Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 01/04/2020 05:46 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 1+2/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 12/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 11/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Giáo lý đạo Cao đài và sự tương đồng với giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

1. Khái lược về Đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài có tên gọi đầy đủ là Đại Đạo Tam kỳ phổ độ ra đời năm 1926 tại Tây Ninh, do một số quan lại, công chức, địa chủ, trí thức,… sáng lập. Sự ra đời của Đạo Cao Đài là thành quả tất yếu của xã hội miền Nam Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ 20

 

Nam Bộ là vùng đất rộng, chưa khai phá hết, con người chất phác, phóng khoáng. Cư dân chủ yếu là những người ở vùng khác đến khai hoang, lập nghiệp nên họ có lòng kính thờ các Đấng Thiêng liêng, nhất là Tam giáo (Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo) là các tôn giáo của người phương Đông. Nam Bộ thời kỳ này dưới sự cai trị của thực dân Pháp nên chịu áp lực nặng nề của sự áp bức, bóc lột và tư tưởng văn hóa phương Tây. Tại Nam Bộ có tôn giáo Minh Sư đạo, có nguồn gốc từ Trung Quốc truyền sang thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và Tam giáo với pháp môn tu hành rất nghiêm. Cùng thời gian này, một số người là quan lại, công chức, địa chủ, tiểu tư sản… tham gia tục cầu hồn của người Việt, cộng với phong trào Thông linh học của phương Tây tạo thành thú chơi cầu cơ, chấp bút gọi là cơ bút. Người có vai trò quan trọng trong việc ra đời của Đạo Cao Đài là ông Ngô Minh Chiêu. Nhân dịp đến chùa Minh Sư ở Cần Thơ xin thuốc cho mẹ uống, ông đã được Ơn Trên giáng cơ chỉ dạy phải tu hành sau này đắc đạo. Từ đó, ông Ngô Minh Chiêu trở thành người đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài được chỉ dạy về việc thờ Thiên nhãn, cách thức bày bàn thờ của Đạo Cao Đài và danh xưng Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Sau đó, ông Ngô Minh Chiêu cùng với nhóm cơ của các ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Lê Văn Trung,… hợp nhất để thành lập tôn giáo Cao Đài. Sau khi thành lập một thời gian, Đạo Cao Đài từ một Hội thánh duy nhất, có Tòa thánh ở Tây Ninh bị chia rẽ thành nhiều hệ phái khác nhau. Nguyên nhân là sự bất đồng trong cách điều hành của các chức sắc đứng đầu, cộng với sự không vừa lòng khi phân chia ngôi thứ lãnh đạo Hội thánh, các văn bản về luật lệ trong trong Đạo chưa được thực hiện đúng, sử dụng cơ bút tràn lan dẫn đến lợi dụng để mưu đồ cá nhân và cuối cùng là tư tưởng cục bộ cát cứ của một số chức sắc cao cấp. Hiện nay, Đạo Cao Đài có khoảng 2,5 triệu tín đồ và hơn 2 vạn chức sắc đang hoạt động ở 37 tỉnh, thành phố trong cả nước.

2. Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành trong quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc được sản sinh ra trong lịch sử dân tộc, được các thế hệ tiếp nối và phát triển, trở thành cốt lõi nền tảng văn hóa tinh thần của xã hội. Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được biểu hiện qua đặc thù của văn hóa Việt Nam với những bản sắc tốt đẹp đã hình thành và tồn tại cho đến nay. Biểu hiện đậm nét nhất của các giá trị văn hóa là giá trị đạo đức và lối sống.  Các giá trị văn hóa đạt đến hệ chuẩn mực về đạo đức, lối sống, đảm bảo là diện mạo cơ bản của một nền văn hóa tiến tiến luôn tạo ra các định hướng làm gia tăng cái đúng, cái tốt, cái đẹp,…

Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng giá trị văn hóa đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam là: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa”[1]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…”[2]. Nghị quyết Đại hội XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại” [3]. Như vậy, theo quan điểm của các nhà khoa học và của Đảng, có thể khẳng định các giá trị văn hóa truyền thống cơ bản của dân tộc ta bao gồm: chủ nghĩa yêu nước; lòng thương yêu, quý trọng con người; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; đức tính cần kiệm; lòng dũng cảm, bất khuất; đức tính khiêm tốn, giản dị, trung thực; thủy chung,…

3. Tôn chỉ, mục đích của Đạo Cao Đài nêu cao tinh thần nhân ái

Đại Đạo Tam kphổ độ có nghĩa là một nền đạo lớn mở ra kỳ thứ 3 để cứu giúp toàn cả chúng sanh nơi cõi trần thoát khỏi cảnh khổ luân hồi mà trở về cõi Thiêng liêng hằng sống. Gọi là Đại Đạo tức là một nền Đạo lớn, bởi vì nền Đạo này có qui mô lớn, được Đức Thượng Đế khai mở và làm Giáo chủ, với tôn chỉ: Qui nguyên Tam giáo, phục nhất Ngũ chi. Đạo Cao Đài kế thừa tinh hoa của các tôn giáo đã có từ trước đến nay do các Đấng Thần Thánh Tiên Phật mở ra, thống nhất, hợp lại thành một mối, dưới sự chưởng quản của Đức Thượng Đế. Gọi là Tam kỳ phổ độ bởi vì trước đây đã mở ra 2 kỳ phổ độ: Nhất kỳ phổ độ và Nhị kỳ phổ độ. Nhất kỳ phổ độ mở ra vào thời thái cổ của nhơn loại, gồm các tôn giáo: Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo, Đức Brahma Phật mở Đạo Bà-La-Môn, Đức Thái Thượng mở Tiên giáo, Đức Phục Hy mở Nho giáo, Thánh Moise mở Thánh giáo Do Thái. Nhị kỳ phổ độ mở ra vào thời Thượng cổ của nhơn loại, gồm các tôn giáo: Đức Phật Thích Ca mở Phật giáo ở Ấn Độ,  Đức Lão Tử mở Lão giáo và Đức Khổng Tử mở Nho giáo ở Trung hoa, Đức Chúa Jésus mở Thánh giáo ở Do Thái, Đức Khương Thượng cầm Bảng Phong Thần đứng đầu Thần đạo Trung Hoa.

Theo quan niệm của Đạo Cao Đài, Tam kphổ đ là thời đại hiện nay, ứng với cuối Hạ nguyên tam chuyển, bước qua Thượng nguyên tứ chuyển. Đức Chí Tôn Thượng Đế không cho mở ra nhiều tôn giáo như 2 thời kỳ trước, vì ngày nay nhân loại đã văn minh: Càn khôn dĩ tận thức, năm châu chung chợ, bốn biển chung nhà, nên chỉ cần mở ra một nền Đại Đạo, bao gồm cả Tam giáo và Ngũ chi, thống nhất thành một mối, để nhơn loại không còn bị chia rẽ nhau vì khác tôn giáo, vì khác tín ngưỡng, để tiến đến một xã hội đại đồng.

Đạo Cao Đài cho rằng, đây là kỳ phổ độ lần cuối, trước khi mở Đại hội Long Hoa, đó là một cuộc phán xét cuối cùng, để tận độ  nhân sinh, cứu giúp tất cả chúng sinh. Đức Cao Đài khẳng định:Gặp Tam kỳ phổ độ này mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi”.

Hai chữ “Cao Đài” được giải thíchmột cái đài ở nơi Linh Tiêu Điện, trong Ngọc Hư Cung, ở cõi Thiêng liêng, là nơi ngự của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế mỗi khi Đại hội triều đình của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thời Tam kphổ độ, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ mở đạo, lấy đài ngự của Ngài là Cao Đài làm danh hiệu. Do đó, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế là Đấng Cao Đài, nên cũng gọi là Cao Đài Thượng Đế, và nền Đại Đạo được mở ra vào thời Tam kỳ phổ độ được gọi là Đại Đạo Tam kphổ độ, cũng gọi là Cao Đài Đại Đạo, hay gọi tắt là Đạo Cao Đài.

Tôn chỉ của Đạo Cao Đài là Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhất nghĩa là bao hàm ý nghĩa quy Tam giáo trở về cái gốc, cái nguyên bản, là đường lối để thực hiện mục đích Thế đạo đại đồng, Thiên đạo giải thoát. Ngũ chi phục nhất tức là thống nhất năm ngành đạo thành một là Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Đó là đường lối tu hành tuần tự như năm nấc thang tu hành. Phục nhất có nghĩa là thống nhất thành một hệ thống bổ sung cho nhau, hiệp thành đạo pháp nhất quán để đưa người tu đến mục đích giải khổ, đắc đạo. Đạo Cao Đài xây dựng một nền giáo lý toàn diện tức là giáo lý Tam giáo. Bởi Tam giáo có đủ điều kiện xây dựng con người chân chính, xã hội an lạc là Đạo Nho, dạy con người biết tu dưỡng thể xác và tinh thần, sống trung dung tự tại là Đạo Lão, dạy nhân sinh biết giác ngộ và giải khổ là Đạo Phật. Tác giả Nguyễn Khắc Bích, một chức sắc cao cấp của Đạo Cao Đài viết rằng: “Vậy tôn chỉ của Đại Đạo Tam kỳ phổ độ vốn không phải là một lý tưởng riêng của người trong bổn đạo, mà vốn là một kết quả tinh thần muốn sống tồn tại của toàn thể nhơn sanh”[4].

Đạo Cao Đài còn nêu lên tinh thần “Vạn giáo nhất lý”. Mục đích nhằm đưa tất cả các tôn giáo chân chính có cùng chân lý, để hướng dẫn con người sống có đạo đức, hoàn thiện hóa bản thân, hoàn thiện hóa xã hội và giải thoát linh hồn hướng tới một con người chuẩn mực, hoàn thiện về đạo đức, xã hội an lạc, hòa bình. Vì vậy, Đạo Cao Đài chủ trương tôn trọng tín ngưỡng của mọi tôn giáo và nêu nguyên lý chung của các tôn giáo, tức là giáo lý của một tôn giáo lớn nhằm giác ngộ nhân loại toàn cầu.

Mục đích của Đạo Cao Đài nhằm hoàn thiện hóa con người và xây dựng xã hội bình đẳng, thế giới đại đồng: “làm sao cho nhơn loại được cộng hưởng cuộc hòa bình như buổi trước”.[5] Về mặt tâm linh, Đạo Cao Đài có mục đích giải thoát luân hồi sinh tử hay còn nói rằng “Thế đạo đại đồng, Thiên đạo giải thoát”. Thế đạo đại đồng tương ứng với đường lối hay phương pháp giải quyết cuộc nhân sinh tạo ra cuộc sống an lạc, hòa bình, tiến bộ trong xã hội. Thế đạo đại đồng nhằm thực hiện thế giới nhân loại bình đẳng, hạnh phúc không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc lấy nhân bản làm nền tảng, trong đó nhân quyền con người được tôn trọng, nhân tính được phát huy để xây dựng một thế giới văn minh, đạo đức, hòa bình. Người Cao Đài thường gọi đó là đời Thượng nguyên Thánh Đức. Thế đạo đại đồng theo nghĩa rộng còn là tình bác ái đối với muôn loài, vạn vật từ những sinh vật nhỏ nhất đến các loài cầm thú, đến con người và cả chúng sinh. Thiên đạo giải thoát là đường lối tu hành để người tu đạt được sự giải thoát toàn diện, không còn khổ đau về thể xác hay phiền não về tâm hồn tại thế gian, và xa hơn nữa được giải thoát tâm linh. Sau khi thoát xác, linh hồn người đắc quả Thiên đạo sẽ sống vĩnh viễn trong cõi thiên đường cực lạc, không còn bị luân hồi trở lại phàm trần. Muốn thế người tu Thiên đạo phải học đạo Đại thừa, tu luyện thân tâm và thực hành sứ mệnh cứu độ tha nhân.

4. Giáo lý Đạo Cao Đài nêu cao sự thương yêu, đoàn kết, bài trừ mê tín dị đoan

         Giáo lý Cao Đài xây dựng dựa trên hai nguyên lý căn bản là: Thiên địa vạn vật đồng nhất thể: Trời đất vạn vật có cùng một bản thể và Nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bổn: Một gốc phân tán ra vạn hình thức (sai biệt), vạn hình thức (sai biệt) quay về một gốc. Từ nguyên lý thứ nhất, giáo lý Cao Đài quan niệm Trời và Người có cùng bản thể, có thể tương thông, tương ứng và hiệp nhất được. Nên Đức Thượng Đế dạy: “Thầy là các con, các con là Thầy”. Kế đến chúng sinh cũng đồng bản thể nên phải thương yêu nhau, nhất là giữa người với người xem nhau như anh em, từ đó phải thực hiện mục đích đại đồng nhân loại. Từ nguyên lý thứ hai, giáo lý Cao Đài quan niệm vũ trụ là một trường tiến hóa có khởi điểm từ bản thể Đại Linh Quang, tức Thượng Đế, phóng phát các điểm linh quang tiềm tàng trong vạn loại để tiến hóa từ khoáng sản, thảo mộc, thú cầm, đến con người. Rồi từ con người đến các bậc Thiêng liêng Thần Thánh Tiên Phật để trở về hiệp nhất với Thượng Đế. Do đó, cứu cánh của con người là tiến hóa trở về với Thượng Đế, tức nguồn gốc của mình mà cũng là của vũ trụ. Muốn thế con người phải biết tu công, lập đức để hoàn hảo hóa bản thân đến mức chí chơn, chí thiện. Giáo lý Cao Đài gọi đó là “Phản bổn hoàn nguyên”. Đạo Cao Đài có một giáo lý bao dung rộng rãi, coi nhân loại đều có một Đấng cha chung trong một đại gia đình với thuyết đại đồng, lấy tình thương xóa bỏ hận thù: “Thầy cấm các con từ đây nếu không đủ sức Thương yêu nhau thì cũng chẳng đặng ghét nhau, nghe à!”[6].

Giáo lý Cao Đài nêu sự cao thượng, tiến bộ, diệt mê tín dị đoan, coi cõi Hằng sống (Thiên đàng) và thế gian (Địa đàng) chỉ là một: “Cảnh nhàn chẳng phải đâu xa, chỉ ở nơi địa đàng đây” (Đàn đêm 21-2-1927)[7] hoặc “Tiên Phật nơi mình chẳng ở xa” (Đàn 28-1-1926). Đức Thượng Đế Cao Đài chỉ rõ: “Hễ cái tâm sáng suốt thiện từ đạo đức là thiên đàng, còn tâm mê muội vạy tà hung bạo là Địa ngục cũng chỉ tại cái tâm”. Chính cái tâm của một số môn đệ thấp kém mà Thượng Đế răn dạy: “Đạo Thầy không mê tín dị đoan, một số môn đệ bài biện vô lối, chẳng bao lâu thành ra mối bàn môn Tà Đạo”.

Người tín đồ Cao Đài nào cũng thông suốt lời dạy sau đây của Đức Chí Tôn: “Thầy đến đặng hườn nguyên chơn thần cho các con đắc đạo”[8]. Nói thế không phải ai nhập môn vào đạo đều đắc Đạo được cả mà phải dày công tu luyện. Trong quan niệm về Thượng Đế và vũ trụ, Đạo Cao Đài cho rằng Thượng Đế có từ trong hư vô nên Thượng Đế là tự có, hằng có và hằng còn. Ngôi của Thượng Đế là Thái cực, rồi Thượng Đế vận chuyển Thái cực phân ra Lưỡng nghi là Âm Dương, rồi âm tăng trưởng cực đại là Thái âm, sinh thêm Thiếu dương. Dương tăng trưởng cực đại là Thái dương sinh thêm Thiếu dương hiện tượng này gọi là Tứ tượng. Từ đây, Thượng Đế có đủ 3 ngôi là: Ngôi thứ nhất là Thái cực; Ngôi thứ hai là Lưỡng nghi; Ngôi thứ ba là Tứ tượng (Thái âm, Thiếu dương, Thái dương, Thiếu âm); Từ Tứ tượng sinh ra Bát quái, từ Bát quái biến hóa vô cùng mà tạo ra Càn khôn thế giới và vạn hữu chúng sinh. Quan niệm về Thượng Đế và vũ trụ Cao Đài có nguồn gốc từ Đạo Lão và Dịch lý của Đạo Nho. Theo Lão Tử thì trước khi trời đất xuất hiện đã có Đạo. Đó là Đạo vĩnh cửu, không có hình dáng, không có tên gọi, nên gọi là Đạo. Quan niệm về vũ trụ có một bản thể tối sơ gọi là hư vô chi khí, trong bản thể ấy chứa đựng hai nguồn năng lượng nguyên thủy của Dương và Âm là Lý và Khí. Thái cực là nguyên lý hay nguyên động lực thúc đẩy hai nguồn năng lượng Âm Dương trong vũ trụ để sanh hóa vạn vật. Vậy trước khi có Thái cực đã có Khí - Lý là gốc của Âm Dương thuộc về Tiên Thiên. Còn gọi là hư vô chi khí. Sau khi Thái cực hóa sanh vạn vật thì trong mỗi vật đều tiềm ẩn hoặc bộc lộ tính chất Âm Dương, đó là Âm Dương thuộc Hậu thiên. Như vậy theo Đạo Cao Đài, Thượng Đế ban cho mỗi loài, mỗi vật có hai phần, phần hữu hình là thể xác, phần vô hình là linh hồn, hai phần này tương hỗ và nương dựa vào nhau mà sinh hóa tồn tại.

         Trong quan niệm về nhân sinh quan con người, Đạo Cao Đài cho rằng con người được Đức Thượng Đế tạo dựng nên con người có cùng chất liệu với Thượng Đế nên mang sự linh diệu, sáng suốt, trường tồn. Những sinh vật thấp hơn thì tùy theo sự tiến hóa mà có bản năng khác nhau. Nhân sinh quan Cao Đài có các điểm chính sau đây: Linh hồn con người là một siêu thực thể trường tồn bất diệt. Linh hồn kết hợp với thể xác tạo thành con người có sự sống hoàn hảo. Con người hoàn toàn có quyền tự chủ dìu dắt thiên lương của mình. Mỗi người phải được tự do sống theo tính phận của mình. Cõi trần là một trường học, con người là những học trò đang theo học trên trường đời. Số mạng và tương lai của con người không phải là một việc đã được an bài hay định trước bởi Thượng Đế, mà do nhân quả của mỗi người.

Thiên nhãn có nghĩa là con mắt Trời. Thờ Thiên nhãn tức là thờ Trời. Trên quả Càn khôn, Đạo Cao Đài vẽ Thiên nhãn ngay phía trên ngôi sao Bắc Đẩu, tức nhiên Đức Chí Tôn ngự tại ngôi Bắc Đẩu. Biểu tượng Thiên nhãn của Đạo Cao Đài có một ý nghĩa vô cùng cao cả và đặc sắc. Thờ Thiên nhãn với con mắt mở, để chúng ta luôn luôn nhớ rằng, bất cứ ta làm việc gì, Trời đều thấy rõ, không thể giấu giếm, cũng không thể sau này chối cãi được. Vẽ một con mắt để thờ, mà không vẽ 2 con mắt (một cặp) là bởi vì 1 là số khởi thủy của Càn khôn Vũ trụ và vạn vật (theo Dịch học): 1 sanh 2, 2 sanh 3, 3 sanh vạn vật. Tức là nhất bổn tán vạn thù, vạn thù qui nhất bổn. Cho nên, số 1 là gốc, lại là số Dương, mà Đức Chí Tôn làm chủ Dương quang, thì rất hợp lẽ. Số 1 cũng chỉ ngôi Thái cực, là ngôi độc nhất trong Càn khôn Vũ trụ. Vẽ con mắt bên trái để thờ, chớ không phải vẽ con mắt bên phải, bởi vì bên trái thuộc về Dương, bên phải thuộc về Âm, nên khi vào Thánh thất quì cúng Đức Chí Tôn, phái Nam quì bên trái của Đức Chí Tôn; phái Nữ quì bên phải của Đức Chí Tôn (Nam tả, Nữ hữu). Do đó, con mắt trái tượng trưng Đức Chí Tôn và Đức Chí Tôn chưởng quản khí Dương quang. Thờ Thiên nhãn có ý nghĩa đại đồng. Bất cứ dân tộc nào cũng biết vẽ con mắt để thờ, và vẽ hình con mắt không có tính cách phân biệt chủng tộc, nên có tính chất chung hết, tức là Đại đồng. Trong Thánh ngôn Hiệp tuyển viết như sau: “Con hiểu Thần cư tại nhãn”. Bố trí cho chư Đạo hữu con hiểu rõ. Nguồn cội Tiên, Phật do yếu nhiệm là tại đó”[9]. Tác giả Huệ Minh cho rằng: Giáo lý Cao Đài không nhất thiết ở trong một quyển sách nào hay một loại kinh điển nào. Giáo lý Cao Đài ở trong tất cả mọi kiến giải phản ánh được chân lý và phụng sự được chân hạnh phúc của con người một cách trung thực và toàn vẹn[10].

Tóm lại, Đạo Cao Đài dạy con người sống trung thực, trong sáng, biết thương yêu, đoàn kết, đùm bọc nhau, tu hành để rèn luyện đạo đức, tác phong và bài trừ mê tín, dị đoan. Điều này, thể hiện tôn giáo Cao Đài có sự tiến bộ trong giáo lý, hướng con người đến sự hoàn thiện, hoàn mỹ, tu hành để tự giải khổ cho bản thân, giải thoát cho mọi người nhằm xây dựng một xã hội đại đồng, hoà bình, hạnh phúc. Điều đó đã góp phần giữ gìn truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, không có tinh thần phục cổ mà thích nghi với xã hội tiến bộ, văn minh.

Đảng, Nhà nước luôn quan tâm vấn đề tôn giáo và ghi nhận những đóng góp của tôn giáo trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đạo Cao Đài là tôn giáo sinh ra tại Việt Nam nên mang đặc điểm, tính chất của dân tộc. Đạo Cao Đài là tôn giáo có đường hướng hành đạo tiến bộ, có quá trình hoạt động gắn bó với dân tộc. Đạo đức tôn giáo có những nội dung phù hợp với đạo đức cách mạng của Đảng Cộng sản, phát huy những giá trị cao đẹp của tôn giáo để giáo dục con người sống có đạo đức, có văn hóa, có tình người, biết đoàn kết, thương yêu nhau trong cuộc sống. Nghiên cứu các giá trị văn hóa của Đạo Cao Đài để hiểu và trân trọng những hoạt động mang tính tâm linh của Đạo Cao Đài, đồng thời cũng góp phần tích cực trong việc vận động chức sắc, tín đồ tham gia các hoạt động văn hóa ở cơ sở, tuyên truyền, giáo dục lối sống đạo đức, trong sáng, tiết kiệm, thương yêu, giúp đỡ nhau trong cuộc sống của nhân dân./.

 

         Hoàng Minh Thiện

 



[1] Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội,1980, tr.94.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, 1998, tr.56.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thú XI, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr.321.

[4] Nguyễn Khắc Bích, Sách phần Đạo Cao Đài, Nhà in Kiến Hòa, Bến Tre, 1971, tr. 211.

[5] Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ, Lịch sử Đạo Cao Đài (quyển 1), Khai Đạo từ khởi minh đến khai minh, NXB Tôn giáo 2005, tr.290

[6] Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ, Tòa thánh Tây Ninh, Thánh ngôn Hiệp tuyển (quyển thứ nhì), Hội thánh giữ bản quyền, Tây Ninh, 1970, tr. 82.

[7] Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ, Tòa thánh Tây Ninh, Thánh ngôn Hiệp tuyển (quyển thứ nhì), Hội thánh giữ bản quyền, Tây Ninh, 1970, tr. 34.

[8] Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ, Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Thánh ngôn Hiệp tuyển, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2006, tr. 14.

[9] Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ, Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Thánh ngôn Hiệp tuyển, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2006, tr. 14.

 

[10] Huệ Minh, Tìm hiểu Đạo Cao Đài qua tám nhận định, Tài liệu học Đạo – Phổ biến nội bộ, Bến Tre, 2008, tr. 85.

Giáo lý đạo Cao đài và sự tương đồng với giá trị văn hóa truyền thống dân tộcNam Bộ là vùng đất rộng, chưa khai phá hết, con người chất phác, phóng khoáng. Cư dân chủ yếu là những người ở vùng khác đến khai hoang, lập nghiệp nên họ có lòng kính thờ các Đấng Thiêng liêng, nhất là Tam giáo (Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo) là các tôn
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tôn giáo và mối quan hệ với văn hóa
Sự chuyển giao triều đại tại Giáo triều Vatican (Phần II)
Sự chuyển giao triều đại tại Giáo triều Vatican (Phần I)
Đôi điều tìm hiểu về bàn thờ gia tiên (Phần II)
Mối tương quan giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam và Liên Hội đồng Giám mục Á châu
Đôi điều tìm hiểu về bàn thờ gia tiên (Phần I)
Islam giáo cấp tiến thời hậu “Mùa xuân Arập” (Phần II)
Islam giáo cấp tiến thời hậu “Mùa xuân Arập” (Phần I)
Giáo hoàng Benedict XVI từ nhiệm, tâm tình của Công giáo Việt Nam
Khái quát về tước hiệu Hồng y và chức năng Hồng y trong Giáo hội Công giáo
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Các tổ chức Tin Lành chuyển đổi hình thức sinh hoạt tôn giáo để phòng, chống dịch Covid-19
Hàng vạn du khách dự lễ khai hội đền Sóc Xuân Canh Tý 2020
Nghi lễ 'Tống cựu nghinh Tân' tại Hoàng thành Thăng Long
Audio
TS. Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về Công tác chấn chỉnh các hoạt động lệch chuẩn tôn giáo tại các cơ sở thờ tự của Phật giáo
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn