Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 01/04/2020 04:37 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 1+2/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 12/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 11/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tôn giáo và mối quan hệ với văn hóa

1. Tôn giáo

Tôn giáo là đối tượng xem xét của nhiều ngành khoa học trong suốt lịch sử phát triển của tôn giáo. Việc nghiên cứu tôn giáo đã có từ lâu nhưng việc xem xét tôn giáo như một môn khoa học nhân văn mang tính giao thoa hoặc tính tổng hợp, mới xuất hiện chưa lâu. Do đó, có nhiều quan điểm khác nhau về tôn giáo như quan điểm thần học, quan điểm tâm lý học, quan điểm xã hội học, quan điểm dân tộc học, quan điểm triết học,…

 

Theo định nghĩa của giáo hội (thần học) thì tôn giáo là mối liên hệ của con người với Thượng đế, với Thần linh, với cái tuyệt đối, với một lực lượng nào đó, với sự siêu việt hóa,… Nhà thần học và triết học Tin Lành giáo, R. Otto (1869-1937) cho rằng tôn giáo là “sự thể nghiệm cái thần thánh”[1].

Theo định nghĩa sinh học và tâm lý học về tôn giáo tìm kiếm cơ sở của tôn giáo trong các quá trình sinh học hay tâm sinh học của con người hoặc tách tôn giáo ra từ tâm lý cá nhân hay tâm lý nhóm. Một trong những người sáng lập ra tâm lý học tôn giáo là nhà triết học theo chủ nghĩa thực dụng người Mỹ, V. Jemes (1842-1910) giải thích tôn giáo nhờ xuất phát từ tâm lý cá thể: “Chúng ta thỏa thuận gọi tôn giáo là tổng thể những tình cảm, hành vi và kinh nghiệm của cá nhân riêng biệt vì nội dung của chúng quy định quan hệ với cái mà tôn giáo tôn sùng - Thượng đế”[2].

Quan niệm của C. Mác (1818-1883) và Ph. Ăngghen (1820-1895) cho rằng tôn giáo là rất đa dạng, được phân biệt tùy thuộc vào các nguyên tắc và các phương pháp xuất phát điểm. Hai ông đã nêu đặc trưng tôn giáo dựa trên quan niệm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và con người. Các ông cho rằng tôn giáo không có lịch sử riêng của mình, không có bản chất đặc biệt và nội dung đặc biệt nằm ngoài thế giới. Tôn giáo phát triển trong bối cảnh lịch sử xã hội; sự tiến hóa của tôn giáo diễn ra tùy thuộc vào sự phát triển của sản xuất xã hội, của hệ thống quan hệ xã hội. Trong tôn giáo, con người biến thế giới kinh nghiệm của mình thành một bản chất tưởng tượng, đứng đối lập với nó như một vật xa lạ.

C. Mác viết: “…tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để mất bản thân mình một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược”[3].

Ph. Ăngghen viết: “…tất cả tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”[4].

         Như vậy, có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về tôn giáo. Dưới góc độ khoa học, mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận vấn đề tôn giáo theo hướng nghiên cứu của mình. Mỗi khái niệm về tôn giáo đều chưa làm cho các nhà nghiên cứu hay chính những chức sắc, tín đồ tôn giáo vừa lòng. Bởi tôn giáo là lĩnh vực tinh thần có nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau theo quan điểm chủ quan của mỗi người. Trên quan niệm của C. Mác và Ph. Ăngghen về tôn giáo, có thể nói rằng, tôn giáo là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội, tôn giáo tạo cho con người có niềm tin vào thế giới vô hình nơi hư vô, nhưng con người vẫn sống trong cuộc sống hữu hình nơi trần thế, đồng thời tôn giáo quy định những luật lệ, nghi thức mang tính thiêng liêng để con người thực hành, tuân theo.

2. Văn hoá

Cũng giống như tôn giáo, khái niệm văn hoá vẫn đang là vấn đề còn tranh luận. Dù nghiên cứu văn hoá dưới góc độ nào thì văn hoá vẫn có những nội dung cơ bản của nó. Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo và lưu giữ trong quá trình lịch sử. Như vậy có thể hiểu văn hoá là lĩnh vực rộng lớn bao gồm toàn bộ hoạt động và sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người từ trước đến nay. Nghiên cứu văn hoá có rất nhiều khoa học khác nhau dựa trên những cách tiếp cận của từng ngành với những mục đích khác nhau. Mỗi bộ ngành trong các khoa học về văn hoá có nhiệm vụ nghiên cứu một lĩnh vực văn hoá nào đó.

         Khái niệm văn hoá vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau. Các nhà đạo đức học coi văn hoá là đạo đức, các nhà tôn giáo học coi văn hoá là phong tục, tập quán, tín ngưỡng, các nhà dân tộc học coi văn hoá là hình thức biểu hiện đời sống của các tộc người,… Tính đa nghĩa của khái niệm văn hoá không chỉ có trong nhận thức lý luận mà còn là thực tiễn. Văn hoá là khái niệm đang vận động, mang tính lịch sử, biến đổi cùng các thời đại trong lịch sử. Hiện nay trên thế giới có hàng trăm định nghĩa về văn hoá, mỗi định nghĩa đi vào một khía cạnh khác nhau của văn hoá.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa về văn hóa, như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[5]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: tôn giáo là sản phẩm sáng tạo của con người, tôn giáo là một trong các lĩnh vực của văn hóa. Tôn giáo và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ từ cội nguồn lịch sử của chúng.

Về mặt lịch sử thì lĩnh vực đầu tiên của đời sống tinh thần là thần thoại, nó hợp nhất với các phương thức khác để khám phá thế giới bằng tri thức, kỹ năng, khuôn mẫu, tín ngưỡng, lễ nghi, bắt chước, trang trí, hát, múa,… Các lĩnh vực văn hóa tinh thần khác nhau đã dần dần tách ra trong quá trình phân hóa phức hệ thần thoại, nghệ thuật, đạo đức, triết học, khoa học, tôn giáo,… Cùng với các lĩnh vực văn hóa khác thì tôn giáo đã tạo ra và tích lũy các phương thức và các thủ thuật thực hiện tồn tại người trong lĩnh vực hoạt động vật chất, cũng như trong lĩnh vực hoạt động tinh thần được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sau khi trở thành một bộ phận của chỉnh thể văn hóa, tôn giáo tích hợp những hiện tượng nghệ thuật, đạo đức, triết học, khoa học để xác định rõ khuôn khổ của mình và kế thừa các truyền thống thần thoại. Các truyền thống này được tái hiện rõ nét trong thần thoại tôn giáo. Thời kỳ đỉnh cao thì tôn giáo thống trị, bao trùm lên toàn bộ lĩnh vực văn hoá. Điều này đã từng xảy ra ở thời kỳ trung cổ. Trong quá trình thế tục hóa, khi xã hội chuyển từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản, các lĩnh vực văn hóa tinh thần như triết học, đạo đức, nghệ thuật, khoa học,… đã dần được giải phóng khỏi tôn giáo. Sự thế tục hóa các hệ thống đạo đức cũng diễn ra làm cho đạo đức tôn giáo đánh mất vị trí độc tôn trong xã hội.

Các tác giả trong sách Tôn giáo lý luận xưa và nay cho rằng: “Tôn giáo biểu hiện là một trong những lĩnh vực của văn hóa tinh thần. Với quan niệm như vậy, thì tôn giáo và văn hóa không tách biệt và xa lạ nhau, tôn giáo không vượt ra ngoài khuôn khổ của văn hóa, không bị mất đi những đặc điểm vốn có của nó với tư cách là một hiện tượng văn hóa. Mặt khác, chỉnh thể văn hóa không thể thiếu tôn giáo, không đánh mất nó, giữ lại nó trong mình, không thu hẹp nội dung và không gian của nó”[6].

         Tác giả Trần Văn Toàn trong bài viết Văn hoá và tôn giáo nhận xét vấn đề tôn giáo là một hiện tượng văn hoá, cho rằng: “Đó là một sự kiện văn hoá, và có lẽ là một sự kiện văn hoá phổ biến và lâu dài bền bỉ nhất trong lịch sử nhân loại”[7]. Tôn giáo không phải là một sự kiện tự nhiên. Thực tại tôn giáo không phải là một vật hữu hình mà khoa học tự nhiên có thể đo lường được. Tôn giáo là hiện tượng về tâm linh mà chỉ thông qua ngôn ngữ làm cho tôn giáo nói lên được ý nghĩa của nó và trở thành một thực tại khách quan ở bên ngoài tâm linh.

         Tôn giáo là một hiện tượng, một bộ phận của văn hoá. Tôn giáo là sự sáng tạo của con người, để lại giá trị về tinh thần và vật chất trong đời sống con người. Tôn giáo có vai trò nhất định trong từng thời kỳ lịch sử của con người, thậm chí có thời điểm tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống con người. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, trình độ dân trí tăng cao nhưng tôn giáo vẫn là điều bí ẩn đối với các nhà khoa học. Lý giải và tìm hiểu nguồn gốc tôn giáo vẫn mãi là đề tài chưa bao giờ kết thúc của con người. Nếu tôn giáo là vật thể hữu hình thì việc giải mã có thể đi đến phần cuối cùng nhưng tôn giáo là các giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra nên sẽ mãi là điều lý thú để tìm hiểu, suy ngẫm. Đồng thời tôn giáo mặc nhiên trở thành một bộ phận, một hiện tượng của văn hoá loài ngoài.

3. Quan hệ giữa tôn giáo văn hóa

Nhà triết học và thần học Tin lành giáo, P. Tilich (1886-1965) trong tác phẩm Thần học văn hóa viết rằng: “Tôn giáo là sự quan tâm tối cao…Tôn giáo là thực thể, là cơ sở và là chiều sâu của đời sống tinh thần của con người”[8]. Tôn giáo nuôi dưỡng văn hóa và đem lại ý nghĩa cho văn hóa. Tôn giáo là yếu tố của văn hóa, nên các hình thức của tôn giáo cũng tuỳ thuộc vào tình hình chung của văn hoá. Văn hóa bao hàm trong mình quan hệ cái “Tuyệt đối”, kinh nghiệm tôn giáo, mặc dù quan hệ này thường xuyên bị phá hủy. Tilich chia văn hoá thành ba loại hình: văn hoá thần trị (theonomos), văn hoá dị trị (hetoros), văn hoá tự trị (autos). Văn hoá thần trị biểu thị tôn giáo không phải như một cái xa lạ, mà như là cơ sở tinh thần của riêng mình; loại hình này không thực hiện được và không đạt tới được trong lịch sử. Các loại hình dị trị và tự trị thể hiện trong tồn tại lịch sử bị tha hoá. Văn hoá dị trị là hệ thống cực quyền hết mức, phục tùng tôn giáo, còn văn hoá tự trị biểu thị sự làm nghèo nàn đời sống tinh thần, thuyết phục con người làm trung tâm, chủ nghĩa nhân đạo, đặc trưng cho nó, nhưng trong nó cũng có mặt “Tuyệt đối”, kinh nghiệm tôn giáo, mặc dù dưới hình thức tiêu cực - cảm xúc về sự trống rỗng và vô nghĩa.

Nội dung của các giá trị tôn giáo do ý thức tôn giáo quy định. Các giá trị ấy được chứa đựng trong những hình ảnh, biểu tượng, khái niệm, thần thoại, truyện ngụ ngôn,… và định hướng sự ứng xử của con người vào thực thể, thuộc tính, mối liên hệ được bản thể hoá nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người. Các lĩnh vực trong thế giới của tôn giáo như triết học tôn giáo, đạo đức tôn giáo, nghệ thuật tôn giáo,… đều hình thành dưới ảnh hưởng của tôn giáo. Trong thế giới quan tôn giáo, triết học tôn giáo sử dụng hệ thống khái niệm và ngôn ngữ của thần học để giải quyết những vấn đề về bản thể luận, nhận thức luận, lôgíc luận, xã hội học, nhân học,… Đạo đức tôn giáo là hệ thống những biểu tượng, chuẩn mực, khái niệm, tình cảm, giá trị đạo đức được tôn giáo phát triển và truyền bá, luôn có nội dung cụ thể (Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo…). Nghệ thuật tôn giáo là một lĩnh vực sáng tạo, lĩnh hội và chuyển tải những giá trị nghệ thuật mà các biểu tượng tôn giáo ở trong đó.

Văn hoá tôn giáo có hai bộ phận. Thứ nhất là những thành tố trong đó hệ giáo lý được trình bày trực tiếp và công khai - sách kinh, thần học, các yếu tố thờ cúng khác nhau,… Thứ hai là những hiện tượng lấy từ triết học, đạo đức, nghệ thuật là hoạt động tinh thần và thờ cúng tôn giáo vào trong sinh hoạt tôn giáo. Bronislaw Kasper Malinowski cho rằng: “Phàm là có văn hóa thì tất có tôn giáo... Mặc dù nhu cầu của văn hóa đối với tôn giáo hoàn toàn là hình thức văn hóa phái sinh, gián tiếp, nhưng quy đến cùng, tôn giáo lại cắm rễ sâu ở nhu cầu cơ bản của nhân loại, và thỏa mãn những nhu cầu ấy”[9].

Văn hoá khác nhau làm cho tôn giáo có sắc thái khác nhau và ngược lại tôn giáo khác nhau làm cho văn hoá khác nhau. Như vậy, ngoại trừ khoa học ra thì tôn giáo có tác động đến nhiều thành tố văn hoá khác. Nếu giả sử con người xoá bỏ hết những thực tại tôn giáo như kinh điển, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc, lễ hội, phép tắc đạo lý liên quan đến tôn giáo thì văn hoá thế giới cũng mất mát đi nhiều.

Văn hóa là một hệ thống được tạo thành bởi nhiều thành tố khác nhau như ngôn ngữ, văn chương, kiến trúc, phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo… Trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của văn hoá có sự tác động của điều kiện tự nhiên và xã hội. Tại mỗi vùng đất, điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội lại có sự khác biệt dẫn đến sự phát triển của văn hoá cũng có sự khác nhau. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt về văn hoá, cũng như tìm hiểu sự biến thiên của một hiện tượng văn hoá trong một không gian trên cơ sở ấy mà làm rõ cái chung và nét riêng của từng không gian văn hoá là một công trình khá phức tạp, nhưng lại không thể không làm”[10].

Trên bình diện địa văn hoá, người ta có thể chia ảnh hưởng tôn giáo đến văn hoá theo các vùng khác nhau: văn hoá Thiên Chúa giáo, văn hoá Phật giáo, văn hoá Hồi giáo, văn hoá Nho giáo… Ở một quốc gia có thể chia thành các tiểu vùng văn hoá chịu ảnh hưởng của các tôn giáo. Theo Ngô Đức Thịnh thì tiêu chí cơ bản để phân vùng văn hóa thể hiện tập trung nhất trong lối sống và nếp sống của cư dân, trong đó có phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội,… Tác giả Hồ Liên viết rằng: “Nghiên cứu văn hóa vùng là tìm hiểu, khai thác, phát huy truyền thống và tính độc đáo văn hóa địa phương, cái đa dạng trong tính thống nhất của văn hóa Việt Nam”[11].

Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử, văn hoá tôn giáo có ít nhiều ảnh hưởng, tác động đến toàn bộ văn hoá xã hội, cũng như các lĩnh vực riêng biệt của văn hoá. Tôn giáo là một thành tố của văn hoá, được sinh ra từ văn hoá và sau đó góp phần thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển văn hoá. Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo không chỉ có quan hệ mật thiết với văn hoá mà còn có tác động mạnh mẽ đến các thành tố khác của văn hoá.

* Kết luận

Có thể nói, tôn giáo và văn hoá là hai lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ trước đến nay. Mỗi lĩnh vực đều bao hàm nhiều yếu tố của điều kiện xã hội và tự nhiên nên các khái niệm hay định nghĩa về tôn giáo và văn hoá chưa làm thoả mãn đầy đủ các nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, về cơ bản các khái niệm đã nêu rõ được các đặc tính, bản chất của từng lĩnh vực để chúng ta có thể chấp nhận và áp dụng vào nghiên cứu khoa học.

 Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hoá là mối quan hệ bộ phận không thể tách rời. Tôn giáo là một hiện tượng của văn hoá hay là một bộ phận của văn hoá nên có mối quan hệ phổ biến, cơ bản và quan trọng trong từng giai đoạn lịch sử. Văn hóa là toàn bộ những hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Nên văn hoá bao trùm cả lĩnh vực tôn giáo./.

 

 

Hoàng Minh Thiện

 



[1] Đỗ Minh Hợp (chủ biên), Tôn giáo học nhập môn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2006, tr. 25.

[2] V. Jemes, Tính đa dạng của kinh nghiệm tôn giáo, Nxb Matxcơva, 1999, tr. 26-27.

[3] C. Mác, Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 1, tr. 414.

[4] C.Mác, Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, tr. 329.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập (in lần 2), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 431.

[6] Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh, Lê Hải Thanh (2005), Tôn giáo lý luận xưa và nay, Nxb Tổng hợp, TP. HCM, 2005, tr. 285.

[7] Trung tâm nghiên cứu tôn giáo đương đại, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Văn hoá tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hoá (Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2010, tr. 450.

 

[8] P.Tilich, Thần học văn hóa, Nxb Matxcơva, 1959, tr. 5.

[9] Trương Trí Cương, (người dịch Trần Nghĩa Phương), Tôn giáo học là gì?, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2007, tr. 33.

[10] Trần Quốc Vượng (chủ biên), Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thuý Anh (2008), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 208.

[11] Hồ Liên, Một hướng tiếp cận văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, 2008, tr. 147.

 

Tôn giáo và mối quan hệ với văn hóaTheo định nghĩa của giáo hội (thần học) thì tôn giáo là mối liên hệ của con người với Thượng đế, với Thần linh, với cái tuyệt đối, với một lực lượng nào đó, với sự siêu việt hóa,… Nhà thần học và triết học Tin Lành giáo, R. Otto (1869-1937) cho rằng tôn giáo
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Sự chuyển giao triều đại tại Giáo triều Vatican (Phần II)
Sự chuyển giao triều đại tại Giáo triều Vatican (Phần I)
Đôi điều tìm hiểu về bàn thờ gia tiên (Phần II)
Mối tương quan giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam và Liên Hội đồng Giám mục Á châu
Đôi điều tìm hiểu về bàn thờ gia tiên (Phần I)
Islam giáo cấp tiến thời hậu “Mùa xuân Arập” (Phần II)
Islam giáo cấp tiến thời hậu “Mùa xuân Arập” (Phần I)
Giáo hoàng Benedict XVI từ nhiệm, tâm tình của Công giáo Việt Nam
Khái quát về tước hiệu Hồng y và chức năng Hồng y trong Giáo hội Công giáo
Bản sắc Văn hóa Việt Nam qua Di sản văn hóa tôn giáo (Phần II)
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Các tổ chức Tin Lành chuyển đổi hình thức sinh hoạt tôn giáo để phòng, chống dịch Covid-19
Hàng vạn du khách dự lễ khai hội đền Sóc Xuân Canh Tý 2020
Nghi lễ 'Tống cựu nghinh Tân' tại Hoàng thành Thăng Long
Audio
TS. Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về Công tác chấn chỉnh các hoạt động lệch chuẩn tôn giáo tại các cơ sở thờ tự của Phật giáo
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn