Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 26/06/2019 03:55 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 4/2019
Nghi lễ lên đồng – Lịch sử và giá trị
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Một số quy định của pháp luật đất đai hiện hành có liên quan đến tôn giáo

Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt; là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, vì vậy trong các vấn đề quản lý của Nhà nước thì vấn đề quản lý đất đai, ban hành các chính sách, các quy định pháp luật về đất đai luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Đất đai liên quan đến tôn giáo cũng không nằm ngoài tầm quan trọng đó.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật Đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua. Kể từ đó đến nay, Luật Đất đai đã đem lại sự đổi mới khá toàn diện của pháp luật điều chỉnh vấn đề đất đai ở nước ta như chế độ sở hữu toàn dân được cụ thể hóa,… đồng thời phát huy được tính ưu việt của nền kinh tế thị trường và góp phần rất lớn cho sự tăng trưởng, phát triển kinh tế.

Song song với việc quy định các vấn đề như quyền của Nhà nước đối với đất đai và quyền quản lý nhà nước về đất đai; chế độ sử dụng các loại đất; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;…Luật đất đai 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã dành một số điều khoản quy định về đất đai liên quan đến tôn giáo. Trong khuôn khổ của bài viết này xin được giới thiệu một số quy định của luật đất đai hiện hành có liên quan đến tôn giáo như: các cơ sở tôn giáo có được xem là một trong những đối tượng được sử dụng đất không? quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; những hành vi trong quản lý, sử dụng đất bị Nhà nước nghiêm cấm; thẩm quyền giao đất cho cơ sở tôn giáo; trình tự thủ tục xin giao đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;…

Đối với quy định về người sử dụng đất, đây là một trong các đối tượng áp dụng của Luật, tại khoản 4 Điều 9 của Luật quy định người sử dụng đất gồm có nhiều đối tượng trong đó có cơ sở tôn giáo, cụ thể: 

“…

4. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất;

…”

Như vậy, cơ sở tôn giáo được xác định là một trong những người được sử dụng đất ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, khi sử dụng đất, cơ sở tôn giáo cũng như những người sử dụng đất khác có các quyền cũng như nghĩa vụ tương ứng. Tại Điều 105 của luật quy định quyền chung của người sử dụng đất, bao gồm:

- Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất;

 - Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp;

 - Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp;

 - Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình;

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Và bên cạnh các quyền trên, tại Điều 107 Luật đất đai quy định các nghĩa vụ chung của người sử dụng đất, trong đó có các cơ sở tôn giáo: Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật; đăng ký quyền sử dụng đất; thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; thực hiện các biện pháp bảo vệ đất; tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan; tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất; giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất.

Tuy nhiên, đối với người sử dụng đất nói chung trừ các cơ sở tôn giáo thì còn có nghĩa vụ làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, tại Điều 15 Luật đất đai 2003 cũng quy định những hành vi trong quản lý, sử dụng đất bị Nhà nước nghiêm cấm, đó là các hành vi lấn, chiếm đất đai; không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích; vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố; hủy hoại đất; không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi sử dụng các quyền của người sử dụng đất; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng đất và Nhà nước nghiêm cấm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái các quy định về quản lý đất đai.

Để giúp hiểu rõ hơn đất do cơ sở tôn giáo sử dụng bao gồm những đất nào, Điều 99 của Luật Đất đai quy định: đất do cơ sở tôn giáo sử dụng bao gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.   

Trong thực tiễn, không chỉ các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình mong muốn đủ điều kiện để được Nhà nước giao đất mà đối với các cơ sở tôn giáo cũng rất cần được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện giao đất để phục vụ cho mục đích tôn giáo, vậy cơ sở tôn giáo có được Nhà nước giao đất không? và khi được giao đất có phải trả tiền sử dụng đất? Trả lời cho câu hỏi này Điều 37 của Luật quy định Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất đối với cơ sở tôn giáo và khoản 7 Điều 33 quy định cơ sở tôn giáo khi được Nhà nước giao đất không phải trả tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, để giao đất cho cơ sở tôn giáo thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước và quỹ đất của địa phương, quyết định diện tích đất giao cho cơ sở tôn giáo.

Về thủ tục xin giao đất cho cơ sở tôn giáo cũng được Luật Đất đai quy định khá rõ ràng, cụ thể:

1. Cơ sở tôn giáo có nhu cầu xin giao đất liên hệ với cơ quan được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giao nhiệm vụ thỏa thuận địa điểm hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất nơi có đất để được giới thiệu địa điểm sử dụng đất.

2. Sau khi có văn bản thỏa thuận địa điểm hoặc văn bản đồng ý cho xây dựng công trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên địa điểm đã được xác định, cơ sở tôn giáo xin giao đất, thuê đất nộp hai bộ hồ sơ tại Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất; hồ sơ gồm có:

a. Đơn xin giao đất.

b. Văn bản thỏa thuận địa điểm hoặc văn bản đồng ý cho xây dựng công trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên địa điểm đã được xác định.

c. Văn bản thẩm định về nhu cầu sử dụng đất của Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 30 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.

d. Văn bản xác nhận của Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất về việc chấp hành pháp luật về đất đai đối với cơ sở tôn giáo đã được Nhà nước giao đất trước đó.

Về trình tự giao đất cũng được quy định khá cụ thể giúp cho các cơ quan, tổ chức nói chung, các tổ chức tôn giáo nói riêng thuận tiện khi thực hiện xin giao đất, đó là:

- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thẩm tra và chỉ đạo Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất làm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính khu đất đối với nơi chưa có bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính

- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ địa chính; xác minh thực địa; trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tổ chức bàn giao đất trên thực địa.

- Thời gian thực hiện các công việc giao đất không quá hai mươi ngày làm việc kể từ ngày Sở Tài nguyên và Môi trường nhận đủ hồ sơ hợp lệ cho tới ngày cơ sở tôn giáo nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Như vậy, về thẩm quyền giao đất; trình tự, thủ tục xin giao đất cũng được quy định khá cụ thể tại Luật Đất đai 2003.

Và khi đã được cơ quan nhà nước giao đất, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất có nhu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nhu cầu rất khách quan. Tuy nhiên để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất phải đảm bảo các điều kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 51 của Luật Đất đai, đó là: Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có các điều kiện như cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động; có đề nghị bằng văn bản của tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo đó; có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất của cơ sở tôn giáo đó.

Tại khoản 1 Điều 52 của Luật Đất đai cũng quy định cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho cơ sở tôn giáo là Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Về trình tự, thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất cũng được quy định khá cụ thể: Việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được quy định:

Người đại diện cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm:

- Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; văn bản ủy quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (nếu có).

- Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có).

- Chứng nhận của cơ quan quản lý tôn giáo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.

- Văn bản đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo đó.

- Xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất của cơ sở tôn giáo đó.

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho cơ sở tôn giáo được thực hiện:

- Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm làm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính đối với nơi chưa có bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính; chuyển trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính kèm theo hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến Sở Tài nguyên và Môi trường để thực hiện các thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp không đủ điều kiện thì trả lại hồ sơ và thông báo lý do cho cơ sở tôn giáo xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất biết.

- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Sau không quá 55 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, cơ sở tôn giáo nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, nơi nộp hồ sơ.

Tại Điều 55 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 Về thi hành Luật Đất đai quy định khá cụ thể về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng:

1. Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất có chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải tự rà soát, kê khai việc sử dụng đất và báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo các nội dung sau:

A) Tổng diện tích đất đang sử dụng và ranh giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng;

B) Diện tích đất mà cơ sở tôn giáo đã cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mượn, ở nhờ, thuê;

C) Diện tích đất mà cơ sở tôn giáo đã mượn, đã nhận tặng cho của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân;

D) Diện tích đất đã bị người khác lấn, chiếm;

Đ) Diện tích đất mà cơ sở tôn giáo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao để mở rộng cơ sở tôn giáo;

E) Diện tích đất mở rộng cơ sở tôn giáo mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất kiểm tra thực tế, xác định ranh giới cụ thể của thửa đất và quyết định xử lý theo quy định sau:

A) Diện tích đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của cơ sở tôn giáo và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó để giải quyết nhằm bảo đảm quyền lợi về sử dụng đất của các bên phù hợp với thực tế;

B) Diện tích đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì giải quyết như đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân mượn đất, thuê đất của hộ gia đình, cá nhân khác quy định tại Điều 113 của Nghị định này;

C) Diện tích đất mở rộng cơ sở tôn giáo mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; bị lấn, bị chiếm; đang có tranh chấp thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết dứt điểm để xác định người sử dụng đất.

3. Diện tích đất của cơ sở tôn giáo sau khi đã xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều này và có đủ điều kiện quy định tại khoản 4 Điều 51 của Luật Đất đai thì cơ sở tôn giáo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Để làm rõ hơn đất do cơ sở tôn giáo sử dụng, Điều 99 Luật Đất đai 2003 quy định:

1. Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.

2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước và quỹ đất của địa phương, quyết định diện tích đất giao cho cơ sở tôn giáo.

Bên cạnh các quy định của Luật Đất đai có liên quan đến tôn giáo, để việc quản lý, sử dụng nhà, đất liên quan đến tôn giáo được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật và phù hợp với tình hình thực tế, góp phần xây dựng và phát triển đất nước, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ngày 31 tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 1940/CT- TTg về nhà, đất liên quan đến tôn giáo. Chỉ thị đã khẳng định tính đúng đắn của pháp luật Việt Nam về nhà, đất cũng như chính sách nhất quán tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tôn giáo theo quy định pháp luật và nhu cầu chính đáng về nhà, đất để phục vụ mục đích tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo. Bên cạnh đó Chỉ thị cũng yêu cầu các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chấn chỉnh việc quản lý, sử dụng nhà, đất liên quan đến tôn giáo; rà soát quy hoạch tổng thể về quản lý, sử dụng đất và chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề nhà, đất liên quan đến tôn giáo, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích tôn giáo với lợi ích dân tộc.

Đến nay, sau hơn ba năm thực hiện, Chỉ thị 1940/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo đã được triển khai, thực hiện rộng rãi trên phạm vi cả nước và bước đầu thu được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt đối với vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố hiện có 11.395/24.828 cơ sở tôn giáo tại 63 tỉnh, thành phố được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đạt 46%). Một số tỉnh, thành thực hiện đạt tỷ lệ cao như: Quảng Nam đã cấp 219/219 cơ sở, đạt 100%; Hậu Giang 115/115 cơ sở, đạt 100%; Bạc Liêu đã cấp 26/26 cơ sở, đạt 100%; Vĩnh Long đã cấp 334/337 cơ sở, đạt 99%.

Như vậy, có thể nói các quy định của Luật Đất đai 2003 (sửa đổi, bổ sung 2009) đã có những điều khoản quy định hết sức rõ ràng về đất đai có liên quan đến tôn giáo. Từ đó cho thấy đối với lĩnh vực đất đai liên quan đến tôn giáo đã quy định bao quát hơn, cụ thể hơn giúp cho các cơ quan quản lý cũng như các tổ chức tôn giáo áp dụng thuận tiện trong thực tiễn. Điều này một lần nữa khẳng định cùng với các quy định khác của các pháp luật có liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, Nhà nước luôn đảm bảo cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng như tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo trong vấn đề sử dụng đất./

Minh Anh
Một số quy định của pháp luật đất đai hiện hành có liên quan đến tôn giáoNgày 26 tháng 11 năm 2003, Luật Đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua. Kể từ đó đến nay, Luật Đất đai đã đem lại sự đổi mới khá toàn diện của pháp luật điều chỉnh vấn đề đất đai ở nước ta như chế độ
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
LIÊN HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC Á CHÂU VÀ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO CHÂU Á
Một chặng đường qua sáu kỳ Đại hội
Phật giáo và cuộc sống
"Hiện tượng Hà Mòn" ở Tây Nguyên, những vấn đề cần quan tâm
Người Dịch Kinh Thánh Tin lành Ra Tiếng Việt
Tam pháp ấn – dấu hiệu nhận biết kinh Phật
Ông bà mục sư Cadman với đạo Tin lành ở Việt Nam
Saman giáo ở Hàn Quốc
Thái độ xuyên tạc về thực tế nhân quyền ở Việt Nam là phá hoại quan hệ Việt – Mỹ
Video
Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ: Đại lễ Vesak Liên hợp quốc 2019 kết nối tinh thần Phật giáo
Người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam
Hình ảnh
Trưng bày 4.000 cổ vật khai quật từ 9 tàu cổ dọc bờ biển Việt Nam
Chùa cổ trăm năm tuổi ngoài khơi Hội An
8 quốc gia sở hữu tượng Phật lớn nhất thế giới
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn