Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 23/09/2019 02:06 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Biểu tượng Cổ pháp trong đạo Cao đài

Đạo Cao đài là tôn giáo ra đời ở Việt Nam năm 1926. Giáo lý đạo Cao đài là sự kế thừa những tinh hoa của giáo lý Tam giáo (Nho giáo - Lão giáo - Thích giáo).

 

Đạo Cao đài do người Việt Nam sáng lập nên giáo lý mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc phù hợp với tâm thức người Việt. Qua tư duy sáng tạo của những người sáng lập đạo Cao đài, Tam giáo trở thành một thể thống nhất Tam giáo quy nguyên”. Chính bởi sự dung hòa Tam giáo trở thành một thể thống nhất với các biểu tượng quen thuộc đã đáp ứng được nguyện vọng tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Nam bộ. Với ý nghĩa đó, người dân Nam bộ theo đạo Cao đài với niềm tin sâu sắc, chỉ sau vài năm kể từ ngày khai Đạo, tín đồ đạo Cao đài đã có hàng triệu người.

Tinh thần Tam giáo trong đạo Cao đài được thể hiện qua giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức, nghi lễ, cách thức thờ phụng, kinh Thiên đạo, Thế đạo, Tân luật, Pháp chánh truyền,… Tư tưởng Tam giáo còn gắn liền với các biểu tượng tôn giáo của đạo Cao đài như lá cờ Đạo, Thiên bàn, Cổ pháp,… Trong đó, tư tưởng Tam giáo của đạo Cao đài được thể hiện rõ nét nhất qua biểu tượng Cổ pháp - dấu hiệu biểu trưng của một tôn giáo.

Chúng ta vẫn thường thấy trên lá cờ của đạo Cao đài, trên lan can lầu Phi Tưởng Đài của Đền thánh Tây Ninh hay trên mặt tiền, trên nóc các thánh thất Cao đài đều có biểu tượng Cổ pháp Tam giáo. Cổ pháp Tam giáo gồm: Bình Bát vu, cây Phất chủ và quyển Xuân Thu. Bình Bát vu đặt ở giữa, cây Phất chủ và quyển Xuân Thu đặt ở hai bên. Ghép ba thứ ấy lại với nhau để tượng trưng cho tôn chỉ của đạo Cao đài là: “Tam giáo qui nguyên”, tức là đem ba nền tôn giáo lớn ở Á Đông (Phật giáo, Tiên giáo và Nho giáo) hiệp trở về một gốc, gốc đó là Đại Đạo, do Thượng Đế làm chủ:

Xuân Thu, Phất chủ, Bát vu,

Hiệp qui Tam giáo hữu cầu chí chơn.

                                                                                 (Trích: Phật Mẫu Chơn Kinh)

 

Hai dạng Cổ pháp: bên trái là dạng thông dụng của nhiều thánh thất thuộc Hội thánh Cao Đài Tây Ninh; bên phải là một dạng “cách điệu” ở Cơ quan Phổ thông Giáo lý Đại Đạo.

1. Bình Bát vu tượng trưng cho Phật giáo.

Bình Bát vu là cái bình đựng đồ ăn của các tăng ni Phật giáo thuộc phái khất sĩ, dùng để đi khất thực. Mỗi vị sư trong phái khất sĩ, sau khi thọ giới cụ túc thì được vị Hòa thượng nhân danh Giáo hội phát cho một cái bát, hoặc khi cái bát bị vỡ thì Giáo hội cũng phát cho cái khác. Lúc thọ lãnh bát, vị sư nguyện 3 lần bài chú sau đây: "Thiện tai Bát đa la, Như Lai ứng lượng khí. Phụng trì dĩ tư thân, trưởng dưỡng trí mạng. Án chỉ rị chỉ rị phạt nhựt ra hồng phấn tra”. Nghĩa là: Lành thay cái Bát đa la, món đồ ứng lượng của Phật. Tôi nay phụng trì để nuôi thân và nuôi lớn cái mạng trí huệ. Sau cùng là câu thần chú bằng tiếng Phạn. Bát đa la là phiên âm từ tiếng Phạn: PATRA, có nghĩa là cái bát, cái bình bát hay Bình Bát vu.

Bình Bát vu còn là một trong hai tín vật của Phật giáo mà các Tổ sư gìn giữ làm bảo vật để truyền kế ngôi Tổ sư. Hai tín vật đó là: Y và Bát. Y là cái áo cà sa và Bát là cái Bình Bát vu. Nguyên hai tín vật này là của Đức Phật Thích Ca dùng trong lúc Đức Phật còn sinh tiền. Khi Đức Phật sắp nhập niết bàn, Đức Phật đã truyền hai món này lại cho Ma Ha Ca Diếp làm tín vật để giữ ngôi Nhất Tổ Phật giáo Ấn Độ. Sau đó, Ma Ha Ca Diếp truyền Y Bát lại cho A Nan làm Nhị Tổ Phật giáo Ấn Độ. Y Bát này truyền dần xuống đến đời Tổ sư thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma thì Đạt Ma Tổ Sư đem Y Bát sang Trung Hoa để mở mang Phật giáo tại nước này. Đạt Ma Tổ Sư trở thành Sơ Tổ của Phật giáo Trung Hoa. Đạt Ma Tổ Sư truyền Y Bát lại cho 4 đời Tổ sư nữa, đến đời Lục Tổ Huệ Năng. Sau đời Lục Tổ Huệ Năng, không còn lệ truyền Y Bát nữa, vì theo di chúc của Đạt Ma Tổ Sư, 200 năm sau kể từ ngày Ngài lên ngôi Tổ thì Y Bát không được truyền nữa. Tương truyền bài thơ sau đây là của Hòa thượng Bố Đại: Nhất bát thiên gia phạn/ Cô thân vạn lý du/ Thanh mục đổ nhân thiểu/ Vấn lộ bạch vân đầu. Nghĩa là: Một bát cơm ngàn nhà/ Thân đơn muôn dặm xa/ Mắt xanh nào ai có/ Hỏi đường mây trắng qua). Đây là một bài thơ đẹp với hình ảnh du tăng khất sĩ ôm chiếc bình bát trên đường thiên lý. Bình Bát vu là Cổ pháp của Phật giáo. Với ý nghĩa quan trọng của Bình Bát vu như thế, nên đạo Cao Đài đã chọn Bình Bát vu làm Cổ pháp tượng trưng cho Phật giáo.

2. Cây Phất chủ tượng trưng cho Tiên giáo.

Phất chủ là cây chổi quét bụi, làm bằng lông đuôi con chủ. Con chủ là một con thú thuộc loài nai, hình dáng giống như con hươu nhưng lớn hơn, có lông đuôi dài chấm đất, khi đi thì cái đuôi phẩy qua, phẩy lại để quét bụi. Thông thường con chủ đi trước, đàn hươu nai đi sau, con chủ đi đến đâu thì đuôi quét sạch bụi đến đó. Do đó, người xưa dùng lông đuôi con chủ làm cây chổi quét bụi, nên gọi là phất chủ hay phất trần. Các vị Tiên thường dùng phất chủ hay phất trần để quét bụi, nhưng đây là cái chổi Tiên có phép huyền diệu (Chổi Tiên quét sạch nợ nần oan gia) dùng quét sạch những bụi trần bám vào che lấp cái tâm, để tâm luôn được trong sạch, sáng tỏ. Do đó, Phất chủ được xem là một bảo bối của Tiên gia, là Cổ pháp của Tiên giáo. Đức Thái Thượng Lão Quân là Tổ sư của Tiên giáo lúc nào cũng cầm cây Phất chủ. Chính vì vậy, đạo Cao Đài chọn cây Phất chủ làm cổ pháp tượng trưng cho Tiên giáo. Theo Bí pháp đạo Cao Đài, Phất chủ kết tụ điển khí của thất bảo Diêu Trì Cung, dùng để trau sửa chơn thần cho tinh khiết. Trong Kinh cầu bà con thân bằng cố hữu đã quy liễu của đạo Cao Đài có câu:                

Tiên phong phủi ngọn Phất trần

Liên đài đỡ gót đến gần Tây phương.

3. Kinh Xuân Thu tượng trưng cho Nho giáo.

Xuân Thu là tên của một bộ sử nước Lỗ do Đức Khổng Tử ghi chép những việc quan trọng xảy ra hằng năm, từ đời Lỗ Ân Công nguyên niên, tức là từ năm thứ 49 đời vua Chu Bình Vương, đến đời Lỗ Ai Công năm thứ 14, tức là năm thứ 39 đời vua Chu Kinh Vương, trong thời gian 242 năm. Đây là một giai đoạn lịch sử Trung Hoa, thời kỳ mạt điệp nhà Chu (Châu), ngôi Thiên tử suy yếu, bị bọn Ngũ Bá (Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công, Sở Trang Công) nổi lên lấn át quyền Thiên tử, các nước chư hầu tranh chiếm lẫn nhau, các sử gia gọi là thời đại hỗn loạn, nên người đời sau mượn tên kinh Xuân Thu để gọi thời đại ấy là thời Xuân Thu (722-480 trước Tây lịch).

Mặc dù kinh Xuân Thu là một cuốn sách lịch sử, nhưng khi ghi chép, Đức Khổng Tử đã vận dụng văn tự và bút pháp để khen chê, để phân biệt kẻ thiện người ác hết sức minh bạch và đanh thép, nên người đời sau đã phải công nhận đó là búa rìu trong kinh Xuân Thu. Chính vì thế, kinh Xuân Thu đã có tác dụng về đạo lý và giữ vị trí quan trọng trong nền văn hóa phương Đông nói chung và Nho giáo nói riêng, trong đó Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng hơn 2000 năm nay. Kinh Xuân Thu còn có tính cách điển hình gương mẫu cho người đời sau phải tôn trọng danh dự và nhiệm vụ trong khi viết sử và được liệt kê vào 5 bộ kinh căn bản của Nho giáo: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu.

Kinh Xuân Thu là một bộ sách rất quan trọng, tiêu biểu cho Đức Khổng Tử, mà cũng tiêu biểu cho Nho giáo. Kinh Xuân Thu chính là cổ pháp của Nho giáo, Đức Quan Thánh thuở sanh tiền lấy kinh Xuân Thu làm quyển sách gối đầu. Do đó, đạo Cao Đài lấy kinh Xuân Thu làm Cổ pháp tượng trưng cho Nho giáo.

Tóm lại, đạo Cao Đài chọn ba Cổ pháp của ba nền tôn giáo lớn nói trên làm biểu tượng tôn giáo của mình là để nói lên sự đồng nguyên của Phật giáo, Tiên giáo và Nho giáo trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Hiện nay, trong Hiến chương, Đạo quy của hầu hết các phái Cao Đài đều dùng Cổ pháp Tam giáo làm đạo hiệu, đạo huy như: Hiến chương của Hội thánh Cao Đài Tây Ninh năm 2007, tại Điều 2 có ghi: “Huy hiệu của đạo Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh là hình 3 Cổ pháp: Bình Bát vu (Biểu tượng Thích giáo); Cây Phất chủ (biểu tượng Lão giáo); Quyển Xuân Thu (biểu tượng Nho giáo)”. Hiến chương của Hội thánh Truyền giáo Cao Đài, tại Điều 4 có ghi: “Đạo huy hình 3 Cổ pháp: 1. Bình Bát vu; 2. Cây Phất chủ; 3. Bộ Xuân Thu”.

Có thể nói, qua sự sáng tạo của đạo Cao Đài, tư tưởng Tam giáo là một thể thống nhất “Tam giáo quy nguyên” và trở thành biểu tượng cho tinh thần kế thừa, hiệp nhất các nền tôn giáo trong đạo Cao Đài. Chính vì triết lý đó, đạo Cao Đài còn gọi là Đại Đạo, một tôn giáo lớn biết dung hòa tinh hoa của các tôn giáo, đáp ứng tâm tư, tình cảm của người dân Nam bộ, nhanh chóng trở thành một tôn giáo có sức sống tinh thần mạnh mẽ và tồn tại đến bây giờ./.

 

Biểu tượng Cổ pháp Tam giáo trên đài sen của cổng Chánh môn

Tòa thánh Tây Ninh

 

Minh Tiệp

Biểu tượng Cổ pháp trong đạo Cao đàiĐạo Cao đài do người Việt Nam sáng lập nên giáo lý mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc và phù hợp với tâm thức người Việt. Qua tư duy sáng tạo của những người sáng lập đạo Cao đ ài, Tam giáo trở thành một thể thống nhất “ Tam giáo quy nguyên”. Chính
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Toàn cảnh cuộc chính biến hậu “Mùa Xuân Arập” ở Ai Cập (Phần I)
Vài nét về việc bổ nhiệm tân Quốc vụ khanh Tòa Thánh Vatican
Vài nét về phong trào Phật giáo mang tên 969 và cuộc xung đột sắc tộc – tôn giáo ở Myanmar hiện nay
Dư luận xã hội Ai Cập phê phán thái độ của Mỹ và Phương Tây đối với việc trấn áp lực lượng Islam giáo đối lập
Từ cuộc nội chiến ở Syria xung đột giáo phái lan khắp Trung Đông
Người Phật tử trước một số vấn đề tâm linh hiện nay
Tìm hiểu nét đặc trưng của tôn giáo bản địa ở Việt Nam
Tín đồ Chính Thống giáo Nga qua các cuộc điều tra xã hội học
Vài suy nghĩ về ngày lễ Vu lan trong Phật giáo với xã hội Việt Nam hôm nay
Nhìn lại quá trình phát triển của Giáo hội Công giáo Việt Nam sau 8 năm thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn