hóa chung sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau... Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh được thể hiện trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là khoan dung đối với tôn giáo đã trở thành giá trị chuẩn mực nhân văn, đạo đức của người cộng sản trong quan hệ ứng xử với đồng bào tôn giáo. Điều này, được thể thể hiện như sau:

Một là, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân nhằm thực hiện quyền tự do cơ bản của con người

Trong các quyền của con người, có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tức tự xác lập theo một đức tin tín ngưỡng, tôn giáo nhất định hoặc không theo tôn giáo nào. Đây là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối với một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân lao động, là sự thiêng liêng trong tâm linh con người, không được ai xâm phạm hoặc làm tổn hại đến. Do đó, để làm cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trở thành hiện thực sinh động trong đời sống tinh thần, Hồ Chí Minh rất quan tâm tới pháp luật coi đó là công cụ để hiện thực hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Cho nên, ngay sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng Việt Nam lâm thời năm 1946 khi đề cập đến những vấn đề cấp bách, thì tại vấn đề thứ 6 Người nói rõ: “Thực dân phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ bề cai trị. Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”[3]. Tiếp sau đó, trong bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà năm 1946 với cương vị là Chủ tịch nước, Người đã trực tiếp ký vào bản Hiến pháp, tại Chương II, mục B đã ghi rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Theo Người, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân sẽ góp phần xóa bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, đố kỵ, hiềm kích lẫn nhau là cơ sở để xây dựng thành công khối đoàn kết tôn giáo trong nhân dân được lâu dài. Bên cạnh việc Chủ tịch Chủ tịch Hồ Chí Minh  tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, còn đặt ra những yêu cầu đối với các tôn giáo phải tôn trọng và thực thi theo đúng pháp luật Việt Nam; đặc biệt là các các chức sắc, chức việc, nhà tu hành, nhà truyền giáo khi truyền bá tôn giáo phải có nhiệm vụ giáo dục các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Vì vậy, trong Chương I, Điều 1 Sắc lệnh 234/SL ghi rõ: “Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền dân chủ và pháp luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Đáp lại tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đồng bào tín đồ các tôn giáo, Linh mục Trần Tam Tỉnh thay mặt đồng bào giáo dân đã nhận xét về Người như sau: “Suốt cuộc đời tham chính của Người, Cụ Hồ là một người yêu nước trên hết mọi sự…các lời lẽ Cụ phê phán giáo hội không bao giờ chạm tới khía cạnh đức tin, nhưng chỉ nằm trong phạm vi các vấn đề cơ chế và chính trị”[4], hay trong cuốn Đối thoại với Hồ Chí Minh của một tác giả người Pháp có nhận xét như sau: “Về phần tôi, phải nói rằng, chưa bao giờ tôi có cớ để nhận thấy nơi các chương trình của Cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế giễu với bất kỳ một tôn giáo nào”[5]. Như vậy, chính bằng thái độ tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân đã phản ánh đúng đắn tinh thần dân chủ và nhân văn sâu sắc trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh. Đây là tư tưởng hết sức đúng đắn vừa đảm bảo lợi ích dân tộc, vừa không làm ảnh hưởng tới tình cảm, đức tin của đồng bào tôn giáo – một hình thái ý thức xã hội rất nhạy cảm và phức tạp.

Hai là, tôn trọng sự khác biệt trong các học thuyết tôn giáo nhằm thực hiện mục tiêu đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc

Trong quá trình xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh không chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân mà còn tôn trọng sự khác biệt của các học thuyết tôn giáo. Bằng chứng cho thấy, trong thư gửi đồng bào tôn giáo nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh, Người viết: “Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng là để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”[6]. Trong con người Hồ Chí Minh không chỉ khoan dung đối với đồng bào tôn giáo, mà còn có thái độ khoan hồng, độ lượng đối với những kẻ lầm đường, lạc lối, luôn động viên và kêu gọi họ quay về với Tổ quốc, với nhân dân. Người nói: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy mươi triệu con người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là giòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít nhiều lòng ái quốc. Đối với đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới thành đoàn kết, có đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”[7]. Quan điểm trên cho thấy, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vận mệnh chung của toàn dân tộc và quyền lợi căn bản của con người. Bất kỳ ai, không phân biệt thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo... khi tiếp xúc với người đều nhận được ở người sự tôn trọng, tình cảm thân ái, yêu thương chân thành, gần gũi, khoan dung, bình dị, rất con người. Đó chính là sự bình đẳng, không phân biệt thành phần giai cấp, tín ngưỡng, tôn giáo... một trong những nội dung của đức khoan dung tôn giáo Hồ Chí Minh.

 Đứng trên lập trường thế giới quan duy vật mác xít, Hồ Chí Minh không chỉ thừa nhận sự đa dạng, khác biệt vốn có của các tôn giáo, mà luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và niềm tin, lý tưởng của đồng bào tôn giáo, coi đó là quyền tự nhiên, cơ bản của con người cần được tôn trọng, đảm bảo và thực thi đầy đủ. Ngoài ra, Nguời còn quan niệm tôn giáo cũng là một dạng thức văn hóa; những giá trị văn hóa, đạo đức trong tôn giáo là di sản văn hóa của loài người: “Ý nghĩa của văn hoá: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[8]. Người hiểu sâu sắc văn hóa, đạo đức tôn giáo cũng là sự tiếp biến, thần hóa cái giá trị văn hóa, đạo đức xã hội và được chuyển thành giới luật, lễ nghi tôn giáo để các tín đồ tin theo. Do tính “thần thánh, thiêng liêng”, khó kiểm chứng lên các tín đồ tôn giáo thường vâng phục, tuân thủ một cách tự giác, hiệu quả hơn. Đức tính thật thà, thông cảm nỗi đau khổ của người khác, chăm sóc tới sức khỏe và cuộc sống no ấm của mọi người, kính trọng lao động và kinh nghiệm sống của người già ham hiểu biết... là những giá trị văn hóa đạo đức tôn giáo nói chung. Phật giáo đề cao tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân, thương đến mọi chúng sinh cây cỏ; tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phát, chống mọi sự phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động gắn bó với nhân dân, đất nước; khuyên mọi người gạt bỏ tham-sân-si; thực hiện giới, định, tuệ để cho tâm hồn yên tĩnh, trí tuệ sáng suốt luôn phấn đấu thực hiện theo bát chính đạo để có cuộc sống chân chính, ngay thẳng. Trong giáo lý Công giáo mang tư tưởng nhân văn sâu sắc như tôn trọng giá trị đạo đức, cổ vũ tinh thần yêu thương đồng loại, thảo kính cha mẹ, không nói dối, không chiếm dụng của người khác; hay trong giáo lý đạo Hồi coi trọng sự giúp đỡ người nghèo, coi trọng tín nghĩa, quan tâm sức khỏe. Hồ Chí Minh nhận thấy trong các tôn giáo có những nội dung mang tính chất nhân nghĩa, nhân văn, hướng thiện, phù hợp với mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giai cấp, con người. Vì vậy, Người chủ trương xây dựng khối đoàn kết tôn giáo trên cơ sở của lòng khoan dung, nhân ái nhằm hòa hợp dân tộc, góp phần làm cho “nước vinh, đạo sáng”.

Ba là, khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh thể hiện ở sự tin tưởng, tôn trọng đồng bào tôn giáo

Xuất phát từ sự tôn trọng đời sống tâm linh tôn giáo của đồng bào, trong từng cử chỉ, lời nói và việc làm của Hồ Chí Minh đều thể hiện sự thấu hiểu, sự cảm thông sâu sắc với đồng bào tôn giáo. Người hiểu rằng tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin thiêng liêng, cao cả, giữ vị trí trung tâm trong đời sống tinh thần của tín đồ, chi phối tâm tư tình cảm và hành vi của họ trong đời sống thường ngày. Cho nên, khi đề cập đến vấn đề tôn giáo, Người không đề cập một cách trực diện mặt thần học, giáo lý, giáo luật, thế giới quan duy tâm cũng như những mặt hạn chế của các tôn giáo và luôn quan niệm đồng bào tôn giáo nhìn chung đều có bản chất tốt, yêu Tổ quốc, yêu lao động và không muốn chiến tranh, Người nói: “Tôn giáo: Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến, như công giáo ở nhiều nơi, như Cao Đài kháng chiến, v.v.. Một phần thì bị địch lợi dụng như nguỵ quân Cao Đài, Hoà Hảo, công giáo ở Nam Bộ. Một số đồng bào công giáo tuy bản chất thì tốt, nhưng bị bọn cầm đầu phản động lung lạc, nên họ hoài nghi chính sách của Đảng và Chính phủ.

Đó là vì, địch dùng chính sách chia rẽ, song một phần cũng vì ta chưa có phương pháp thích hợp để vận động đồng bào tôn giáo. Đồng thời vì cán bộ ta kém, có nơi đã có những hành động lố lăng, phạm đến tín ngưỡng và quyền lợi của đồng bào tôn giáo”[9]. Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn tin tưởng và giữ vững niềm tin về lòng yêu nước của đồng bào tôn giáo. Riêng đối với đồng bào Công giáo là đối tượng thường xuyên bị thực dân Pháp lợi dụng vào mưu đồ chính trị nhằm chống lại cách mạng Việt Nam, nhưng Người không bao giờ nghi rằng đồng bào Công giáo chống Việt Minh và tin rằng, đồng bào Công giáo tha thiết với nền độc lập cho Tổ quốc và tự do tín ngưỡng thật đầy đủ và cũng tin rằng mọi người đều tuân theo khẩu hiệu: “Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc”. Vì vậy, trong quá trình tập hợp lực lượng cách mạng toàn dân tộc, Người không có sự phân biệt đối xử đối với đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không theo tín ngưỡng tôn giáo mà luôn chủ động kết hợp hài hòa giữa niềm tin, lý tưởng của đồng bào tôn giáo với niềm tin, lý tưởng cách mạng Việt Nam nhằm đưa tôn giáo đồng hành cùng dân tộc, góp phần cứu nước, giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Người nói mục đích của Phật Thích Ca và Chúa Giê su có điểm chung giống nhau:Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma”[10], còn Chúa Giê su: “chỉ lo cứu thế độ dân, hy sinh cho tự do, bình đẳng”, hoàn toàn phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng Việt Nam. Vì vậy, trong thư gửi Giám mục Lê Hữu Từ ngày 2 tháng 3 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Đường lối của Chính phủ gồm ba mục tiêu sau đây:

1. Giải phóng nhân dân khỏi đói rét (khổ sở) và khỏi dốt.

2. Đem lại cho nhân dân sự tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng.

3. Bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc”[11].

Như vậy có thể nhận thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận diện rất đúng về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, có một tầm nhìn chiến lược, thể hiện chiều sâu văn hóa, biết tìm ra mẫu số chung để đoàn kết mọi người dân, không kể lương hay giáo, có đạo hay không có đạo. Chính bằng những thái độ khoan dung, ứng xử nhân văn trong xây dựng khối đoàn kết tôn giáo trên tinh thần “cầu đồng, tồn dị”, tìm kiếm và khai thác những giá trị tương đồng trong lòng dân tộc, tạm gác lại những khác biệt về thế giới quan, nhu cầu tín ngưỡng, đối tượng thờ cúng trong nhân dân mà Hồ Chí Minh đã quy tụ được “ý Đảng, lòng dân”. Nhờ đó, đã tạo nên sự thống nhất, đoàn kết gắn bó bền chặt giữa Đảng với dân, giữa tôn giáo với dân tộc ngày càng sâu đậm, đó chính là sự thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết toàn dân; đặc biệt là tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong đoàn kết tôn giáo, góp phần làm cho “nước vinh, đạo sáng”. Điểm nổi bật về đức khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh là góp phần thiết thực vào việc xóa bỏ những định kiến, kỳ thị giữa đồng bào Lương với đồng bào Giáo, giữa các tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam. Đấu tranh làm thất bại âm mưu “chia để trị”, chia rẽ dân tộc, giai cấp, tôn giáo trong nhân dân của thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ xâm lược, Đồng thời huy động lực lượng cách mạng toàn dân tộc vào sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, giai cấp, con người.

Ngày nay, trong công cuộc đẩy mạnh xây dựng CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, quan điểm trên của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, dân tộc và thực hiện thắng lợi mục tiêu chung của dân tộc Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[12].

ThS Ngô Minh Thuận – Học viện Chính sách và Phát triển



[1] . GS. Song Thành, Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.142.

[2] . GS. Song Thành, Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.142-143.

[3] . Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.8.

[4]. Trần Tam Tỉnh Tác phẩm Thiên Chúa và Hoàng đế, NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr.76.

[5]. Đỗ Quang Hưng Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.119.

[6] .Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.554.

[7] . Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, 280-281.

[8] . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.458.

[9] . Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.394.

[10] . Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.228.

[11]. Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm, NXB Trẻ TP. Hồ Chí Minh, 1998, tr.74-75.

[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70 .

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh về khoan dung tôn giáoNăm 1995, “Năm quốc tế về khoan dung” được thể hiện trong bản “Tuyên ngôn những nguyên lý về khoan dung”, chính thức thông qua và công bố trước loài người 16-11-1995 của Liên hợp quốc đã đưa ra một định nghĩa về sự khoan dung: “Khoan dung là tôn trọng, thừa
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Soi xung đột Israel - Palestine dưới ba lăng kính
Nga lo sợ về sự nổi dậy của người Hồi giáo
Vấn đề hôn nhân giữa các tín đồ Phật giáo và Islam giáo ở Myanmar
Khủng hoảng tại Iraq: Vùng đất đầy biến động phải chia ba?
Báo chí với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo của Hà Nội
Chính sách, pháp luật của Nhà nước Mexico đối với tôn giáo
Niên Trường Hầu Nguyễn Hữu Niên: Vị cai đội Hoàng Sa người tỉnh Thừa Thiên Huế
Hội đồng nhân quyền LHQ thông qua Báo cáo quốc gia UPR của Việt Nam chính là bác bỏ những luận điệu sai trái
Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa theo ghi chép của các giáo sĩ phương Tây
Vài nét về vai trò của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn