Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 21/09/2019 01:30 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Đạo Công giáo tiến trình hội nhập văn hóa dân tộc ở Việt Nam trước và sau Công đồng chung Vatianô 2

Các sử gia Công giáo nước ta lấy mốc năm 1.533 được ghi trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục là năm khai sinh ra đạo Công giáo tại Việt Nam. Tuy nhiên, mốc này chưa chính xác bởi cũng có nhiều sử liệu khác nói rằng tôn giáo này có mặt sớm hơn và chí ít cũng trước năm 1.533 bởi vì khi đó đã có lệnh cấm rồi, nay cấm lại.

Hơn nữa theo sử gia Linh mục Bùi Đức Sinh thì về tiểu sử của giáo sĩ Inêkhu trong tư liệu trên cũng rất khó xác định. Do đó, vấn đề lịch sử truyền giáo ở nước ta cần tiếp tục có sự tìm tòi để có dấu mốc khai sinh cụ thể hơn. Song có điều chắc chắn là tiến trình hội nhập văn hoá dân tộc của đạo Công giáo tại Việt Nam cũng diễn ra từ rất sớm, trên nhiều bình diện chứ không phải đợi đến Công đồng chung Vaticanô 2 hay Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

1-   Thế nào là Hội nhập văn hoá dân tộc?
 
Bất cứ tôn giáo nào cũng muốn vươn ảnh hưởng của mình ra phạm vi ngày càng rộng và ngày càng có nhiều tín đồ hơn vì vậy tôn giáo nào cũng có hoạt động truyền giáo. Đối với đạo Công giáo, truyền giáo còn là một căn tính, một đòi hỏi thường trực của mọi người Kitô hữu và là nhiệm vụ trọng yếu của tất cả các triều đại Giáo hoàng trong lịch sử giáo hội. Đã có rất nhiều phương pháp truyền giáo được áp dụng trong lịch sử. Thời Trung cổ từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ XV, người ta chủ yếu áp dụng phương pháp từ trên xuống. Nghĩa là cố gắng làm cho các vua chúa theo đạo, theo quan niệm “đạo của quân vương cũng là đạo của thần dân”, có nghĩa là dân chúng sẽ đi theo đạo của vua. Phương pháp này thành công dưới thời Constantino ở La mã thế kỷ thứ III. Rồi ở Armenia năm 314 khi vua Tiridates theo đạo Công giáo thì toàn dân nước này cũng đi theo. Tương tự như thế khi vua Tây Ban Nha Recarcedo năm 587, vua Pháp Clovis năm 496, vua Ba Lan Myeczyslav năm 996, vua Hunggari Stephanô năm 985, vua Nga Vladimir năm 988…chịu phép Rửa thì nhiều người dân cũng chịu Bí tích Khai tâm theo vua. Thời kỳ này ở châu Âu là một “xã hội Kitô” (Christendom) không tách bạch đạo, đời. Thần quyền và thế quyền nương tựa vào nhau để quản trị và phát triển. Tư tưởng chinh phục lại thống trị trong nhiều nhà truyền giáo của giáo hội thể hiện rõ nhất qua các cuộc Thập tự chinh ở thế kỷ XI- XIII. Từ thế kỷ XVI- XVII, cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản, ở châu Mỹ và châu Á người ta lại dùng phương pháp xoá sạch để làm lại (tabula rasa). Có nghĩa là người ta bê nguyên khuôn mẫu Kitô giáo ở châu Âu sang áp đặt vào dân bản địa. Những phương pháp trên mặc dù cũng đạt một số hiệu quả nhưng không bền vững, đồng thời tạo ta sự chống đối lại đạo Công giáo có nơi, có lúc rất gay gắt, gây thiệt hại nhiều cho Giáo hội địa phương như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và cả Việt Nam nữa.
 
Bài học đau xót đó buộc các nhà truyền giáo phải đi tìm phương pháp mới. Đầu thế kỷ XIV, một nhà truyền giáo tên là Raymund Liull (1235- 1316) khi truyền đạo ở vùng người Hồi giáo đã đề xuất một phương pháp là học tiếng nói, cùng chung sống theo văn hoá người Hồi để chinh phục. Tiếc rằng, phương pháp này lúc đó được coi là “tân thời” và không có ai hưởng ứng. Phải đợi mãi sau vụ tranh cãi về nghi lễ Trung Hoa vấn đề hội nhập văn hoá dân tộc mới được bàn đến nhiều trong Giáo hội Công giáo.
 
Theo linh mục F.Gomez, dòng Tên thì thuật ngữ “ Hội nhập văn hoá” (Inculturation) được dùng lần đầu tiên tại hội nghị Truyền giáo tháng 10-1975, tổ chức ở Đại học Ubaniana song trong Thông điệp “Loan báo Phúc âm” của Đức Phaolô VI công bố năm 1975 được coi là bản Hiến chương của Hội nhập văn hoá. Tuy nhiên, theo chúng tôi, ở châu Á, vấn đề này được đặt ra sớm hơn. Có lẽ một phần do bài học đau thương trong lịch sử truyền giáo ở châu lục này và kết qủa sau 20 thế kỷ, tôn giáo này vẫn bị coi là ngoại lai và số tín hữu chỉ là thiểu số chiếm chưa đầy 3 % dân số. Vì vậy, ngay từ cuối năm 1970, 180 Giám mục châu Á khi tham dự đại hội thành lập Liên HĐGM Á châu FABC đã đưa ra khái niệm “Hội nhập văn hoá” trong sứ điệp gửi dân Chúa tại số 24 “để đời sống và sứ điệp Tin mừng được nhập thể hơn vào những nền văn hoá có lịch sử phong phú của Á châu, ngõ hầu trong tiến trình hiện đại hoá và phát triển cần thiết thì Kitô giáo của Á châu có thể giúp cổ võ tất cả những gì thuộc về con người thực sự trong những nền văn hoá này”. Ngoài ra trong nghị quyết “Tin mừng hoá Á châu ngày nay”, các Giám mục cũng đưa ra các khái niệm “bản địa hoá”, “thích nghi hoá”…Lúc đầu, khái niệm “Hội nhập văn hoá” mang tính một chiều vì Giáo hội chủ trương: “Tin mừng được thâm nhập vào nền văn hoá để sàng lọc và thanh tẩy nó” (1). Có nghĩa là văn hoá địa phương là đối tượng bị cải tạo theo văn hoá Kitô giáo mà thực chất là văn hoá châu Âu. Lịch sử truyền giáo một thời gian dài diễn ra theo xu hướng này. Chẳng hạn ở Trung Quốc, các giáo sĩ bắt tân tòng cắt tóc ngắn chứ không được để tóc dài theo tập tục truyền thống (mặc dù cắt tóc ngắn là tiến bộ, ở nước ta phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX cũng có vận động cắt tóc ngắn), không được thờ Khổng Tử. Còn ở Việt Nam, các tín hữu cũng chỉ còn giữ tên thánh khi gia nhập đạo như Anrê, Maria, Raphael, Catriana… chứ không giữ được cái tên cha mẹ đặt cho lúc lọt lòng. Họ cũng bị coi là bất hiếu khi không được thắp hương cho tiên tổ như phong tục bao đời. Tại Phi châu, dân chúng còn bất bình hơn khi tranh tượng đạo cứ thể hiện thần thánh thì da trắng còn ma quỷ da đen trong khi Kinh thánh dạy rằng, Chúa dựng nên con người giống hình ảnh của Chúa?
 
Để tìm ra bước đi thích hợp, từ 1984 đến 1991, FABC (Federation of Asian Bishsop’s Conferences) đã tổ chức tới 12 cuộc hội thảo bàn về “Hội nhập văn hoá”. Quan niệm hai chiều, hỗ tương giữa Tin mừng và văn hoá địa phưong đã được khẳng định: “Một mặt người tín hữu được mời gọi gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hoá; Mặt khác …các Kitô hữu phải học biết nhận định cái tốt, cái thật và cái đẹp là những điều họ tìm kiếm để hỗ trợ và hội
 
-----------------
1-   Dẫn theo Bản tin Hiệp Thông số 5 năm 1999, tr.225
 
nhập vào cuộc sống của mình, từ những giá trị phải được chuyển hoá hay thậm chí phải bác bỏ. Bằng cách này, những nền văn hoá đã được Phúc âm hoá luôn luôn tôn trọng tự do và phẩm giá của mỗi người” (2).
 
          Năm 1974, trong tài liệu “Phúc âm hoá tại Á châu thời hiện tại” , FABC đã nêu lên 3 chiều kích của hội nhập văn hoá là đối thoại với văn hoá châu Á; Đối thoại với các tôn giáo lớn và đối thoại với người nghèo. Còn Bộ Kỷ luật và Phụng tự Bí tích đã ra Huấn thị ngày 31-7- 1996 đề ra ba nguyên tắc cho hội nhập văn hoá là: 1- Phải giữ được tinh thần của Kinh thánh và Giáo hội truyền thống, không làm cho người tín hữu hiểu sai lạc về đức tin; 2- Giữ được hiệp thông với giáo hội hoàn vũ và thứ 3- Giữ được thẩm quyền của Giáo hội tức các Giám mục và Hội đồng Giám mục địa phương.
 
          Nói cho công bằng, mỗi một tôn giáo mới được hình thành như Chính thống, Tin lành, Anh giáo hay cả những phong trào như: Linh mục thợ ở Pháp, Thần học giải phóng ở châu Mỹ Latinh… cũng là những tìm tòi con đường hội nhập văn hoá cho đạo Công giáo tại các địa phương. Có điều, nó đã không tuân theo các nguyên tắc của hội nhập văn hoá và khi xử lý vấn đề cũng thiếu sự mềm dẻo của văn hoá nên đã gây ra chia rẽ, bất hoà mà ngày nay Giáo hội phải mất nhiều công sức hàn gắn để có được sự hiệp nhất, đại kết.
 
          Theo Hiến chế Gaudium et Spes và đặc biệt là Huấn thị của Hội đồng Giáo hoàng về văn hoá ngày 23-5-1999 thì “Văn hoá là phương cách đặc thù của mỗi người, mỗi dân tộc dựa vào để tổ chức các quan hệ của mình với thiên nhiên, với anh chị em đồng loại, với bản thân mình và với Thiên Chúa để có được một cuộc sống nhân bản trọn vẹn”(3). Như vậy quan niệm của Giáo hội về văn hoá cũng cơ bản giống với định nghĩa của UNESCO cũng như các nhà văn hoá học. Cái khác lớn nhất là, Giáo hội Công giáo nhấn mạnh vai trò của tôn giáo. Đức Hồng y J. Ratzinger, nay là đương kim Giáo hoàng Benedicto XVI viết: “Trong tất cả các nền văn hoá mà ta được biết trong lịch sử, tôn giáo luôn là một yếu tố căn bản của văn hoá, thậm chí là linh hồn của văn hoá. Chính tôn giáo ấn định cấu trúc của các giá trị và do đó hình thành nên lý lẽ nội tại của cấu trúc ấy” (4).
 
Vì thế, Đức Bênedicto XVI khi còn là Tổng trưởng Bộ Giáo lý đức tin đã không tán thành việc dùng thuật ngữ “Hội nhập văn hoá” (Inculturation) mà đề nghị dùng thuật ngữ “sự gặp gỡ giữa các nền văn hoá” hay “giao thoa văn hoá” ( Inter culturality). Bởi theo Ngài: “Nói hội nhập văn hoá là giả thiết có một niềm tin nằm ngoài văn hoá được đem trồng vào một nền văn hoá trung lập xét về mặt tôn giáo, cho hai chủ thể là đức tin và văn hoá ấy, vốn chưa quen biết nhau cách chính thức, được gặp nhau và hoà trộn với nhau. Thế nhưng, nói thế là hoàn toàn giả tạo và không thực tế bởi vì…không có niềm tin phi văn hoá, cũng như không có văn hoá phi tôn giáo…Còn nói tới
-----------------
 
2- Sứ điệp của FABC gửi các Kitô hữu ngày 14-1-1996, số 4
3- Theo Bản tin Hiệp Thông số 5 năm 1999, tr.43
4- Bản tin Hiệp Thông số 5 năm 1999, tr. 171
        
sự giao thoa văn hoá là cho thấy hiện tượng này chỉ có thể xảy ra khi văn hoá nào cũng có tiềm năng trở thành phổ quát và cởi mở với các nền văn hoá khác để phát huy thành những hình thức mới” (5). Chúng tôi cho rằng thực chất khái niệm “Hội nhập văn hoá” cũng chính là giao lưu văn hoá vì hội nhập cũng là sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau vì cả hai đều biến đổi và làm phong phú cho nhau. Tiến trình hội nhập văn hoá của đạo Công giáo tại Việt Nam là một minh chứng.
 
2     Tiến trình Hội nhập văn hoá dân tộc của đạo Công giáo Việt Nam trước Công đồng chung Vaticanô 2.
 
Điều may mắn cho đạo Công giáo Việt Nam là ngay từ rất sớm, năm 1659, khi bổ nhiệm hai Giám mục đầu tiên đến việt Nam là Francois Pallu và Lam bert de la Motte Bộ Truyền bá Đức tin đã trao cho một Huấn thị có tên là Monita ad Missinarios (Nhắn nhủ các thừa sai) và thường được gọi tắt là Monita. Huấn thị này được đưa ra thảo luận tại Công đồng Juthia năm 1664 và được Toà thánh phê chuẩn, cho in năm 1669 ở Rôma. Đây là những hướng dẫn đầy tinh thần hội nhập văn hoá dân tộc, đi trước Công đồng chung Vaticanô 2 hơn 3 thế kỷ: “Chư huynh đừng bao giờ muốn sửa đổi, đừng tìm lý lẽ nào để buộc dân chúng sửa đổi những phép xã giao, tập tục, phong hoá của họ trừ khi nó hiển nhiên mâu thuẫn với đạo thánh và luân lý. Có gì vô lý bỉ ổi hơn mang theo cả nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý hay bất cứ nước nào khác bên trời Âu sang cho dân Á Đông chăng? Không phải mang thứ ấy đến cho họ mà là mang chân lý đức tin, một chân lý không loại trừ nghi lễ và tập tục của bất cứ một dân tộc nào, cũng không xúc phạm đến lễ nghi tập tục ấy, miễn là chúng không xấu; Ngược lại, chân lý ấy muốn cho người ta bảo tồn và duy trì chúng là đằng khác” (6).
 
Điều may mắn thứ hai là nhiều nhà truyền giáo đến Việt Nam không chỉ là những người tài ba, kiến thức sâu rộng mà còn có đầu óc cởi mở như Pina, Buzomi, Borri, Đắc Lộ, Batholomeo Ruiz, Majorica, Cadiere…Đến từ các nước văn minh phương Tây nhưng họ lại rất tôn trọng và nhận ra những giá trị của văn hoá Việt Nam. Đắc Lộ khen phương pháp chữa bệnh theo Đông y của nước ta vừa giỏi vừa rẻ tiền; Pháp luật của ta vừa không rườm rà nghi thức vừa không tốn kém tiền bạc, giấy tờ; Đất nước này giàu đẹp, dân chúng ham học hỏi… Ông chỉ phê phán một số tục lệ như tục đốt vàng mã, tin hướng đất, chọn ngày tốt, xấu hay tiêu tốn quá đáng cho người chết. Ông cho rằng, các phong tục, tập quán của nước ta “đa số kể như vô thưởng vô phạt và chúng tôi có thể duy trì mà không phạm tới sự thánh thiện của đạo ta” (7). Còn nhà Việt Nam học Linh mục L. Cadiere (1869-1955) lại hết lời ca ngợi đất nước, con người Việt Nam vì nhận thấy người nông dân Việt cũng giống nông dân Pháp. Đây là tư tưởng rất tiến bộ vì thực dân luôn coi người An Nam là hạ đẳng.
--------------------
5- Theo Bản tin Hiệp thông số 5 năm 1999, tr.177-178.
6- Theo Nguyễn Thế Thoại: Công giáo trên quê hương VN, tập 1, tr.208-210
7- A. Rhodes: Hành trình truyền giáo, Tủ sách Đại kết 1994, tr.58-59
 
Một may mắn thứ ba là Giáo hội Công giáo Việt Nam có nhiều tín hữu gắn bó với dân tộc. Ngay từ những ngày sơ khai đã xuất hiện hai mẹ con công nương Catarina ở Đàng Ngoài dùng hàng ngàn câu ca vè để diễn tả sự tích trong Kinh thánh, rồi linh mục Lữ Y Đoan ở Đàng Trong với “Sấm truyền ca” hơn 5.200 câu. Tiếp đó là Philiphê Bỉnh, linh mục Đặng Đức Tuấn, danh nhân Nguyễn Trường Tộ, linh mục Trần Lục, thi sĩ Hàn Mặc Tử, Giám mục Nguyễn Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn, nhạc sĩ Hải Linh, nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh, các hoạ sĩ Lê Văn Đệ, Nam Phong, Nguyễn Gia Trí…Mỗi người một vẻ, họ đã xây đắp nên những đoạn đường đầu tiên và ngày càng vươn xa trong tiến trình hội nhập với văn hoá dân tộc. Mỗi vần thơ, điệu nhạc, mỗi bức tranh, mỗi kiến trúc nhà thờ mang bản sắc dân tộc không chỉ là tâm huyết với văn hoá Việt mà còn là một sự dũng cảm đầy nghị lực. Chúng ta biết rằng, dưới thời phong kiến, chữ Nho mới là chữ thánh hiền nên dùng chữ Nôm như Majorica là một thách thức với chính quyền. Hơn nữa, một số giáo sĩ phương Tây lúc đó cũng phản đối cho là “Nôm na mách qué”. Một tài liệu viết rằng: “Sách của thày Lữ Y Đoan bị nhiều thày cả Tây hồi đó không ưng vì nó lai sách đạo Nho và đạo Phật, nhưng bổn đạo rất ưa và chép lại để đọc” (8). Người ta vẫn gọi chuông Nam là chuông chùa nên kiến trúc như nhà thờ Phát Diệm cũng sẽ bị phê phán như thế. Không những chỉ phê phán mà có những hành vi bị cấm hẳn. Tại Hội nghị các Thừa sai ở Việt Nam năm 1625 dưới sự điều hành của linh mục Gabriel de Mattos đã thông qua một nghị quyết: Không cho người Việt tân tòng làm thày giảng; Không dùng ngôn ngữ địa phương chỉ thánh danh Chúa; Không cho các tân tòng tham dự “các nghi lễ Trung Hoa”. Các nghi lễ Trung Hoa ở đây bao hàm các nghi lễ tôn kính Khổng Tử, vái lạy người chết. Như vậy việc giáo dân Việt Nam muốn Việt hoá cho gần gũi các danh từ bên đạo như Đức Chúa Trời , Biển Đức, Xuân Bích, Vinh sơn…hay lén lút thắp hương cho ông bà tổ tiên thật là sự “liều mạng” vì cũng là lỗi đạo. Sự tranh chấp ảnh hưởng của các giáo sĩ dòng Tên và Đaminh, giữa các giáo sĩ dòng và triều rồi cả giáo sĩ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp cũng là một nguyên nhân cản trở tiến trình hội nhập văn hoá dân tộc của đạo Công giáo tại Việt Nam vì người cấm, người cho rất khó cho giáo dân thi hành. Ví dụ, vấn đề Tlan (trang thờ người quá cố) thì Công đồng Hội An tháng 10-1682 của các linh mục dòng Tên cho phép giáo dân được để Tlan trong nhà vì “thờ cúng tổ tiên không phải là mê tín dị đoan”. Trong khi đó tại Công đồng Hải Phố khai mạc ngày 26-10-1682 của các linh mục dòng Đa minh lại dứt khoát cấm. Ai vi phạm sẽ bị cấm bén mảng đến nhà thờ. Thư chung ngày 7-6-1759 của Đức Giám mục địa phận Đông còn đưa ra quy định tới 36 điều liên quan đến việc chôn, táng người chết như: Cấm lạy xác kẻ chết, dù để tượng chịu nạn ở đấy; Cấm đốt nến, xông hương cho kẻ chết; Học trò, đày tớ ngày Tết đến nhà thày, chủ nhà cũng không được vái lạy nơi bàn thờ tiên sư, tiên tổ…Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xuyên đã sưu tập hàng trăm thư từ trong 3 thế kỷ từ XVII đến XIX có nội dung tố cáo nhau giữa các giáo sĩ, giữa giáo dân thuộc quyền coi sóc của các giáo sĩ dòng và triều.
--------------
8- Theo Phạm Đình Khiêm: Toạ đàm về Văn hoá công giáo Việt Nam từ khởi thuỷ đến đầu thế kỷ XX, tổ chức ở Huế năm 2000, Kỷ yếu, tr.4
        
Không phải cứ dòng Tên là cởi mở, thông thoáng với vấn đề văn hoá dân tộc và các giáo sĩ dòng Đa minh là ngược lại. Thậm chí trong từng người cũng có vấn đề chấp nhận, có vấn đề bác bỏ. Đắc Lộ là một ví dụ. Ông là người hết sức phê phán thái độ quá tả của các thừa sai đối với văn hoá địa phương nhưng cũng không dám rửa tội cho một thày phù thuỷ ở Thanh Hoá khi ông này vẫn chưa phá hết bàn thờ thần phật trong nhà và vẫn gọi các tôn giáo khác ở Việt Nam lúc đó như Nho, Phật, Lão là “đạo dối” cả! Giám mục Bá Đa Lộc là người hết sức bênh vực việc tôn kính tổ tiên của người Việt, cho đến tận lúc chết vẫn bảo lưu ý kiến đó nhưng ông lại cực lực phản đối việc phong chức linh mục cho người bản xứ và di chúc rằng: “không nên truyền chức nhiều linh mục địa phương; Con số hai chục là đủ cho giáo phận …phải hết sức canh chừng các linh mục địa phương ấy, bất cứ ở đâu và đạo đức như thế nào” (9). Có thể do tâm lý kỳ thị giữa người chính quốc và bản xứ, cũng có thể do sợ mất đi sự trọng vọng của giáo dân nên nhiều giáo sĩ nước ngoài đã chỉ trích, phê phán các linh mục người Việt cho là họ dốt Latinh, ban Bí tích không thành và cản trở họ làm mục vụ. Có người rất giỏi giang, đạo hạnh như linh mục Giuse Phước, tốt nghiệp đại chủng viện Juthia năm 1691 được Đức Giám mục Laneau của Thái Lan coi là “chủng sinh xuất sắc của Thánh Bộ, là hương thơm của Chúa Kitô, là mẫu gương các nhân đức thánh thiện”. Vậy mà ông cũng bị từ chối khi tiến cử lên chức Giám mục chỉ vì ông là “người bản quốc”. Vì thế, cho nên mãi sau 400 năm truyền giáo, năm 1933, Giáo hội Công giáo Việt Nam mới có vị Giám mục người Việt tiên khởi và cũng đến năm 1668 mới có 4 linh mục người Việt đầu tiên. Song con số này cũng nhỏ giọt, tính ra từ năm 1863 đến năm 1945 cũng chỉ có 137 người Việt được phong chức linh mục, trong đó năm 1937 là năm đông nhất , có 10 người được truyền chức .
 
Trong hoàn cảnh như vậy có được bản dịch Kinh thánh Vulgata của Cố Chính Linh (in ở Hồng Kông năm 1913-1914), cuốn kinh bổn dịch sang tiếng Banar và Xê đăng của linh mục Comber, cuốn Cựu ước bằng tiếng Banar của linh mục Jannin hay những bài thánh ca lời Việt của linh mục già Vượng ở Nam Định những năm 1939-1940 hoặc vở tuồng “Thương khó” của linh mục Nguyễn Bá Tòng, hay kiến trúc nhà thờ lớn Phát Diệm năm 1891, các bộ từ điển của Đắc Lộ, Tabert, Bá Đa Lộc…rồi các hình thức tổ chức nhà Đức Chúa Trời, Ban Trùm trưởng ở các xứ họ đạo…đều là những công trình đáng nể trọng, không những đóng góp vào sự phong phú của văn hoá Việt mà còn là những viên gạch xây nên con đường hội nhập văn hoá và đồng hành với dân tộc của đạo Công giáo Việt Nam thời kỳ tiền Công đồng Vaticanô 2.
 
2-   Con đường Hội nhập văn hoá dân tộc sau Công đồng Vaticanô 2
 
Người ta vẫn ví Công đồng Vaticanô 2 như một luồng gió mát thổi vào căn phòng ngột ngạt của Giáo hội lúc bấy giờ và đương nhiên Việt Nam cũng được hưởng sự dịu mát đó. Có điều do hoàn cảnh chính trị, lịch sử bấy giờ nên ở miền Nam được tiếp thu sớm hơn tinh thần đổi mới của Công đồng mà
---------------
9- Theo Launay: Memorial de la Societe 1 des MEP 1916, p.387
 
Thông cáo ngày 14-6-1965 của các Giám mục miền Nam là bằng chứng. Thông cáo viết: “Giáo hội không bao giờ miệt thị, khinh chê tư tưởng cũng như nghệ thuật hoặc văn hoá của người không Công giáo. Trái lại, Giáo hội từng góp phần thanh luyện hoặc bổ túc để đi đến chỗ hoàn hảo…Giáo hội không từ chối công nhận một cách kính cẩn những giá trị tinh thần và luân lý của các tôn giáo khác. Giáo hội không phủ nhận điều gì vốn là chân lý và thánh thiện của bất cứ tôn giáo nào…Những phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính đối với tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ… Giáo hội Công giáo chẳng những không ngăn cấm mà còn mong muốn và khuyến khích cho nó được diễn tả bằng những cử chỉ riêng biệt của mỗi nước, mỗi xứ và tuỳ theo trường hợp” (10). Riêng về vấn đề tôn kính tổ tiên, các Giám mục tham dự Hội nghị Nha Trang ngày 14-11-1974 còn có hướng dẫn cụ thể chi tiết hơn. Như vậy vấn đề gây tranh cãi dai dẳng về thờ cúng tổ tiên nay đã hoàn toàn chấm dứt. Thái độ miệt thị coi các tôn giáo khác là tà đạo, đạo dối “thờ Bụt, Thần” cũng đã bị lên án. Tất nhiên, thái độ đúng đắn nhất đối với các tôn giáo khác phải chờ mãi đến Thư chung 2003 khi các Giám mục Việt Nam lần đầu tiên dùng thuật ngữ “tôn giáo bạn” tại số 11. Trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, cũng đã có nhiều buổi gặp gỡ, đối thoại và tranh cãi giữa đại biểu của Công giáo và đại biểu các tôn giáo khác như linh mục Bunzomi và thày Tư Bàng đạo sư năm 1621 ở Nước Mặn. Rồi cuộc tranh luận giữa Đắc Lộ và một số sư sãi ở Thăng Long năm 1627 hay cuộc tranh luận kéo dài hai ngày đời Lê Cảnh Hưng của đại diện 4 tôn giáo là Nho, Phật, Đạo và Công giáo được ghi lại trong cuốn “Hội đồng tứ giáo” và được xuất bản lần đầu năm 1887…Với kiến thức uyên bác và kiểu tư duy logic chặt chẽ thì kết quả các cuộc tranh luận này bao giờ phần thắng cũng thuộc phía Công giáo và đã có một số nhà sư theo đạo. Trong số này, có người có nhiều đóng góp vào con đường hội nhập văn hoá của đạo Công giáo tại Việt Nam như vị Hoà thượng ở chùa Phao khi trở lại lấy tên thánh là Phanxicô đã cộng tác với Majorica sáng tác ra bản kinh “Phục dĩ chí tôn”, một áng Hán văn tuyệt diệu. Bây giờ, việc đối thoại với các tôn giáo hoàn toàn không phải nhằm mục đích thắng thua, cũng không phải chỉ nhằm mục đích thuyết phục họ tòng giáo mà có ý nghĩa nhân bản, cộng đồng hơn. Thư chung 2003 viết: “Mỗi gia đình Công giáo nên kết nghiã với một gia đình ngoài Công giáo trong địa bàn dân cư của mình. Việc kết nghĩa được thực hiện cụ thể qua cầu nguyện, thăm viếng, giao lưu, chia sẻ vật chất” (số 12).
 
          Nếu không khí hào hùng của những ngày cả nước sôi sục chuẩn bị khởi nghĩa giành độc lập tháng 8- 1945 đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước của người Công giáo bao năm âm ỷ cháy để làm xuất hiện nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh với phương châm “Về nội dung phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc, về nghệ thuật lấy dân ca cổ truyền làm cấu trúc âm thanh” thì chiến thắng hào hùng 30-4-1975 đưa cả nước về một mối thống nhất đã tạo ra ngôn từ tuyệt vời trong Thư chung 1980 của các Giám mục Việt Nam. Đây có thể coi là bản Tuyên ngôn của Giáo hội Công giáo Việt Nam về con đường đồng hành cùng dân tộc và hội nhập văn hoá dân tộc. Tuy nhiên, đồng hành cùng dân tộc và hội nhập văn hoá dân tộc thực chất là hai mặt của một vấn đề có liên hệ khăng khít với nhau. Muốn đồng hành phải hội nhập mà hội nhập tức là đồng hành như chính các Giám mục Việt Nam đã viết trong Thư chung 1980: “Rồi từ đó, chúng ta vận dụng những cái hay trong một kho tàng văn hoá và xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống của mỗi dân tộc đang cùng chung sống trên quê hương và trong cộng đồng Hội thánh này” (số 11).
 
Đạo Công giáo là tác giả của việc Latinh hoá chữ Việt để tạo thành chữ quốc ngữ song lại chậm chạp trong việc phổ biến thứ chữ tiện lợi này trong kinh sách nhà đạo. Tại miền Bắc, phải sau khi thống nhất mới có được các bản lễ tiếng Việt mang từ miền Nam ra và cũng năm 1975, 5000 cuốn Tân ước do Đức Hồng y Trịnh Văn Căn biên dịch đã được xuất bản lần đầu tiên và đến năm 1988, bản Cựu ước mới hoàn thành.
 
Trên con đường hội nhập văn hoá dân tộc, các lĩnh vực như thánh nhạc, hội hoạ, kiến trúc Công giáo đều có những bước tiến dài và khá thành công. Nhiều hoạ sĩ đương đại như Nguyễn Thị Tâm vẫn say sưa với những tác phẩm Đức mẹ trong trang phục áo dài duyên dáng của phụ nữ Việt Nam. Bây giờ đêm Giáng sinh không chỉ có một bài “Đêm đông” của Hải Linh mà tràn ngập những bài thánh ca thuần Việt với đủ làn điệu dân ca ba miền từ điệu hát then xứ Lạng đến quan họ Bắc Ninh, từ hò Huế đến những làn điệu bốc lửa của người Jarai, Banar. Cũng không chỉ có duy nhất nhà thờ Phát Diệm mới mang bản sắc dân tộc mà nhiều nhà thờ mới khánh thành gần đây như nhà thờ Cửa Nam (Lạng Sơn) cũng là một kiến trúc quen thuộc với đồng bào Tày, Nùng phía Bắc. Trong thánh lễ, nhiều nơi vẫn duy trì tiếng cồng khi cung nghinh Thánh thể. Đoàn tiến lễ mang theo các sản phẩm của quê hương từ gạo tám Nam Định, chiếu cói Kim Sơn, hương hồi xứ Lạng đến cả những lời cầu xin được ghi vào giấy và đốt trước bàn thờ chứ không chỉ có hương, hoa, đèn nến như xưa nữa.
 
Cuối năm 1999, Tông huấn Giáo hội tại Á châu mới được công bố ở Ấn Độ đưa ra hướng dẫn “Sống đạo theo cung cách Á châu” thì các Giám mục Việt Nam đã cụ thể hoá trong Thư chung 2000 thành “ Sống đạo theo cung cách Việt Nam” đồng thời đã tổ chức ngay cuộc Hội thảo khoa học ở Huế năm 2004 để mong phác hoạ ra chân dung của nó. Sứ điệp Đại hội dân Chúa 2010 vừa qua lại tiếp tục khẳng định xây dựng “Hội thánh Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt Nam…Hội thánh tại Việt Nam phải nhập thể vào văn hoá và dân tộc mình” (số 3,4). Đây sẽ là những chỉ dẫn đúng đắn đề đạo Công giáo ở Việt Nam trở thành đạo Công giáo Việt Nam.
 
TS. Phạm Huy Thông

 

Đạo Công giáo tiến trình hội nhập văn hóa dân tộc ở Việt Nam trước và sau Công đồng chung Vatianô 2Hơn nữa theo sử gia Linh mục Bùi Đức Sinh thì về tiểu sử của giáo sĩ Inêkhu trong tư liệu trên cũng rất khó xác định. Do đó, vấn đề lịch sử truyền giáo ở nước ta cần tiếp tục có sự tìm tòi để có dấu mốc khai sinh cụ thể hơn. Song có điều chắc chắn là tiến
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Đạo tràng trong Phật giáo và công tác quản lý hoạt động của Đạo tràng
Phật giáo với vấn đề bảo vệ môi trường
Đạo Tin lành ở Việt Nam từ 1975 đến nay, tư liệu và một số đánh giá ban đầu
Quan hệ giữa triết học với tôn giáo trong tư tưởng Phương Đông qua cách nhìn của Hêghen và một số học giả Phương Tây
Tìm hiểu về đạo Công giáo ở Tây Nguyên
Phật giáo bàn về ý nghĩa của giá trị con người
Vấn đề tôn giáo trong Hiến pháp 1992: Luận cứ cho một nhu cầu sửa đổi
Giáo lý Cao đài Đại đạo Tam kỳ Phổ độ
Tôn giáo với chủ nghĩa xã hội
Bàn về sự hội nhập của Phật giáo vào nền văn hóa Việt Nam
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn