Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 19/06/2018 02:08 AM
Ấn phẩm sách
Từ điển thuật ngữ và điển tích Tam Giáo
Ra mắt tập sách ảnh “Chùa Việt Nam nơi gửi gắm lòng tin”
Giới thiệu sách: Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo
Kiến trúc chùa Việt Nam qua tư liệu viện Bảo tồn di tích
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Đạo Tin lành ở Việt Nam từ 1975 đến nay, tư liệu và một số đánh giá ban đầu

So với các tôn giáo có nguồn gốc từ bên ngoài Việt Nam thì đạo Tin lành truyền vào muộn hơn cả. Trải bao thăng trầm, đến nay đạo Tin lành đã trở thành một tôn giáo lớn có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống văn hóa, xã hội của đất nước.

           Nếu chia một cách tương đối, đạo Tin lành có hai giai đoạn tồn tại và phát triển: Giai đoạn từ khi mới truyền vào cho đến năm 1975, giai đoạn từ năm 1975 đến nay. Trong phần trình bầy này, chúng tôi chỉ nêu những số liệu về đạo Tin lành và một số nhận xét ban đầu về đạo Tin lành từ năm 1975 tới nay.

Cũng xin được nói trước rằng, cho tới nay chưa có một số liệu thống kê chính xác về số người theo đạo Tin lành từ phía cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan nghiên cứu hay của tổ chức tôn giáo. Do vậy số liệu mà chúng tôi đưa ra ở đây được tham khảo từ nhiều nguồn và chỉ mang tính tương đối.
 
 I. Số liệu về đạo Tin lành từ 1975 đến nay
 
Đến tháng 10 năm 2006, khi Ban Tôn giáo Chính phủ hướng dẫn các tổ chức Tin lành thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, cả nước có vài chục tổ chức, hệ phái Tin lành tồn tại độc lập, cụ thể:
 
- Nếu xét về tín lý và cách thức hành đạo, có thể chia thành 9 nhóm như sau:
 
+ Hệ phái thuộc Hội truyền giáo CMA có 02 tổ chức;
+ Hệ phái Ngũ tuần có gần 50 tổ chức, nhóm; 
+ Hệ phái Báp-tít có khoảng 10 tổ chức, nhóm;
+ Hệ phái Cơ đốc Phục lâm có 2 tổ chức;
+ Hệ phái Mennonite có 2 tổ chức cùng tên;
+ Hệ phái Trưởng lão có 2 tổ chức cùng tên;
+ Hệ phái Giám lý có 2 cơ sở;
+ Hệ phái Nhân chứng Giêhôva, hiện có 1 tổ chức;
+ Các tổ chức Tin lành chịu ảnh hưởng, pha trộn tín lý của nhiều hệ phái, có gần 10 nhóm;
+ Các nhóm Tin lành của người nước ngoài. 
 
- Nếu căn cứ vào thời gian hình thành, hoạt động ở Việt Nam có thể chia các tổ chức hệ phái Tin lành nêu trên thành 3 nhóm như sau:
 
+ Các tổ chức hệ phái Tin lành có từ trước năm 1975, hoạt động tôn giáo liên tục cho đến nay, gồm: Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Ân điển Nam Phương).
 
+ Các tổ chức hệ phái có từ trước năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam gián đoạn hoạt động, gần đây phục hồi và phát triển, gồm: Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam, Tổng hội Báp-tít Việt Nam (Nam phương), Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam, Hội thánh Mennnonite Việt Nam, Hội thánh Nhân chứng Giêhôva, Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam.
 
+ Các tổ chức, hệ phái Tin lành hình thành thời gian gần đây với số lượng khá nhiều nhưng đa số là các nhóm nhỏ lẻ có một vài cở sở (điểm nhóm) với vài trăm, thậm chí vài chục người tin theo.
 
Cụ thể từng tổ chức, hệ phái Tin lành như sau:
 
1. Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam). Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) là Hội thánh gốc của Hội thánh Tin lành Việt Nam do Hội Truyền giáo CMA truyền vào năm 1911 (sau năm 1954, đất nước chia làm hai miền, tín đồ chức sắc ở miền Bắc lập Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) nên mới có tên gọi như vậy). Đến năm 1975 có khoảng 180.000 tín đồ, 530 chi hội ở các tỉnh từ vĩ tuyến 17 trở vào. Sau năm 1975, Hội thánh Tin lành Việt Nam hoạt động liên tục, bình thường đến năm 2001, Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân về mặt tổ chức.
 
Tính đến năm 2010, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) là Hội thánh có thời gian tồn tại lâu nhất và có thực lực tín đồ, chức sắc lớn nhất ở Việt Nam với khoảng gần 800.000 tín đồ, 1.600 chi hội và điểm nhóm hoạt động ở các tỉnh từ Quảng Trị trở vào, trong đó khu vực Tây Nguyên có đến hơn 300 ngàn người ở trên dưới 1000 điểm nhóm.
 
2. Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc). Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) chính thức thành lập năm 1958 tại Hà Nội. Ở thời điểm năm 1975, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) chỉ có hơn 1.500 tín đồ ở 14 chi hội ở 9 tỉnh, thành phố phía Bắc, đến năm 2005 số lượng tín đồ vẫn không tăng nhiều, chỉ khoảng 5.000 tín đồ.
 
Tính đến năm 2010, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) có khoảng trên dưới 100 ngàn người tin theo ở gần 1.000 chi hội và điểm nhóm tại các tỉnh, thành phố phía Bắc. Việc tăng tín đồ nhanh chóng của Hội thánh này là sự bổ sung đột xuất của cộng đồng người Mông theo đạo Tin lành ở miền núi phía Bắc trong thời gian gần đây, nhất là sau khi có Chỉ thị số 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ Về một số công tác đối với đạo Tin lành.
 
3. Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam. Hệ phái Cơ đốc Phục lâm đến Việt Nam năm 1929. Thời điểm năm 1975, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam có hơn 30 ngàn tín đồ, 42 chi hội. Sau năm 1975, hoạt động của giáo hội chỉ còn duy trì 7 chi hội ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Đồng Nai.
 
Tính đến tháng 12 năm 2008, khi được công nhận tư các pháp nhân, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam có 20.000 tín đồ ở 121 chi hội, điểm nhóm tại 25 tỉnh, chủ yếu ở phía Nam.
 
Bên cạnh Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam ngày thứ Bẩy, còn có nhóm Cơ đốc Phục lâm An bình hạnh phúc có một số điểm nhóm ở các tỉnh Long An, Phú Yên, Quảng Ngãi và Bình Dương với khoảng 600 người tin theo.
 
 4. Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam. Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam   thành lập vào tháng 9 năm 1956. Thời điểm năm 1973, Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam tới trên 16 ngàn tín đồ ở 35 chi hội.
 
Sau năm 1975, hoạt động của Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam không rõ nét. Tuy nhiên, cùng với quá trình đổi mới của đất nước, hoạt động của Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam từng bước được củng cố, mở rộng hơn. 
 
        Tháng 10 năm 2007, khi được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam có trên 21 ngàn người tin theo sinh hoạt ở 204 chi hội và điểm nhóm tại 14 tỉnh, thành phố phía Nam, đông nhất là tỉnh Kon Tum với hơn 13.000 người.
 
5. Tổng hội Báp-tít Việt Nam (Ân điển Nam phương). Tổng hội Báp-tít Việt Nam (Ân điển Nam phương) nguyên gốc là Hội thánh Báp-tít Ân điển được thành lập vào năm 1962 tại Sài Gòn, là Hội thánh duy nhất thuộc Hội Truyền giáo Báp-tít Nam Phương (Mỹ) còn tồn tại liên tục từ trước năm 1975 đến nay. 
 
Tính đến tháng 5 năm 2008, khi được nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, Tổng hội Báp-tít Việt Nam (Ân điển Nam phương) có trên dưới 2 ngàn người tin theo sinh hoạt ở 58 chi hội và điểm nhóm thuộc 13 tỉnh, thành phố chủ yếu ở phía Nam.  
 
 6. Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Nam phương). Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Nam phương) là một trong số các Hội thánh được thành lập trước năm 1975, cùng gốc với Hội thánh Báp-tít Ân điển. Tuy nhiên, sau năm 1975, một số cơ sở thuộc Hội thánh Báp-tít Ân điển ngưng hoạt động cho đến năm 1986 khôi phục trở lại và phát triển khá nhanh, tách ra hình thành Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Nam phương).
 
Tháng 10 năm 2008, khi được nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Nam phương) có trên 16.000 người tin theo sinh hoạt ở 697 chi hội và điểm nhóm tại 42 tỉnh, thành trong cả nước. 
 
7. Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam. Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam có nguồn gốc từ Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) do mục sư Hoàng Kim Thanh lập ra được chính quyền cũ công nhận năm 1974. Sau năm 1975, Hội thánh Liên hữu Cơ đốc hoạt động mờ nhạt, cho đến những năm 1980 mới khôi phục hoạt động, đặc biệt mạnh lên sau khi sáp nhập với nhóm của mục sư Đinh Thiên Tứ, cũng là một chức sắc của Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) đi theo xu hướng Ngũ tuần. 
 
        Tháng 6 năm 2010, khi Nhà nước cộng nhận tư cách pháp nhân, Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam có trên dưới 100 ngàn người tin theo sinh hoạt ở 1.084 chi hội và điểm nhóm tại 44 tỉnh, thành phố (Hội thánh khai trình là 250.000 người tin theo, trong đó khoảng 100.000 người thường xuyên dự nhóm lễ).
 
8. Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam. Hệ phái Ngũ tuần có mặt ở Sài Gòn năm 1957, đến năm 1973, Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn ra văn bản đồng ý cho phép hoạt động. Đầu năm 1975, hệ phái Tin lành Ngũ tuần chỉ có khoảng 500 tín đồ và 07 chi hội.
 
      Sau năm 1975, các mục sư người ngoại quốc về nước, đa số mục sư, truyền đạo người Việt di tản, Tin lành Ngũ tuần hầu như không hoạt động. Năm 1989, Tin lành Ngũ tuần hoạt động trở lại với sự xuất hiện của nhiều tổ chức khác nhau như: Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam, Hội chúng Ngũ tuần Việt Nam, Phúc âm toàn vẹn, Hội thánh Tin lành Đức tin, Hội thánh Tin lành Liên hiệp Truyền giáo, Hội thánh Tin lành Ân điển Hi vọng, Hội thánh Tin lành Agape,… trong đó Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam lớn hơn cả. 
Năm 2010, khi tổ chức Đại hội đồng để Nhà nước công nhận tư các pháp nhân, Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam có khoảng 25 ngàn người tin theo đang sinh hoạt ở 350 chi hội và điểm nhóm tại 38 tỉnh, thành phố trong cả nước.
 
      9. Hội thánh Tin lành Mennonite Việt Nam. Tin lành Mennonite vào hoạt động ở miền Nam từ năm 1954, đến năm 1975, Tin lành Mennonite có khoảng 500 tín đồ.
 
Sau năm 1975, các cơ sở tôn giáo, cơ sở xã hội của Mennonite hiến cho các hoạt động từ thiện xã hội. Riêng cơ sở Mennonite ở quận Bình Thạnh TP. Hồ Chí Minh vẫn duy trì hoạt động cho đến tháng 6 năm 1978. Năm 1981, tổ chức Uỷ ban Trung ương Mennonite - MCC trở lại hoạt động viện trợ nhân đạo ở Việt Nam đã giúp đỡ Hội thánh Mennonite Việt Nam từng bước khôi phục hoạt động.
 
Tháng 02 năm 2009 khi nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, Hội thánh Tin lành Mennonite Việt Nam có gần 8.000 người tin theo, sinh hoạt tại 90 chi hội và điểm nhóm thuộc 11 tỉnh, thành phố trong cả nước.
 
              10- Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam. Hệ phái Trưởng lão truyền vào miền Nam từ năm 1968 và được chính quyền Sài Gòn cấp giấy phép hoạt động năm 1972. Sau năm 1975, tổ chức này ngừng hoạt động, hầu hết thành viên của Hội đồng quản trị sang định cư tại Hoa Kỳ và lập Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam tại Hoa Kỳ.
 
 Năm 1989, Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam tại Hoa Kỳ cử mục sư Nguyễn Xuân Bảo về Việt Nam lo hoạt động từ thiện, như cung cấp thuốc, dụng cụ y tế, khám chữa bệnh cho người nghèo, hỗ trợ chương trình nước sạch, cung cấp mái tôn lợp nhà, cứu trợ đồng bào vùng lũ lụt, thiên tai,... và thúc đẩy hoạt động của Hội thánh Trưởng lão.
 
Tháng 12 năm 2008, khi Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam có trên 10 ngàn người tin theo đang sinh hoạt tại 200 điểm nhóm tại 14 tỉnh, thành phố.
 
 11- Hội thánh Môn đệ Đấng Christ, Giám lý. Trước năm 1975, hệ phái Môn đệ Đấng Christ và hệ phái Giám lý gây dựng được một số cơ sở ở miền Nam. Hoạt động truyền giáo của hai tổ chức này gắn với các hoạt động xã hội, nhất là hoạt động giáo dục, nuôi dạy trẻ mồ côi. Tuy nhiên, đến 1975 số lượng người theo 2 hệ phái này không nhiều, khoảng 300 đến 500 người.
 
Sau ngày giải phóng miền Nam, cả hai hệ phái Môn đệ Đấng Christ và Giám lý hầu như không hoạt động, tín đồ giữ đạo tại gia. Trong khoảng thời gian từ 1989 trở lại đây, hoạt động của hệ phái Môn đệ Đấng Christ và Giám lý từng bước được khôi phục nhưng ở mức độ chậm, mờ nhạt so với các hệ phái Tin lành khác.
 
Năm 2006, Môn đệ Đấng Christ có 1 điểm nhóm ở thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 100 người tin theo; hệ phái Giám lý có 2 nhóm ở Đồng Nai và TP.Hồ Chí Minh với trên dưới 300 người tin theo.
 
12- Hội thánh Nhân Chứng Giê-hô-va. Nhân chứng Giê-hô-va truyền vào miền Nam khoảng giữa những năm 1960, đến năm 1975 có khoảng 300 tín đồ (đa phần là nhân viên làm việc tại các văn phòng của Mỹ).
 
Từ 1990 được sự trợ giúp từ Tổng Hội toàn cầu Chứng nhân Giê-hô-va, hệ phái này tăng cường hoạt động củng cố tổ chức, phát triển đạo. Đến nay, Nhân chứng Giêhôva có hơn 01 ngàn người tin theo đang sinh hoạt ở 41 điểm nhóm tại 9 tỉnh, thành phố.
 
13- Các tổ chức hệ phái Tin lành hình thành thời gian gần đây. Thật sự khó có thể thống kê một cách chính xác về số lượng các nhóm Tin lành tư gia, bởi vì sự thành lập, tồn tại rồi tự giải tán, tự thay đổi tên gọi của các nhóm diễn ra thường xuyên. Hiện tại, xác định được 62 tổ chức, hệ phái, nhiều nhất là các nhóm Tin lành tư gia, cụ thể như sau:
 
a. Các tổ chức mang tính truyền giáo. Có 6 tổ chức mang tính truyền giáo (phi hệ phái), gồm: Báp-tít Liên hiệp, Hội thánh Báp-tít Liên hữu, Hội thánh Liên hiệp Truyền giáo, Liên đoàn Truyền giáo Phúc âm Việt Nam (Hội thánh Phúc âm), Liên đoàn Truyền giáo Phúc âm và Hội Truyền giảng Phúc âm.
 
Hiện tại, mỗi tổ chức khai trình có từ vài ngàn đến 10 ngàn người theo đạo, trong tổng số có trên 38 ngàn người, sinh hoạt tại 439 chi hội và điểm nhóm.
 
 b. Các nhóm Báp-tít. Ngoài Tổng hội Báp-tít Việt Nam (Ân điển Nam - phương) và Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Nam phương) đã trình bày ở phần trên, còn có các nhóm thuộc hệ phái Báp-tít gồm: Đoàn Truyền giáo Báp-tít Việt Nam, Hội thánh Báp-tít Đấng Christ, Hội Thánh Báp-tít Độc lập, Liên hiệp Báp-tít Truyền giáo Việt Nam.
 
Các nhóm Báp-tít này số lượng người theo không đông, khoảng hai, ba trăm đến vài ngàn người trong một nhóm, tổng cộng có trên 5 ngàn người tin theo, sinh hoạt tại 73 điểm nhóm. 
 
c. Các nhóm Ngũ tuần.Theo xu hướng Ngũ tuần và một số hệ phái nhỏ lẻ khác. Thuộc diện này có 51 nhóm, mỗi nhóm khoảng vài trăm, thậm chí vài chục người tin theo, hoạt động trong phạm vi hẹp, chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh. Tên gọi của các nhóm tuỳ thuộc vào ý chí chủ quan của người đứng đầu, có thể được lấy trong Kinh Thánh và đều được gọi là Hội thánh, như Hội thánh Timôthê, Hội thánh Emmanuel, Hội thánh Ysơraên, Hội thánh Olive,... hoặc theo địa danh, như Hội thánh Độc lập Tân Bình, hoặc theo cách đặt tên riêng của người đứng đầu, như Hội thánh Phúc âm Quyền năng Việt Nam, Hội thánh Tin lành Thánh Khiết Việt Nam, Hội thánh Vườn Nho, v.v. và v.v.
 
 Theo ước tính ban đầu, các nhóm kể trên có khoảng 10 ngàn người tin theo, sinh hoạt tại 227 điểm nhóm, chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh, chỉ có 8 nhóm ở các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Hà Nội, Bình Dương, Cần Thơ, Đồng Nai, Quảng Nam và Long An. 
 
14. Một số nhóm Tin lành của người nước ngoài
 
Cùng với quá trình mở cửa hội nhập quốc tế, ngày càng có nhiều người nước ngoài vào làm việc, cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Cùng với họ là nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, mà phần lớn là nhu cầu sinh hoạt đạo Tin lành, trong đó có hệ phái ở Việt Nam chưa có hoặc có nhưng không đủ điều kiện để đáp ứng (nhà thờ chật hẹp, bất đồng ngôn ngữ,…) dẫn đến việc hình thành các nhóm sinh hoạt đạo Tin lành riêng của người nước ngoài.
 
Qua thống kê ban đầu ở 2 thành phố lớn, gồm TP Hồ Chí Minh và Hà Nội cho thấy có khoảng gần 5 ngàn người nước ngoài, đông nhất là người Hàn Quốc thường xuyên sinh hoạt đạo Tin lành tại 09 nhóm (Hà Nội - 1 nhóm người Hàn Quốc, TP Hồ Chí Minh có 02 nhóm Báp-tít, 02 nhóm Trưởng lão của người Hàn Quốc, 01 nhóm của người Mỹ, gọi là Hội thánh Newlife Fellowship (Hội thánh Thông công đời sống mới) do ông E.Rich Doley đứng đầu và một số nhóm của người Úc, Đức.
 
Như vậy, theo ước tính ban đầu, tổng số người theo đạo Tin lành ở Việt Nam cho đến nửa cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI có khoảng 1.460.000 người đang sinh hoạt ở 6.000 chi hội và điểm nhóm.
 
II. Một vài nhận xét
 
1. Xét về số lượng, và phạm vi, cho dù chưa có số liệu thống kê chính xác từ phía tôn giáo và cơ quan nhà nước, nhưng đều đưa đến nhận diện ban đầu về đạo Tin lành ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay, nếu so với trước năm 1975, thì số lượng tín đồ tăng lên gấp 6 lần, trong khi khoảng thời gian chỉ bằng một nửa so với trước đây (64 năm từ 1911 đến 1975; 31 năm từ 1975 đến 2010). Nếu so với các tôn giáo thì đạo Tin lành phát triển với tốc độ nhanh nhất (năm 1975, đạo Công giáo ở Việt Nam có hơn 4,0 triệu thì đến năm 2010 tăng lên 6,0 triệu, trong khi dân số tăng lên gấp đôi là 85 triệu). Số lượng các hệ phái Tin lành vào truyền giáo cũng nhiều hơn trước, năm 1975 có hơn 10 tổ chức, hệ phái; hiện nay có đến gần 50 chục tổ chức, hệ phái. Phạm vi hoạt động của đạo Tin lành, ở thời điểm 1975 chỉ có ở các tỉnh phía Nam và một số tỉnh phía Bắc, đến nay đạo Tin lành có mặt ở tất cả các đại phương trong cả nước (trừ hai tỉnh Ninh Bình và Quảng Bình).
 
2. Xét về thành phần người theo đạo Tin lành hiện nay không chỉ là công chức, trí thức,… nói chung là thị dân như trước năm 1975 mà rất đa dạng, mở rộng đến các tầng lớp cư­ dân khác, trong đó đa số là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Theo một thống kê không chính thức, đến năm 2010, ở Tây Nguyên, Nam Trường Sơn, vùng cao duyên hải miền Trung có gần 500.000 người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành ở trên 1.800 buôn (ở Tây Nguyên năm 1975 có khoảng 50 ngàn tín đồ, 200 chi hội- theo buôn); Ở Tây Bắc có khoảng 135.000 đồng bào Mông và 2.500 người Dao theo đạo Tin lành (trước đây vùng này chỉ có một Chi hội Tin lành của người Dao với hơn 1.000 tín đồ và hầu như không có người Mông theo đạo Tin lành).
 
          3. Việc phát triển nhanh tín đồ và mở rộng phạm vi hoạt động của các tổ chức, hệ phái Tin lành đã đưa đến sự khác biệt, thậm chí sung đột về văn hãa, lối sống giữa những người theo đạo Tin lành và những người tại chỗ, nhất là khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Đa số đồng bào dân tộc thiểu số ở hai khu vực này đều thờ đa thần và giữ phong tục tập quán truyền thống. Lối sống, văn hoá, phong tục tập quán đều gắn với tín ngưỡng, tôn giáo nên khi theo đạo Tin lành, đồng bào dân tộc thiểu số đã từ bỏ nhiều phong tục, tập quán truyền thống. Họ không chỉ gỡ bỏ mà còn đập phá bàn thờ ông bà tổ tiên, không chỉ không sử dụng mà còn đập phá, huỷ bỏ chiêng, ché,… những vật dụng gắn với cuộc sống của đồng bào ngàn đời nay. Những hành động trên có yếu tố phản ánh tâm lý khá phổ biến là khi cải đạo theo tôn giáo mới thì ng­êi ta thường tỏ ra đoạn tuyệt với tín ngưỡng, tôn giáo cũ với những hành vi cực đoan. Dù vậy, nhưng với những hành động phủ nhận mang tính sạch trơn như trên đã dẫn tới sung đột văn hoá, ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.
 
Tuy nhiên, theo thời gian, những sự khác biệt cùng những tác động tiêu cực nói trên ngày càng giảm dần. Điều đáng ghi nhận và biểu dương lµ những khác biệt và tiêu cực trong việc truyền đạo và theo đạo Tin lành gây ra đã và đang được khắc phục. Đặc biệt, văn hoá lối sống tích cực của đạo Tin lành ngày càng được béc lé và phát huy. Sinh hoạt của cộng đồng người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành ở Tây Bắc và Tây Nguyên đang đi vào ổn định, các mặt tiến bộ về lối sống Tin lành đang được thể hiện, như: Việc tuân thủ và chấp hành chính sách pháp luật, chăm lao động, sống tiết kiệm, không uống rượu, không hút thuốc, từ bỏ nhiều hủ tục lạc hậu,…
 
4. Người theo đạo Tin lành trước năm 1975, sau 1975, dù là người Kinh hay đồng bào dân tộc thiểu số, dù là thị dân trí thức hay công nhân, nông dân, dù theo đạo trong hoàn cảnh nào,… đến nay đều có đức tin và tình cảm tôn giáo sâu sắc, có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo bình thường. Trên căn bản xem xét nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của tín đồ, chức sắc đạo Tin lành, trong khung cảnh đổi mới của đất nước, Nhà nước đã có chính sách đổi mới đối với đạo Tin lành qua Chỉ thị số 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ. Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 01, đến nay đã có 10 tổ chức Tin lành được công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức, ở Tây Nguyên đã có 1.500 điểm nhóm theo buôn, ở Tây Bắc có 250 điểm nhóm theo bản được đăng ký sinh hoạt tôn giáo,… Nói tóm lại, các hoạt động của đạo Tin lành căn bản được bình thường trong khuôn khổ pháp luật như các tôn giáo khác.
 
         5.Cùng với việc Nhà nước bình thường hoá hoạt động của đạo Tin lành theo quy định của pháp luật, các tổ chức Tin lành đều xác định cho mình đường hướng hoạt động tiến bộ, tuân thủ pháp luật và gắn bó với dân tộc. Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) với đường hướng “Sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc’’; của Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam là: Thờ phượng Đúc Chúa Trời Ba Ngôi hằng sống, yêu thương đồng loại, Kính Chúa, Yêu Người và phục vụ Tổ quốc; của Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Nam phương) là: Kính Chúa yêu người, thờ phụng Đức Chúa Trời, học tập lời Chúa trong Kinh Thánh, truyền bá Phúc âm, liên hữu xây dựng Hội thánh, sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc, gắn bó với dân tộc và tuân thủ pháp luật; của Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam là:Rao truyền danh Chúa Jeus Christ ra cho mọi người để gây dựng Hội thánh nhằm thờ phụng Đức Chúa Trời và yêu thương đồng loại; của Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam là:Trung tín thờ phượng Đức Chúa Trời Ba Ngôi theo đúng mẫu mực Kinh Thánh và trung thành với Tổ quốc Việt Nam,…
 
          Để kết thúc bài viết này tôi xin nhắc lại ý trong Kinh Thánh, r»ng nếu ai đó làm tốt thì h·y động viên và khích lệ để họ làm tốt hơn. Tình hình đạo Tin lành đang chuyển biến tốt, công tác đối với đạo Tin lành cũng đang chuyển biến tốt. Chúng ta hãy động viên để cả hai cùng tốt hơn nữa./.
 
           Nguyễn Cao Thanh
 
Đạo Tin lành ở Việt Nam từ 1975 đến nay, tư liệu và một số đánh giá ban đầuNếu chia một cách tương đối, đạo Tin lành có hai giai đoạn tồn tại và phát triển: Giai đoạn từ khi mới truyền vào cho đến năm 1975, giai đoạn từ năm 1975 đến nay. Trong phần trình bầy này, chúng tôi chỉ nêu những số liệu về đạo Tin lành và một số nhận xét
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Quan hệ giữa triết học với tôn giáo trong tư tưởng Phương Đông qua cách nhìn của Hêghen và một số học giả Phương Tây
Tìm hiểu về đạo Công giáo ở Tây Nguyên
Phật giáo bàn về ý nghĩa của giá trị con người
Vấn đề tôn giáo trong Hiến pháp 1992: Luận cứ cho một nhu cầu sửa đổi
Giáo lý Cao đài Đại đạo Tam kỳ Phổ độ
Tôn giáo với chủ nghĩa xã hội
Bàn về sự hội nhập của Phật giáo vào nền văn hóa Việt Nam
Nghệ thuật dân gian trong tín ngưỡng thờ Mẫu
Quan điểm của Phật giáo về nghèo khó & thịnh vượng
Tìm hiểu văn bản pháp luật quy định về hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức, chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo
Video
Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trả lời Truyền hình VTC về “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”
Giáo hội Phật giáo Việt Nam - ngôi nhà của những người con phật
Luật tín ngưỡng, tôn giáo qua góc nhìn của bạn
Hình ảnh
Ngôi chùa gần 300 tuổi có tượng Phật nằm dài nhất Việt Nam
Sinh viên Indonesia trong tháng ăn chay Ramadan
Indonesia trang hoàng chào đón lễ Idul Fitri ấm cúng và bình yên
Audio
Ủy ban Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước vận dụng những kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo của Việt Nam
Một số điểm mới của Luật tín ngưỡng, tôn giáo
Một số kết quả đạt được trong nhiệm kỳ IV của Phật giáo Hòa Hảo


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: Ông Dương Ngọc Tấn 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ
Email:  ttttbantongiao@chinhphu.vn