Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 19/09/2019 10:02 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Nghị định 92/2012/NĐ-CP, sửa đổi để phù hợp với thực tế

 Vừa qua, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Xuân (TS.NTX) Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tôn giáo Chính phủ đã trả lời Phỏng vấn Báo Công giáo và dân tộc (CG & DT) về việc ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP. Trang Thông tin điện tử ban Tôn giáo Chính phủ đăng lại toàn bộ nội dung cuộc phỏng vấn trên.

 

 

          PV: Thưa ông, ngày 08 tháng 11 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. Nghi định này thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ban hành ngày 01 tháng 3 năm 2005. Như thế, xin ông cho biết, sau bẩy năm, những lý do thực tế nào đã đưa đến việc thay đổi này?

TS. NTX: Như chúng ta đã biết, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo được UBTVQH khóa XI thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2004, sau đó Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01tháng 3 năm 2005, Hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định số 22/2005/NĐ-CP). Quá trình thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Nghị định số 22/2005/NĐ-CP đặt ra một số tồn tại, hạn chế, như: có nội dung quy định không khả thi, có nội dung chưa phù hợp với thực tiễn hoặc đến nay không còn phù hợp; có nội dung của Pháp lệnh chưa được hướng dẫn hoặc hướng dẫn nhưng chưa cụ thể, gây khó khăn trong quá trình triển khai, thực hiện. Trong khi chưa sửa đổi bổ sung Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, cần thiết phải sửa đổi bổ sung Nghị định số 22/2005/NĐ-CP để phù hợp với thực tế.

Mặt khác, chủ tương của Chính phủ về cải cách hành chính, trong đó có việc thực hiện Nghị quyết số 54/NQ-CP ngày 10/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Nội vụ (Nghị quyết số 54/NQ-CP). Theo Nghị quyết số 54/NQ-CP, có 25 nhóm thủ tục về lĩnh vực tôn giáo liên quan đến các nội dung trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP cần sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ về thành phần hồ sơ, số lượng hồ sơ và thời hạn trả lời.

Vì vậy, Nghị định số 92/2012/NĐ-CP được ban hành không chỉ khắc phục những vướng mắc, bất cập trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, mà còn đảm bảo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 54/2010/NQ-CP về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Nội vụ, nhằm bảo đảm cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện thuận lợi trong khuôn khổ pháp luật.

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI

PV: Khi một luật lệ mới được ban hành, thường thì có những ý kiến  trái chiều. Cụ thể như đối với Nghị định số 92 này, trong dư luận có người  cho là siết chặt hơn các hoạt động tôn giáo, cũng có ý liến cho là cởi mở hơn. Theo ông, với tư cách là người có trách nhiệm quản lý các hoạt động tôn giáo về mặt nhà nước, ông có ý kiến gì? Và ông cho một vài dẫn chứng cho thấy Nghị định 92 phù hợp với tình hình phát triển của các tôn giáo hiện nay hơn Nghị định 22?

TS. NTX: Chúng tôi cũng nhận được phản hồi với những ý kiến trái chiều về Nghị định số 92/2012/NĐ-CP. Có lẽ cần có thêm thời gian để thực tế làm sáng tỏ. Nghị định số 92/2012/NĐ-CP có nhiều điểm mới giúp thuận lợi cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Chúng tôi xin nêu một số điểm mới đối với hoạt động tôn giáo như sau:

- Về tổ chức được sử dụng con dấu (Điều 11 Nghị định 92). Điều này Nghị định số 22/2005/NĐ-CP chưa rõ. Nghị định số 92/2012/NĐ-CP nói rõ việc khắc, quản lý, sử dụng, giao dịch con dấu của các tổ chức tôn giáo- một vấn đặt ra đối với quan hệ trong tôn giáo và quan hệ xã hội, khi các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân (hiện nay có trên dưới 40 tổ chức tôn giáo ở Việt Nam được công nhận tư cách pháp nhân với quy mô và phạm vi khác nhau).

- Về thành lập trường (Điều 14 Nghị định 92). Điểm c Khoản 2 Điều 13 Nghị định 22/2005/NĐ-CP quy định trong thành phần hồ sơ đề nghị thành lập trường phải có ý kiến bằng văn bản của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh nơi dự kiến địa điểm đặt trường. Quy định này đã gây khó khăn cho tổ chức tôn giáo. Nghị định 92/2012/NĐ-CP đã bãi bỏ nội dung này, do vậy, tổ chức tôn giáo chỉ gửi hồ sơ đến cơ quan nhà nước về tôn giáo ở trung ương để giải quyết. Địa điểm đặt trường do cơ quan ở trung ương và địa phương thống nhất quyết định và trả lời tổ chức tôn giáo.

- Về người nước ngoài theo học tại các trường đào tạo chức sắc tôn giáo (Điều 16 Nghị định 92/2012/NĐ-CP). Nghị định 22/2005/NĐ-CP chưa có quy định về người nước ngoài muốn theo học tại trường đào tạo chức sắc tôn giáo ở Việt Nam dẫn đến khó khăn cho nhà trường và học viên là người nước ngoài, nhất là khi đất nước mở cửa và hội nhập quốc tế. Nghị định 92/2012/NĐ-CP đã quy định rõ việc tuyển sinh người Việt Nam và người nước ngoài của các trường đào tạo chức sắc; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Về phong chức, phong phẩm có yếu tố nước ngoài (Điều 20 Nghị định 92/2012/NĐ-CP). Khoản 4 Điều 16 Nghị định số 22/2005/NĐ-CP quy định “Trường hợp phong chức, phong phẩm có yếu tố nước ngoài phải được sự đồng ý trước của Ban Tôn giáo Chính phủ”. Quy định này hạn chế về tính minh bạch, gây khó khăn cho tổ chức tôn giáo. Điều 20 Nghị định 92 đã quy định “gửi văn bản đề nghị đến cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương’’ và thời hạn trả lời của cơ quan quản lý là sau 60 ngày làm việc. Trong trường hợp không chấp thuận thì phải nêu rõ lý do.

          - Về hoạt động của chức sắc, nhà tu hành tại cơ sở tôn giáo được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh (Điều 33 Nghị định 92/2012/NĐ-CP). Đây là quy định nhằm bảo đảm hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành, tín đồ và các hoạt động có liên quan tại các cơ sở được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, góp phần thống nhất trong quản lý cơ sở và tổ chức hoạt động giữa người phụ trách cơ sở tôn giáo với ban quản lý di tích. Trước đây Nghị định số 22/2005/NĐ-CP quy định không rõ nên có sự chồng chéo, thậm chí tranh chấp giữa tổ chức tôn giáo, cơ quan quản lý văn hóa, du lịch.

- Về cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 34, Điều 35 Nghị định 92/2012/NĐ-CP). Nghị định số 22/2005/NĐ-CP chỉ quy định chung các công trình tôn giáo, Nghị định 92/2012/NĐ-CP quy định phân loại các công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo, công trình phụ trợ và yêu cầu về cấp phép xây dựng thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng đối với từng loại. Quy định mới còn tránh sự chồng chéo của các văn bản pháp luật, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu về xây dựng, sửa chữa công trình tôn giáo chỉ cần gửi một cấp có thẩm quyền đó là cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng.

Về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam (Điều 40 Nghị định 92). Nghị định số 22/2005/NĐ-CP chưa quy định về nội dung này, Nghị định 92 quy định về việc người nước ngoài được sinh hoạt tôn giáo chung với người Việt Nam hoặc thành nhóm riêng tại cơ sở tôn giáo ở Việt Nam để đáp ứng nhu cầu tôn giáo của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế.

 - Về thủ tục hành chính. Thực hiện phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính theo Nghị quyết số 54/2010/NQ-CP, nhằm khắc phục những hạn chế về thủ tục hành chính trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP như thời hạn giải quyết quá dài, không quy định số lượng hồ sơ, cách thức gửi và tiếp nhận hồ sơ, Nghị định này quy định rõ số lượng hồ sơ gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thời hạn trả lời các tổ chức, cá nhân tôn giáo. Nghị định cũng quy định rõ việc tiếp nhận hồ sơ trực tiếp hoặc qua đường bưu điện, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc tiếp nhận hồ sơ.

Trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến tôn giáo, Nghị định cũng quy định rõ phải nêu rõ lý do trong trường hợp không chấp thuận để tổ chức, cá nhân tôn giáo biết, tạo tính minh bạch, rõ ràng trong quá trình thực hiện,...

Nói tóm lại, Nghị định số 92 nhằm khắc phục những tồn tại và hạn chế trong quá trình thực hiện những quy định về pháp luật đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, chúng tôi xin được nhấn mạnh, Nghị định số 92 cũng chỉ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo- đúng như tên gọi của Nghị định. Còn có những vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn như hoạt động từ thiện, xã hội liên quan đến y tế, giáo dục của các tổ chức tôn giáo, về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài, về tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo, … cần phải chờ sửa đổi bổ Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo hoặc văn bản quy phạm pháp luật cao hơn - Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, mới giải quyết được.

HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRONG TINH THẦN THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT

PV: Việc ban hành những luật lệ trong một quốc gia là để tất cả các hoạt động trong tất cả các lĩnh vực phải nằm trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó và theo định hướng của thể chế chính trị hiện hành. Các luật lệ về tín ngưỡng, tôn giáo cũng không nằm ngoài nguyên tắc đó. Vậy theo ông, Nhà nước Việt Nam đang trông chờ gì nơi các tôn giáo đang hiện hữu ở Việt Nam.

TS. NTX: Lời dẫn của câu hỏi này chính là một phần câu trả lời của tôi. Theo tôi biết, các quốc gia đều có quy định pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; có quốc gia ban hành quy phạm pháp luật riêng về tín ngưỡng, tôn giáo, có quốc gia “tản ra” các văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất nhiên, dù cách này hay cách khác, tất cả là để các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải nằm trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nhà nước.

Việt Nam là quốc gia đa dạng về loại hình tín ngưỡng, tôn giáo và có đông người theo tín ngưỡng, tôn giáo. Một đất nước đa dạng về tín ngưỡng, tôn giáo, có nhiều người theo tín ngưỡng, tôn giáo, do đó một lô-gíc đúng, là chính sách của nhà nước phải phản ánh thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của người dân. Các quy định của pháp luật Việt Nam qua Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 92/2012/NĐ-CP chính là thể hiện chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Mặt khác, về phía các tôn giáo, thời gian qua các tôn giáo ở Việt Nam đều xây dựng cho mình tôn chỉ mục đích hoạt động tôn giáo gắn bó với dân tộc, ủng hộ sự nghiệp đổi mới, tuân thủ pháp luật. Do vậy các quy định pháp luật đúng đắn và minh bạch còn  tạo thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo thực hiện đường hướng tiến bộ đã được xác định.

Trên tinh thần đó, Nhà nước mong các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam phát huy những thành tựu đã đạt được về tôn giáo và xã hội trong thời gian qua, đóng góp nhiều hơn nữa cho nhân dân và cho đất nước. Nhà nước cũng mong các cá nhân, tổ chức tôn giáo ở Việt Nam hoạt động tôn giáo trong tinh thần thượng tôn pháp luật.

NHÀ NƯỚC VÀ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO SẼ TIẾP TỤC MỐI QUAN HỆ PHÁT TRIỂN TỐT ĐẸP

PV: Cũng trong dòng ý tưởng này, từ góc độ Nhà nước, ông có đánh giá gì về mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam và Giáo hội cũng như cộng đồng Công giáo Việt Nam hiện nay?

          Đạo Công giáo là một trong những tôn giáo có đông tín đồ, ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Sau nhiều nỗ lực từ cả hai phía Nhà nước và Giáo hội Công giáo thì hiện nay mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội cũng như cộng đồng Cộng giáo Việt Nam đang tiến diễn thuận lợi, trên tinh thần đối thoại, cởi mở và hòa hợp. Cộng đồng Công giáo Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, do đó Nhà nước luôn quan tâm nhu cầu tinh thần của đồng bào Công giáo, tạo điều kiện cho hoạt động tôn giáo của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Bên cạnh đó Nhà nước luôn có những chính sách kinh tế, xã hội nhằm nâng cao đời sống dân sinh và trình độ dân trí của nhân dân trong đó có đồng bào theo đạo Công giáo. Về phía Giáo hội Công giáo trong thời gian qua đó tổ chức các hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật, vừa đáp ứng nhu cấu sinh hoạt tôn giáo của bà con giáo dân, vừa tạo sự ổn định xã hội. Đồng bào Công giáo trong những năm qua cũng đó có nhiều đóng góp trong công tác bác ái xã hội. Nhà nước luôn ghi nhận và đánh giá cao những thành tựa đó. Tôi nghĩ rằng trong thời gian tới đây, Nhà nước và Giáo hội Công giáo sẽ tiếp tục phát triển mối quan hệ tốt đẹp vì đều hướng đến mục tiêu chung là chăm lo cho đời sống người dân và xây dựng, phát triển đất nước.

         NHỮNG TRIỂN VỌNG THUẬN LỢI CHO VIỆC XÁC LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ VATICAN

PV: Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Nhà nước Việt Nam với Tóa thánh Vatican những năm gần đây đã đạt được những bước tiến lớn. Vậy đâu sẽ là triển vọng tiếp theo của mối quan hệ này?

TS. NTX: Quan hệ Việt Nam - Vatican đã được hai bên thực hiện qua các cuộc tiếp xúc, gặp gỡ và đàm phán giữa hai bên về những vấn đề cùng quan tâm. Từ năm 1990 đến năm 2008, hai bên đã có 17 cuộc tiếp xúc (2 lần tại Vatican và 15 lần tại Việt Nam).

Năm 2009, hai bên đã thành lập Tổ công tác hỗn hợp Việt Nam - Vatican do Thứ trưởng Ngoại giao mỗi bên làm Trưởng đoàn, hai bên đã trải qua 3 vòng đàm phán: vòng 1 (tháng 2/2009) tại Hà Nội do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Quốc Cường và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vatican, Đức ông Pietro Parolin làm trưởng đoàn; vòng 2 (tháng 6/2010) tại Roma do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Quốc Cường và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vatican Ettore Balestrero làm trưởng đoàn; vòng 3 (tháng 2/2012) tại Hà Nội do Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vatican Ettore Balestrero làm trưởng đoàn. Đặc biệt, hai bên có cuộc tiếp xúc giữa những người đứng đầu Nhà nước Việt Nam và Vatican như: Cuộc gặp giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Giáo hoàng Benedict XVI (11/2007); Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Giáo hoàng Benedict XVI (12/2009); Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Giáo hoàng Benedict XVI (01/2013).

Từ tháng 6 năm 2011, Chính phủ Việt Nam đồng ý cho Tòa thánh Vatican cử Đặc phái viên không thường trú của Vatican vào Việt Nam trong mối quan hệ với nhà nước Việt Nam và Giáo hội Công giáo Việt Nam. Từ đó đến nay với 14 lần vào Việt Nam, Đặc phái viên đi thăm, hoạt động mục vụ ở 26 giáo phận, đến hơn 52 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tất cả các chuyến đi của Đặc phái viên đều diễn ra thuận lợi và tốt đẹp.

Có thể nói, với những gì đã thu được từ quá trình gặp gỡ, tiếp xúc của hai bên, trong tiềm năng và với thiện chí của hai phía, chúng ta tin tưởng rằng sẽ tạo những triển vọng thuận lợi cho việc xác lập quan hệ ngoại giao giữa Việt NamVatican trong thời gian tới đây.

          PV: Cuối cùng, nhân dịp đầu năm mới, xin ông có đôi lời với đồng bào Việt Nam Công giáo.

TS. NTX: Nhân dịp năm mới Quý Tỵ, thay mặt Ban Tôn giáo Chính phủ, tôi xin gửi đến đồng bào Công giáo trong cả nước lời chúc mừng năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc và an khang, thịnh vượng. Mong muốn dưới sự hướng dẫn của các vị chức sắc hàng giáo phẩm, bà con giáo dân Công giáo tiếp tục thực hiện tốt chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước trong các hoạt động tôn giáo; xây dựng mối đoàn kết, hoà hợp đạo - đời trong tinh thần “sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” (Thư chung 1980 của HĐGMVN) và thực hiện ý chỉ của Giáo hoàng Benedict XVI người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt".

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông Phó Trưởng ban Thường trực ban Tôn giáo Chính phủ đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này

 

Nguyễn Thanh Long thực hiện ( Nguồn Báo Công giáo và Dân tộc)

Nghị định 92/2012/NĐ-CP, sửa đổi để phù hợp với thực tếPV: Thưa ông, ngày 08 tháng 11 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. Nghi định này thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ban
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Cộng đồng Tôn giáo Baha’i thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Islam giáo trong tiến trình “Cách mạng ngày 25 tháng 1” ở Ai Cập
Trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến tôn giáo của cơ quan có thẩm quyền theo Nghị định số 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Bước đầu tìm hiểu về con dấu trong các tổ chức tôn giáo
Nghị quyết 25-NQ/TW của Đảng là một sự phát triển chủ nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận tôn giáo
50 năm Công đồng Vatican II – từ những góc nhìn
Tìm hiểu về vai trò và những định hướng chính trong nội dung hoạt động của Liên Hội đồng Giám mục Á châu
Chất tố cứu thế trong giáo thuyết “Học phật tu nhân” của Phật thầy Tây An
Một số suy nghĩ về công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động thờ Mẫu ở Việt Nam
Sự giống nhau và khác nhau giữa tôn giáo với tín ngưỡng, giữa tín ngưỡng với mê tín dị đoan và mối quan hệ giữa chúng
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn