Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 15/10/2019 11:54 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Một chặng đường qua sáu kỳ Đại hội

Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) được thành lập vào ngày 07/11/1981 trên cơ sở sáp nhập 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo lớn ở Việt Nam, đó là: Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam; Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; Ban liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh; Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam; Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ; Giáo phái Khất sĩ Việt Nam; Giáo hội Thiên thai giáo Quán tông và Hội Phật học Nam Việt. Việc thành lập GHPGVN đã được Nhà nước Việt Nam công nhận (tại Quyết định số 83/BT ngày 29/12/1981 do Bộ trưởng, Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, nay là Thủ tướng Chính phủ ký).

GHPGVN ra đời đã đáp ứng được nguyện vọng đoàn kết, thống nhất Phật giáo Việt Nam của đông đảo tăng ni, phật tử Phật giáo Việt Nam để thực hiện sự nghiệp truyền bá, duy trì giáo lý Phật giáo và đóng góp công sức cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Đến nay, GHPGVN đã trải qua 6 kỳ Đại hội: Đại hội lần thứ I là Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức vào tháng 11/1981 với nhiệm kỳ hoạt động từ năm 1981 - 1987; Đại hội lần thứ II (nhiệm kỳ 1987 - 1992) tổ chức vào tháng 10/1987; Đại hội lần thứ III (nhiệm kỳ 1992 - 1997) tổ chức vào tháng 11/1992; Đại hội lần thứ IV (nhiệm kỳ 1997 - 2002) tổ chức vào tháng 11/1997; Đại hội lần thứ V (nhiệm kỳ 2002 - 2007) tổ chức vào tháng 12/2002 và Đại hội lần thứ VI (nhiệm kỳ 2007 - 2012) tổ chức vào tháng 12/2007.

Trải qua gần 6 nhiệm kỳ hoạt động, GHPGVN đã có những bước củng cố và phát triển đáng kể, thể hiện ở trên một số phương diện cơ bản: Tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ I GHPGVN đã thông qua Hiến chương gồm 11 chương, 46 điều quy định những nội dung cơ bản trong hoạt động của GHPGVN, cụ thể là các vấn đề: Danh hiệu, huy hiệu, trụ sở; mục đích, thành phần; hệ thống tổ chức; Hội đồng Chứng minh (HĐCM); Hội đồng Trị sự (HĐTS); tỉnh hội, thành hội; đại hội, hội nghị; giáo phẩm; tuyên dương công đức, kỷ luật; tài chính; sửa đổi Hiến chương.
Đây được coi là thời kỳ xây dựng nền móng cho GHPGVN. Hiến chương quy định hệ thống tổ chức GHPGVN là 2 cấp: cấp Trung ương và cấp tỉnh dưới sự lãnh đạo của 2 Hội đồng: HĐCM và HĐTS; giúp việc cho Trung ương Giáo hội có 2 Văn phòng: Văn phòng I (đặt tại Hà Nội), Văn phòng II (đặt tại thành phố Hồ Chí Minh) và 6 ban hoạt động (Ban Tăng sự; Ban Giáo dục Tăng Ni; Ban Hướng dẫn nam nữ Cư sĩ Phật tử; Ban Hoằng pháp; Ban Nghi lễ; Ban Văn hóa). Sau một nhiệm kỳ hoạt động, GHPGVN đã có những bước phát triển và để đáp ứng với yêu cầu công tác Phật sự, tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ II (năm 1887), GHPGVN đã thông qua bản Hiến chương sửa đổi, tập trung vào việc chỉnh lại một số từ ngữ cho phù hợp, mang tính đặc trưng của Phật giáo, như: Tại điều 16, thay cụm từ “Ban thường trực Trung ương Giáo hội” thành “Ban thường trực HĐTS”, thống nhất dùng từ “tăng ni” thay từ " tu sĩ” … để dễ phân biệt với các tôn giáo khác; về tổ chức, bổ sung thêm 2 ban hoạt động của Giáo hội, đó là: Ban Kinh tế nhà chùa và Từ thiện xã hội; Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ III (năm 1992), Hiến chương GHPGVN được tu chỉnh lần thứ 2 với một số nội dung cơ bản: Bổ sung thêm 1 điều so với Hiến chương sửa đổi lần thứ I tại Đại hội kỳ II, đó là điều 17 chương V, quy định: “Ban thường trực HĐTS GHPGVN có tối đa 30 thành viên”, do đó Hiến chương sửa đổi lần này sẽ bao gồm 11 chương và 47 điều; Sửa đổi một số quy định về độ tuổi tham gia HĐCM (điều 9) và tấn phong Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư (điều 37,38,39) cho phù hợp hơn với độ tuổi thực tế của tăng ni trong GHPGVN; Tăng số lượng tham gia HĐTS TW GHPGVN từ 50 lên 70 vị (điều 14); tăng số lượng Phó Chủ tịch thường trực từ 2 lên 3 vị để cân đối vùng miền (điều 20); tăng số lượng Ban Trị sự Phật giáo từ 25 lên 30 vị (điều 24); Tăng nhiệm kỳ của Ban Trị sự từ 3 lên 5 năm (điều 26).
Về tổ chức (điều 19): Tách Ban Kinh tế nhà chùa và Từ thiện xã hội thành 2 Ban: Ban Kinh tế tài chính Ban Từ thiện xã hội; thành lập thêm Ban Phật giáo Quốc tế. Như vậy, đến nhiệm kỳ III GHPGVN đã có 10 ban, viện hoạt động giúp việc cho HĐTS GHPGVN và duy trì cơ cấu tổ chức này cho đến nay.
Một số vấn đề như: Đạo kỳ, Đạo ca, Gia đình Phật tử, thành lập thêm cấp huyện trong hệ thống tổ chức của Giáo hội … tuy chưa được chính thức đưa vào thành một nội dung được điều chỉnh bởi Hiến chương nhưng đã được các nhà lãnh đạo Phật giáo quan tâm và đưa ra trao đổi tại Đại hội.
- Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IV (năm 1997) vấn đề tu chỉnh Hiến chương của GHPGVN tiếp tục được đề cập và thông qua (gồm 11 chương và 48 điều), về cơ bản nội dung không thay đổi, chỉ điều chỉnh một số điểm nhỏ của Hiến chương cho phù hợp với thực tế xã hội, như:
Bổ sung thêm một điều (điều 5): “GHPGVN hoạt động theo đúng luật Phật chế và trong khuôn khổ luật pháp. GHPGVN là người đại diện chính thức của Phật giáo Việt Nam trong mọi quan hệ đối ngoại và quốc tế” (điều này ngay trong lời nói đầu của bản Hiến chương GHPGVN đầu tiên năm 1981 đã được đề cập đến và đến Hiến chương sửa đổi lần thứ III đã chính thức đưa vào thành một điều quy định cụ thể).
Điều chỉnh tăng số lượng thành viên tối đa tham gia HĐTS từ 70 lên 95 vị (điều 14), tham gia Ban thường trực HĐTS từ 30 lên 34 vị (điều 17) và tham gia Ban Trị sự từ 30 lên 37 vị (điều 24).
Điều 30 sửa đổi: Việc tổ chức Đại hội hợp lệ phải có số đại biểu có mặt quá 2/3 tổng số đại biểu được triệu tập (thay vì 1/2 như trước đây).
- Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VI tiếp tục xem xét và thông qua bản Hiến chương sửa đổi (sau 2 nhiệm kỳ hoạt động) gồm có 12 chương, 52 điều tập trung tu chỉnh, bổ sung một số vấn đề cơ bản:
Bổ sung quy định về Đạo kỳ (điều 3), Đạo ca (điều 4) của GHPGVN: Đạo kỳ GHPGVN là cờ 5 màu: Xanh, vàng, đỏ, trắng, vàng cam (tiêu biểu cho hào quang của Đức Phật); Đạo ca của GHPGVN là bài “Phật giáo Việt Nam” của nhạc sĩ Lê Cao Phan.
Về hệ thống tổ chức: Ngoài cấp Trung ương và cấp tỉnh, GHPGVN quy định thành lập thêm 1 cấp, đó là: “Cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Ban Đại diện Phật giáo Quận hội, Huyện hội, Thị hội, Thành hội, với chức năng quyền hạn, sự hoạt động được quy định theo Nội quy do Giáo hội ban hành” (điều 11).
Bổ sung thêm một chương VII gồm 2 điều (29, 30) quy định về Quận hội, Huyện hội, Thị hội, Thành hội, trong đó quy định: “Các Quận, Huyện, Thị xã, Thành phố trực thuộc cấp tỉnh được thành lập Ban Đại diện Phật giáo không quá 15 thành viên, gồm: Chánh Đại diện, 2 Phó Đại diện, một Thư ký, một Thủ quỹ, một Kiểm soát và các ủy viên, do Đại hội đại biểu cùng cấp bầu và được Ban Trị sự Phật giáo tỉnh, thành hội Phật giáo cấp trên phê duyệt”... (điều 29).
Về số lượng tham gia HĐTS, các ban, viện và Ban Trị sự Phật giáo địa phương cũng được Giáo hội sửa đổi lại cho phù hợp, như: Điều 16, 19, 26 Hiến chương quy định, tăng số lượng tối đa thành viên tham gia HĐTS từ 95 lên 147 vị; tăng số lượng thành viên tối đa tham gia Ban thường trực HĐTS từ 34 lên 45 vị; tăng số lượng thành viên tối đa tham gia Ban Trị sự từ 37 lên 47 vị.
Như vậy, có thể thấy GHPGVN đã có những điều chỉnh kịp thời trong từng giai đoạn nhất định cho phù hợp với yêu cầu và thực tế khách quan để củng cố tổ chức và đáp ứng được yêu cầu hoạt động mà Giáo hội đề ra.
b) Về số lượng chức sắc, cơ sở thờ tự: Trước khi thành lập GHPGVN (năm 1981), Phật giáo Việt Nam có khoảng 20.000 tăng ni, 12.500 cơ sở thờ tự và 1 trường Đại học Vạn Hạnh; đến tháng 12/2011 GHPGVN có 46.495 tăng ni[1] (gồm 34.062 sư Bắc tông, 8.574 sư Nam tông Khmer, 805 sư Nam tông Kinh và 3.054 sư Khất sĩ); 14.778 cơ sở thờ tự[2] (trong đó có 12.245 chùa Bắc tông, 454 chùa Nam tông Khmer, 73 chùa Nam tông Kinh, 541 Tịnh xá, 467 Tịnh thất và 998 Niệm Phật đường); khoảng 10.000.000 tín đồ đã quy y (chưa kể đến hàng chục triệu người có tình cảm, tín ngưỡng Phật giáo); 4 Học viện Phật giáo, 30 trường Trung cấp Phật học, 8 lớp Cao đẳng Phật giáo, 1 trường Trung - Cao đẳng Phật giáo và rất nhiều lớp Sơ cấp Phật học; GHPGVN đã có gần 100 tăng ni đã tốt nghiệp tiến sĩ, thạc sĩ chuyên ngành Phật học, tâm lý học, triết học, xã hội học… ở nước ngoài đã về nước tham gia vào các ban, ngành, viện và trường của GHPGVN, tăng cường đội ngũ trí thức chung cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước.
c) Về hoạt động: GHPGVN đã tiếp nối được truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt Nam, gắn bó với dân tộc Việt Nam, thể hiện trên nhiều phương diện:
- Trong xây dựng đất nước, GHPGVN luôn có những đại biểu xứng đáng, được cử tri cả nước tin cậy bầu cử vào Quốc hội, vào Hội đồng Nhân dân các cấp để phản ánh nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, của tăng ni, phật tử với Đảng và Nhà nước, đồng thời góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, đặc biệt là trong bộ phận đồng bào theo đạo Phật. Trong 7 nhiệm kỳ Quốc hội (từ Quốc hội khóa VII năm 1981 đến nay), GHPGVN đã có 12 vị Hòa thượng, Thượng tọa tham gia, trong đó có những vị tham gia nhiều nhiệm kỳ (Hòa thượng Thích Minh Châu tham gia 4 nhiệm kỳ; Hòa thượng Kim Cương Tử, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Chơn Thiện tham gia 3 nhiệm kỳ); đặc biệt Hòa thượng Thích Thế Long đã được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII (1981 – 1987). Quốc hội khóa XIII này GHPGVN có 4 vị chức sắc Phật giáo được nhân dân tín nhiệm, bầu làm những người đại biểu ưu tú của dân, đó là: Hòa thượng Thích Chơn Thiện – Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN; Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm – Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN; Hòa thượng Thạch Huôl – Phó Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Sóc Trăng; Thượng tọa Thích Thanh Quyết - Ủy viên thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN. Ngoài ra, rất nhiều vị tăng ni, phật tử còn tham gia vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể, xã hội… các cấp, góp phần không nhỏ xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo ở nước ta.
 
Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XIII là chức sắc các tôn giáo đến thăm
Ban Tôn giáo Chính phủ trong đó có 4 Hòa thượng 
- Trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, GHPGVN luôn kiên định đường hướng hoạt động “Đạo pháp – Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, tuyên truyền, vận động tăng ni, phật tử tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, đóng góp sức người và sức của cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh với các lực lượng lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam. Trong công tác đối ngoại, GHPGVN là một kênh thông tin ngoại giao quan trọng góp phần khẳng định về chủ trương, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, đấu tranh với các thế lực thù địch vu cáo Nhà nước ta vi phạm về tự do nhân quyền, tôn giáo. Thông qua việc tham gia các diễn đàn và hoạt động Phật giáo quốc tế, như: là thành viên của tổ chức ABCP (tổ chức Phật giáo Châu Á vì hòa bình) và tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo thế giới; tham gia các kỳ Đại lễ Vesak (ngày tam hợp Đức Phật: ngày Phật sinh, ngày Phật thành đạo và ngày Phật nhập Niết bàn) của Liên hợp quốc; tham gia tổ chức Ni giới thế giới… GHPGVN đã có tiếng nói rất tích cực để bạn bè thế giới hiểu hơn về phật giáo, con người, chính sách đối với tôn giáo của nhà nước Việt Nam, góp phần không nhỏ trong việc tạo dư luận ủng hộ của các nước và đấu tranh để Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách CPC (các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo) năm 2008. Ngoài ra, GHPGVN còn góp phần là cầu nối giữa tăng ni, phật tử, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài với nhà nước thông qua các hoạt động Phât giáo, quy tụ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về Tổ quốc.
- Trong các hoạt động xã hội, ngoài các hoạt động tri ân những gia đình thương binh, liệt sĩ, những bà mẹ Việt Nam anh hùng, GHPGVN còn quan tâm đến cộng đồng xã hội. Đến nay, GHPGVN đã có 126 Tuệ tĩnh đường, 655 phòng chẩn trị y học dân tộc, 1 phòng khám Đa khoa[3]. Các cơ sở y tế của GHPGVN hoạt động tương đối hiệu quả, hàng năm khám và phát thuốc miễn phí cho hàng chục ngàn lượt người bệnh. Ngoài ra, GHPGVN còn tham gia nhiều hoạt động từ thiện, nhân đạo, tương thân tương ái, chia sẻ khó khăn với cộng đồng, như: nuôi dạy trẻ em khuyết tật, mồ côi, trẻ bị ảnh hưởng chất độc màu da cam; chăm sóc những người già không nơi nương tựa; tư vấn và nuôi dưỡng những người bị nhiễm HIV/AIDS; xây cầu dân sinh; đắp đường giao thông nông thôn; tặng phương tiện đi lại cho người nghèo; hiến máu nhân đạo; tặng nhà tình nghĩa; hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt… Chỉ tính riêng trong năm 2011, số tiền GHPGVN làm công tác từ thiện, nhân đạo đã lên tới trên 800 tỷ đồng[4]. Những hoạt động của GHPGVN đã góp phần không nhỏ cùng với Nhà nước xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
- Trong đời sống xã hội, đạo đức, văn hoá, lễ nghi Phật giáo đã làm phong phú thêm truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam, góp phần vào việc hình thành nhân cách mang tính nhân văn, nhân ái của một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam.
Với những đóng góp đó, GHPGVN đã 2 lần được Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh (năm 1992 và năm 2011), nhiều tập thể và cá nhân chức sắc, cư sĩ thuộc GHPGVN được Nhà nước tặng nhiều danh hiệu cao quý, đặc biệt trong dịp kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN, Nhà nước đã quyết định tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cho 4 Đại lão Hòa thượng lãnh đạo GHPGVN đã có nhiều công lao đóng góp cho đất nước (Hòa thượng Thích Phổ Tuệ - Pháp chủ GHPGVN; Hòa thượng Thích Trí Tịnh – Phó Pháp chủ, Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN; Hòa thượng Thích Minh Châu – Phó Pháp chủ GHPGVN; Cố Hòa thượng Thích Thanh Tứ - Phó Chủ tịch thường trực GHPGVN).
Nhìn lại chặng đường 31 năm đã đi qua của GHPGVN, những thành quả mà GHPGVN đã đạt được cũng như những đóng góp của toàn thể tăng ni, cư sĩ, phật tử GHPGVN với đất nước rất đáng được trân trọng và tự hào. Mong rằng trong Đại hội Phật giáo các cấp và Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII (nhiệm kỳ 2012 – 2017) tổ chức vào tháng 11/2012 tới, GHPGVN sẽ tiếp tục lựa chọn, suy tôn, suy cử được những tăng ni, cư sĩ đủ tài, đức, đạo hạnh, uy tín tham gia vào bộ máy lãnh đạo GHPGVN, chèo lái đưa con thuyền GHPGVN đi đúng hướng, phát huy nội lực, tăng cường đoàn kết và đấu tranh với những tác động tiêu cực từ các lực lượng lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định xã hội, đồng thời tiếp tục có những đóng góp tích cực xây dựng đất nước, xứng đáng là một tôn giáo “HỘ QUỐC – AN DÂN”./.
 
Minh Nga
 
[1] Báo cáo công tác Phật sự năm 2011 của GHPGVN
2 Báo cáo công tác Phật sự năm 2011 của GHPGVN
3 Báo cáo công tác Phật sự của GHPGVN 6 tháng đầu năm 2011
4 Báo cáo công tác Phật sự năm 2011 của Ban Từ thiện xã hội TW GHPGVN


Một chặng đường qua sáu kỳ Đại hộiGHPGVN ra đời đã đáp ứng được nguyện vọng đoàn kết, thống nhất Phật giáo Việt Nam của đông đảo tăng ni, phật tử Phật giáo Việt Nam để thực hiện sự nghiệp truyền bá, duy trì giáo lý Phật giáo và đóng góp công sức cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Đến nay, GHPGVN
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Phật giáo và cuộc sống
"Hiện tượng Hà Mòn" ở Tây Nguyên, những vấn đề cần quan tâm
Người Dịch Kinh Thánh Tin lành Ra Tiếng Việt
Tam pháp ấn – dấu hiệu nhận biết kinh Phật
Ông bà mục sư Cadman với đạo Tin lành ở Việt Nam
Saman giáo ở Hàn Quốc
Thái độ xuyên tạc về thực tế nhân quyền ở Việt Nam là phá hoại quan hệ Việt – Mỹ
Trúc lâm Yên Tử- Thiền phái đậm chất văn hóa Việt
Công đồng Vatican II: Nửa thế kỷ nhìn lại
Góp phần tìm hiểu về Thiền sư Từ Đạo Hạnh
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền trên vách thủy tinh - 'kỳ quan nhân tạo' độc đáo Thái Lan
Lễ Sene Đolta của đồng bào Khmer
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn