Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 16/06/2019 09:55 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 4/2019
Nghi lễ lên đồng – Lịch sử và giá trị
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 3/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Kỷ niệm 100 năm đạo Tin lành truyền đến Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có nền văn hoá lâu đời, đậm đà bản sắc dân tộc kết tinh từ sự đa dạng các nền văn hoá trong cộng đồng 54 dân tộc. Đồng thời, Việt Nam cũng là một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo, mọi tôn giáo đều bình đẳng và được tôn trọng, bảo đảm.

Đa dạng tôn giáo ở Việt Nam

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử thống nhất và đoàn kết của cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo và tín ngưỡng bản địa với các tôn giáo du nhập từ bên ngoài. Ngay từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, sự du nhập của Phật giáo vào vùng kinh đô Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay), đã nhanh chóng hoà nhập với tín ngưỡng và văn hoá bản địa, trở thành một bộ phận tất yếu trong đời sống tâm linh của người Việt cổ. Ở Miền Nam, Phật Giáo Nam Tông đã bắt đầu hình thành và phát triển ở thời kỳ Vương quốc Phù Nam (thế kỷ I-VII), tiếp sau đó ảnh hưởng sâu đậm trong cộng đồng dân tộc Khmer Nam Bộ vào thế kỷ XIII và XIV. Vào đầu thế kỷ thứ X, Nho giáo bắt đầu du nhập vào Việt Nam qua sự ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. Phật giáo phục hưng và trở thành hệ tư tưởng chính thống của triều đại Lý-Trần (thế kỷ XI-XIV) và chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tâm linh của người dân thời kỳ này. Tuy nhiên, kể từ thời Hậu Lê (thế kỷ VI) trở đi, Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính trị-đạo đức chính thống và là một trong những tôn giáo chính trong xã hội phong kiến Việt Nam. Theo những bước chân của các giáo sĩ truyền giáo Tây Âu, Công giáo đã được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI và sau đó phát triển mạnh ở triều Nguyễn và thời Pháp thuộc. Cuối thế kỷ XIX, đầu XX, đạo Tin lành bắt đầu du nhập vào Việt Nam do các nhà truyền giáo đến từ Bắc Mỹ. Trong nửa đầu và cuối thế kỷ XX là sự phát triển mạnh mẽ của các tôn giáo bản địa, đáng lưu ý là Phật giáo Hoà Hảo, đạo Cao Đài, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, …. Cùng với những tín ngưỡng bản địa đã hình thành từ lịch sử ngàn năm của dân tộc, như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo ngoại sinh và nội sinh đã làm phong phú và là bộ phận không thể thiếu đươc trong đời sống tâm linh và tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
 
Tính đa dạng tôn giáo trong đời sống tôn giáo và xã hội Việt Nam là đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hội nhập và phát triển. Cùng với quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, các hình thức tôn giáo mới cũng du nhập vào trong xã hội, được đón nhận và làm giàu thêm tính đa dạng tôn giáo ở Việt Nam.
 
Việt Nam bảo đảm quyền tự do tôn giáo
 
Thúc đẩy sự đa dạng tôn giáo và bảo đảm quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng và đảm bảo, đặc biệt là kể từ khi đổi mới. Hiến pháp 1992 khẳng định “ở nước CHXHCN Việt Nam, các quyền co người về kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và chính trị đều được tôn trọng và bảo đảm” (Điều 50); và “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 70). Hiến pháp cũng bảo vệ quyền của công dân theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo và mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 52 Hiến pháp 1992).
 
Với sự ra đời của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 18/6/2004 và có hiệu lực ngày 15/11/2004, một lần nữa là sự phát triển và mở rộng các nguyên tắc Hiến định, là sự thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, Pháp lệnh cũng thể hiện sự phát triển của hệ thống pháp luật quốc gia trong quá trình nội luật hoá các quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia cam kết. Điều 1 của Pháp lệnh tái khẳng định nguyên tắc tôn trọng các quyền bình đẳng và tự do của công dân, rằng “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các Tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”. Như vậy, quy định này đã một mặt nhấn mạnh đến sự bảo đảm tính đa dạng tôn giáo của đời sống tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tất cả mọi người.
 
Quyền tự do thực hành tôn giáo, tham gia các sinh hoạt tôn giáo của những người có tôn giáo đặc biệt được tôn trọng và bảo đảm. Thực tiễn cho thấy các hoạt động lễ hội, chẳng hạn các ngày lễ lớn hàng năm của nhiều tôn giáo, như lễ Nô-el của Công giáo, lễ Phật đản của Phật giáo, và hàng loạt các ngày lễ của các tôn giáo khác đều được long trọng diễn ra sự tham gia của hàng trăm nghìn tín đồ. Đặc biệt, Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc năm 2008 được tổ chức trọng thể tại Hà Nội với sự tham dự của hơn 4.000 tăng ni, phật tử trong đó có khoảng 2.000 chức sắc, tín đồ đến từ 74 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo không chỉ được xem là nhu cầu tâm linh của những người có đạo được pháp luật bảo vệ và bằng chính sách, thực tiễn của Nhà nước trong việc tôn trọng, thực thi, mà còn được xem là nhu cầu sinh hoạt văn hoá của toàn thể nhân dân.
 
Hiếm có quốc gia trên thế giới có sự dung hoà giữa các tôn giáo lớn trong lòng dân tộc như Việt Nam. Trên hết, hiếm có quốc gia tinh thần khoan dung tôn giáo-một đặc trưng cơ bản của sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo-đã trở thành bản chất của chủ nghĩa nhân văn và nền văn hoá bản địa của dân tộc Việt Nam. Ngay từ thế kỷ XV trở đi, chính sách ‘tam giáo đồng nguyên’ (sự tồn tại đồng hành của 3 tôn giáo trong hệ tư tưởng chính thống của xã hội và đời sống tâm linh của nhân dân: Phật-Nho-Lão) của các triều đại phong kiến Việt Nam đã chứng minh cho thấy hơn ai hết dân tộc Việt Nam có truyền thống lâu đời tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Trong khi ấy, chủ nghĩa bành trướng tôn giáo và bất khoan dung tôn giáo ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ở thời kỳ này là khá phổ biến. Sự thống trị của Công giáo và đạo Tin lành ở các quốc gia phương Tây như là hệ tư tưởng chính thống và do đó các tôn giáo khác đều bị coi là dị giáo, bị đàn áp và bị kỳ thị. Chẳng hạn Vương quốc Anh-một trong cái nôi của các trào lưu tư tưởng tự do, nhân văn và nhân đạo phương Tây, cũng có lịch sử không êm đềm trong vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung và quyền tự do tôn giáo nói riêng. Dưới thời kỳ triều đại Tudors (thế kỷ XV-XVII) là thời kỳ đen tối của việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Ở thời kỳ này, Tin lành là thống trị và Nhà nước Anh đàn áp dã man những người theo đạo Công giáo, Do Thái và các hình thức tôn giáo khác, và hình phạt cho những người không theo Tin lành là hết sức dã man, từ tra tấn vào vạc dầu cho đến xử chảm. Rõ ràng, tinh thần khoan dung tôn giáo là một đặc trưng cơ bản của việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người và quyền tự do tôn giáo. Dân tộc Việt Nam hoàn toàn hãnh diện và tự hào bởi có truyền thống lâu đời của một nền văn hoá khoan dung, nhân văn và nhân đạo.
 
Các quyền con người là có mối quan hệ chặt chẽ và không thể tách rời. Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo gắn liền với quyền tự do cá nhân và quyền tự do lập hội, hội họp. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của nhân dân còn ở khía cạnh đảm bảo quyền được lập hội và hội họp. Vì thế hàng chục tổ chức tôn giáo đã được thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Chẳng hạn, cho đến nay hàng chục tổ chức tôn giáo đã được thừa nhận. Ngoài ba tổ chức tôn giáo đã được công nhận từ trước là Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Giáo hội Công giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Nhà nước đã lần lượt xem xét và công nhận về tổ chức cho các tôn giáo như: Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh – 1999, Hội thánh Cao đài - từ 1995 đến 2000; Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo – 1998; Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) – 2001; Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang - 2004.
 
Từ tháng 9-2006 đến nay, Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận về mặt tổ chức theo quy định của pháp luật cho 13 tổ chức tôn giáo; trong đó có 6 tôn giáo mới là: Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội, Baha’i, Phận Đường Nam Tông Minh Sư Đạo, Minh Lý đạo Tam Tông Miếu, Bửu Sơn Kỳ Hương và 7 tổ chức đạo Tin lành là Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, Tổng hội Báp-tít Việt Nam (Ân điển Nam Phương), Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Nam Phương), Hội thánh Mennonite Việt Nam, Hội thánh Trưởng lão Việt Nam, Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam. Đến nay đã có 33 tổ chức tôn giáo đã được cấp đăng ký và công nhận.
 
Nhà nước Việt Nam cũng chăm lo đến việc đào tạo các chức sắc tôn giáo để thúc đẩy tổ chức và hoạt động của các tổ chức tôn giáo, tăng cường việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tầng lớp nhân dân đối với việc thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Chẳng hạn, trong lĩnh vực đào tạo chức sắc Phật giáo, trong những năm qua Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã mở 3 Học viện Phật giáo, 6 Cao đẳng Phật học, 31 Trường Trung cấp Phật học đào tạo 5.090 tăng ni; Giáo hội Công giáo Việt Nam có 6 Đại Chủng viện đào tạo 1.236 linh mục; Viện Thánh kinh Thần học thuộc Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) đã mở 2 khóa với 150 học viên. Ngày 30-8-2006, Viện Thánh kinh Thần học đã khởi công xây dựng cơ sở mới tại Thành phố Hồ Chí Minh.
 
Quyền tự do ngôn luận của những người có đạo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm trong thực tiễn. Nhà nước luôn bảo đảm rằng các tín đồ và tổ chức tôn giáo, cũng có quyền bình đẳng như các công dân không có tôn giáo, hoàn toàn có quyền tự do bày tỏ quan điểm, chính kiến và tư tưởng. Thực tiễn cho thấy hoạt động xuất bản ấn phẩm tôn giáo chỉ tính 5 năm (1999-2004), Nhà xuất bản Tôn giáo, theo đề nghị của các tổ chức, cá nhân tôn giáo, đã xuất bản được 719 ấn phẩm tôn giáo với 4.200.000 bản in, trong đó riêng Kinh thánh hơn 500.000 bản. Kinh thánh được in bằng các tiếng Ba-na, Ê-đê, Gia-rai nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tôn giáo của tín đồ ở vùng dân tộc thiểu số. Năm 2007, nhà xuất bản Tôn giáo đã ấn hành 620 đầu sách của các tổ chức tôn giáo với 1,2 triệu bản in và 180 xuất bản phẩm tôn giáo với 97.500 bản. Số lượng sách do các tổ chức tôn giáo xuất bản hàng năm đều tăng lên mạnh mẽ. Chỉ riêng năm 2010 đã cấp phép khoảng 1.100 xuất bản phẩm với số lượng bản in từ 2,3 đến 2,5 triệu bản.
 
Nhà nước cũng đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt tôn giáo. Chẳng hạn, số lượng nhà thờ, đền, chùa, thánh thất và nơi thờ tự được xây mới, tu bổ và sửa chữa đã không ngừng tăng. Năm 2003, ở Việt Nam có khoảng 15.244 đền, chùa Phật giáo; 5.456  nhà thờ, nhà nguyện Công giáo; 275 nhà thờ Tin lành; 1.205 thánh thất Cao đài; 35 cơ sở thờ tự của đạo Hoà Hảo, 77 Thánh đường Hồi giáo và hàng chục ngàn đình, miếu, điện thờ. Chỉ tính riêng năm 2003 đã có 425 cơ sở thờ tự được xây lại hoặc xây mới (217 của Phật giáo, 177 của Công giáo, 8 của Tin Lành và 23 của Cao Đài) và 294 cơ sở được sửa chữa, tu bổ. Trong năm 2004, có 165 cơ sở thờ tự được xây mới hoặc sửa chữa, tu bổ. Như vậy, cho đến nay số lượng cơ sở thờ tự và nơi sinh hoạt tôn giáo được thực hiện ở nước ta chiếm tỷ lệ khá lớn, đáp ứng đầy đủ được nguyện vọng của người có đạo và mọi tầng lớp nhân dân.
 
Quyền tự do lập hội và hội họp của các tín đồ tôn giáo cũng được bảo đảm hiệu quả. Chẳng hạn về các hội đoàn tôn giáo, tính đến năm 2006, nước ta có tới hàng nghìn hội đoàn tôn giáo như Phật giáo có 820 gia đình Phật tử, Công giáo có tổng số hội đoàn là 9.531, trong đó các hội đoàn phục vụ lễ nghi tôn giáo 4.278 và hoạt động khác 5.253 (riêng ở Tây Nguyên có 304.876 tín đồ Tin Lành, 1286 chi hội thuộc 8 hệ phái, 79 mục sư và 476 nhà truyền đạo và truyền đạo tình nguyện. Nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện quyền tự do lập hội, hội họp của đồng bào. Cho đến năm 2006, Chính phủ đã công nhận tư cách pháp nhân của 36 chi hội Tin lành mới được thành lập ở Tây Nguyên. Thực tiễn này minh chứng rằng quyền tự do lập hội và hội họp luôn được Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm, nhất là đối với các tín đồ tôn giáo.
 
Quyền tham gia vào quản lý Nhà nước và xã hội của các tín đồ tôn giáo được tôn trọng và bảo đảm. Các chức sắc và tín đồ tôn giáo có quyền tự do ứng cử vào các cơ quan quyền lực của chính quyền từ trung ương xuống địa phương, đặc biệt là trong sự đại diện vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, hoàn toàn bình đẳng như mọi công dân khác theo quy định tại điều 53 và 54 của Hiến pháp. Cho đến nay có 11 đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII  là chức sắc tôn giáo (5 đại biểu Phật giáo, 3 đại biểu Công giáo, 1 đại biểu Phật giáo Hòa Hảo, 1 đại biểu Hồi giáo và 1 đại biểu Cao đài). Thực tiễn này cho thấy việc các thế lực thù địch và chống đối chính quyền cách mạng phê phán và xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo cũng như đàn áp các chức sắc và tín đồ tôn giáo là hoàn toàn vô căn cứ và bịa đặt. Trái lại, thực tiễn ấy khẳng định rõ chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước, sự thừa nhận và bảo đảm bằng pháp luật và thực tiễn hiệu quả đối với việc tôn trọng và hiện thực hoá quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và quyền tham gia vào quản lý đời sống chính trị-xã hội của đồng bào có đạo nói riêng. Quyền bình đẳng của các tôn giáo được bảo đảm bằng luật, chính sách và thực tiễn. Các tôn giáo đều được đối xử bình đẳng và được nhà nước tạo điều kiện vật chất và tinh thần để phát triển tổ chức và sinh hoạt tôn giáo.
 
Quyền con người về mặt bản thể đã chỉ ra sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ, giữa tự do mang tính đạo đức và tự do mang tính luật định. Bởi vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không thể thoát ly khỏi tính quy định của luật pháp quốc gia và quốc tế, với truyền thống văn hoá, bản sắc dân tộc và điều kiện kinh tế-xã hội đặc thù của mỗi quốc gia. Tự do tín ngưỡng và tôn giáo phải luôn được thực hành trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mặc dù pháp luật của Việt Nam quy định “trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Pháp lệnh này thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó” (Điều 38 của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004), về cơ bản khi Nhà nước Việt Nam tham gia một điều ước quốc tế về quyền con người, trách nhiệm của Nhà nước là phải nội luật hoá những quy định quốc tế ấy vào trong hệ thống pháp luật quốc gia của mình, cũng như thực thi tất cả những biện pháp cần thiết về lập pháp, tư pháp và hành pháp để bảo đảm những cam kết ấy cho người dân của mình. Thực tiễn cải cách hệ thống luật pháp, tư pháp và hành pháp của Việt Nam trong những năm qua đã thể hiện rõ tinh thần tôn trọng và thực thi nghiêm túc những cam kết quốc tế của Nhà nước Việt Nam.
 
Hoàng Nghĩa – Bách Hợp
 
Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáoĐa dạng tôn giáo ở Việt Nam Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử thống nhất và đoàn kết của cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo và tín ngưỡng bản địa với các tôn giáo du nhập từ bên ngoài. Ngay từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên,
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
LIÊN HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC Á CHÂU VÀ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO CHÂU Á
Một chặng đường qua sáu kỳ Đại hội
Phật giáo và cuộc sống
"Hiện tượng Hà Mòn" ở Tây Nguyên, những vấn đề cần quan tâm
Người Dịch Kinh Thánh Tin lành Ra Tiếng Việt
Tam pháp ấn – dấu hiệu nhận biết kinh Phật
Ông bà mục sư Cadman với đạo Tin lành ở Việt Nam
Saman giáo ở Hàn Quốc
Thái độ xuyên tạc về thực tế nhân quyền ở Việt Nam là phá hoại quan hệ Việt – Mỹ
Trúc lâm Yên Tử- Thiền phái đậm chất văn hóa Việt
Video
Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ: Đại lễ Vesak Liên hợp quốc 2019 kết nối tinh thần Phật giáo
Người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền 600 năm tuổi thờ 8 vị Vua triều Trần
Kiến trúc độc đáo của những ngôi chùa nổi tiếng ở Lào
Linh thông cổ tự - ngôi chùa có nhiều chuyện huyền tích linh thiêng
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn