Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/02/2020 09:10 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 1+2/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 12/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 11/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tôn giáo với chủ nghĩa xã hội

        Nếu như tôn giáo song hành với dân tộc có phần thuận buồm, xuôi gió thì trên bước đường đồng hành với CNXH lại gặp không ít khó khăn, trắc trở bởi trong quá khứ và hiện tại  vẫn có một số người đã từng rắp tâm khai thác sự khác nhau giữa duy vật – duy tâm, vô thần hữu- thần.

Những người không mấy thiện cảm với người cộng sản và CNXH, họ đã từng biến mâu thuẫn dân tộc, giai cấp thành mâu thuẫn về nhận thức, tư tưởng, biến vấn đề thứ yếu thành chủ yếu, nhằm tạo nghi kỵ, đối đầu giữa người Cộng sản với tín đồ các tôn giáo. Những luận điệu “vô thần và hữu thần như nước với lửa”, "CNXH không tương dung với tôn giáo”, "CNXH phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế", "CNXH không phù hợp với nền văn minh Ki tô giáo" và gán cho những người cộng sản đủ thứ xấu xa, là những kẻ vô Tổ quốc, vô gia đình và vô đạo, thậm chí còn đồng nhất người cộng sản với quỷ dữ …Họ còn: "La lối lên rằng: Cộng sản diệt Công giáo, cố làm cho nhân dân quên rằng: thực dân Pháp là kẻ tử thù của Công giáo, của Cộng sản cũng như của toàn dân"[1].

Ngày nay, ở trong nước cũng như nước ngoài vẫn còn có một số người, tuy không cao giọng để lên án cộng sản-vô thần như trước, nhưng không phải đã hết luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc dưới những hình thức khác nhau về CNXH đối với tôn giáo.
    
Thực tiễn của quá trình tiến hành cách mạng: Giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tự nó đã bác bỏ những luận điệu trên.
 
Do hoàn cảnh lịch sử, nên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin chưa  có điều kiện để luận giải một cách hệ thống và toàn diện về  mối quan hệ giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, ngay từ năm 1844, trong “Bản thảo kinh tế và triết học”, C. Mác đã viết: “Chủ nghĩa vô thần là phủ nhận Thượng đế và đặt làm định đề sự tồn tại của con người thông qua sự phủ định đó: nhưng chủ nghĩa xã hội như chính nó không cần đến cầu nối đó”[2]. Còn Ph. Ăngghen đã từng phê phán gay gắt đối với những phần tử tả khuynh vô chính phủ khi muốn ghi vào cương lĩnh của đảng công nhân việc công khai thừa nhận chủ nghĩa vô thần theo cái nghĩa là tuyên chiến với tôn giáo. Năm 1874 ông đã phê phán tuyên ngôn của phái Blăng-ki và cho rằng: “Tuyên chiến ầm ĩ của họ với tôn giáo là dại dột”, rằng: “Tuyên chiến như thế là một phương pháp tốt nhất làm kích động thêm sự quan tâm của người ta đối với tôn giáo”[3].
 
Đến năm 1877, trong cuốn “Chống Đuy- rinh”, Ph. Ăngghen lại lên án tư tưởng cách mạng giả hiệu của Đuy- rinh, khi ông ta: “Chủ trương cấm tôn giáo trong xã hội chủ nghĩa”[4].
 
Nhiều lần Ăngghen đã trở lại nghiên cứu lịch sử Cơ Đốc giáo nguyên thuỷ, ông cho rằng phong trào này đã chiêu mộ phần lớn những người tham gia đầu tiên của mình từ số những người nô lệ của đế quốc La mã. Những năm cuối đời, trong bài viết "Đóng góp vào lịch sử của Cơ đốc giáo nguyên thuỷ" (1894-1895), Ông đưa ra một sự phân tích xã hội cụ thể, tinh tế hơn về những tín đồ Cơ Đốc giáo đầu tiên là những người nghèo khổ phản ánh ước mơ về sự "giải phóng".
 
Ăngghen còn nhận thấy sự tương đồng giữa Cơ Đốc giáo nguyên thuỷ và chủ nghĩa xã hội hiện đại: trong cả hai trường hợp đó đều là những phong trào của quần chúng bị áp bức, gồm những người bị các chính quyền truy nã và đưa đi lưu đầy, họ tuyên truyền một công cuộc giải phóng tức thời khỏi chế độ nô lệ và khỏi sự thống khổ. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin thừa nhận: “Trong lịch sử đạo Cơ đốc sơ kỳ có những điểm giống đáng lưu ý so với phong trào công nhân hiện đại. Cả đạo Cơ đốc lẫn chủ nghĩa xã hội công nhân đều tuyên truyền sự giải phóng con người trong tương lai khỏi cảnh nô lệ và nghèo khổ”[5].
 
Sự khác biệt cơ bản giữa hai phong trào này là ở chỗ: Những người Cơ Đốc giáo hướng công cuộc giải phóng cho con người ở thế giới "bên kia", còn những đại biểu của chủ nghĩa xã hội lại chủ trương giải phóng con người thoát khỏi nô lệ ở ngay thế giới hiện hữu.
 
Trong công trình phân tích về phong trào Cơ Đốc giáo thứ hai của Ăngghen về "Cuộc chiến tranh nông dân ở Đức" thì sự khác biệt này dường như không còn rõ ràng. Muyntxơ, nhà thần học và nhà lãnh đạo những người nông dân cách mạng và những người bình dân dị giáo của thế kỷ XVI mong muốn thiết lập "vương quốc ngàn năm của Chúa" ở ngay trên trái đất này. Theo Ăngghen Vương quốc ấy đối với Muyntxơ là một xã hội không có khác biệt giai cấp không có sở hữu tư nhân và không có quyền lực của nhà nước đối lập hay xa lạ với mọi thành viên của xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà Ăngghen lại đánh giá Muyntxơ như một lãnh tụ lỗi lạc của cuộc khởi nghĩa nông dân năm 1525. Và cũng theo lời của Ăngghen, Muyntxơ đã trở thành nhà tiên tri của cách mạng.
 
Lênin cũng đã từng tỏ thái độ không đồng tình đối với những phần tử tả khuynh vô chính phủ muốn phủ nhận sự tồn tại của tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội và những hành vi thô bạo của họ. Ông cho rằng: “Đối với chúng ta, sự thống nhất của cuộc đấu tranh thực sự cách mạng đó của giai cấp bị áp bức để sáng tạo một cảnh cực lạc trên trái đất, là quan trọng hơn sự thống nhất ý kiến của những người vô sản về cảnh cực lạc trên thiên đường”[6]. Điều mà người cộng sản cần và có trách nhiệm là: “Đoàn kết họ lại vì cuộc đấu tranh thực sự nhằm giành lấy một cuộc đời tốt đẹp hơn trên trần thế”[7].
 
Kế thừa tư tưởng của các nhà sáng lập học thuyết Mác-Lênin, Hồ Chí Minh rất chú ý  khai thác điểm tương đồng giữa tôn giáo với CNXH để thu hút, tập hợp quần chúng có tôn giáo cùng tiến hành sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Ngày 10-05-1958, khi trả lời câu hỏi của các cử tri Hà Nội: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?” Hồ Chí Minh trả lời: “Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Ở Việt Nam cũng vậy”[8]. Người còn nói rõ thêm, người cộng sản tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Chẳng những không tiêu diệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo. Đảng cộng sản chỉ tiêu diệt tội ác người bóc lột người ”[9]. Hồ Chí Minh không chỉ thừa nhận sự tồn tại của tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội mà còn thấy sự tương đồng nhất định giữa lý tưởng tôn giáo với lý tưởng của những người cộng sản. Không chỉ không loại người có tôn giáo trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; mà còn sẵn sàng kết nạp. Nói với đồng bào có đạo vốn còn ít hiểu biết về chủ nghĩa xã hội, Người giải thích rất cụ thể, thiết thực và rõ ràng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xoá bỏ (ví dụ: lấy vợ, lấy chồng quá sớm, cúng bái, liên hoan, lười biếng...). Tóm lại, xã hội ngày càng lớn, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(8).“Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”[10]. Cụ thể hơn, chủ nghĩa xã hội là: “Mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”[11], “ai ai cũng được hạnh phúc và học hành tiến bộ”
 
CNXH là như vậy, xã hội ấy có gì là xa lạ với ước vọng của quần chúng tín đồ và mong muốn của những người đã từng thành lập ra các tôn giáo lớn trên thế giới? Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy trong nước ta cũng như trên thế giới có nhiều chức sắc và tín đồ các tôn giáo tham gia đấu tranh cách mạng và nhiệt tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Và cũng lại không ít những kẻ chẳng có tín ngưỡng, tôn giáo gì vẫn cam tâm ôm chân ngoại bang bán rẻ Tổ quốc. Vậy, hiển nhiên là hữu thần hay vô thần, có hay không có tín ngưỡng, tôn giáo không phải là lý do quyết định thái độ chính trị của mỗi người.
 
Trong bài đăng trong tờ báo Sự Thật  từ năm 1949, với tiêu đề "Cộng sản và Công giáo" khi trình bày phần "Chỗ gặp nhau của Công giáo và Cộng sản", đồng chí Trường Chinh- Nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã nói rõ: "Cộng sản vô thần, Công giáo hữu thần, thế nhưng Cộng sản và Công giáo vẫn có chỗ giống nhau. Lý tưởng Cộng sản và lý tưởng của Chúa Cơ đốc không khác nhau mấy. Chúa muốn người ta đừng lừa đảo, bóc lột lẫn nhau, Chúa muốn người ta tương thân tương ái. Người Cộng sản cũng muốn thế"(9).
Sự đổi mới đất nước được bắt đầu từ 1986, nhưng đổi mới tư duy về tôn giáo phải sau 4 năm mới chính thức được đề cập ở Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 16-10-1990 Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, do nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp chỉ đạo và ký ban hành. Nghị quyết này, được xem như dấu mốc thể hiện rõ nhất quan điểm mới của Đảng ta về tôn giáo và công tác tôn giáo, trong đó có ba luận điểm quan trọng: Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Những luận điểm ấy, còn được thể hiện cụ thể hơn ở những văn bản tiếp theo của Đảng và Nhà nước ta sau này. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cho rằng: “Dù theo đạo nào, nhưng trước hết đó là người Việt Nam. Đã là người Việt Nam trước hết phải yêu nước, phải đứng lên chống quân xâm lược và bè lũ bán nước. Hễ ai chăm lo quyền lợi cho nhân dân nhân dân Việt Nam, bất kể người Việt Nam đó là Kinh hay Thượng, theo Thiên Chúa giáo hay Phật giáo hoặc là theo cộng sản…thì đó là người cách mạng, ai xâm lược, bán nước, bóc lột người Việt Nam thì phải chống lại”[12]. Người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng đều có nhu cầu được: “Sống hạnh phúc ngay trên trần thế này, cùng nhau xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam. Vì thế, trước đây cũng như hiện nay nhiều thanh niên Công giáo gia nhập đoàn thể cách mạng, gia nhập quân đội, nhiều người trở thành đảng viên”[13].
 
Khi còn là người cộng sản trẻ tuổi bị giam giữ ở nhà lao Hỏa Lò, Nguyễn Văn Linh đã có cơ hội đọc Kinh Thánh, nghiên cứu nhân vật Giêsu, ông tâm sự: “Khi thấy Đức Giêsu có một thái độ quyết liệt đối với người giàu có mà vô đạo đức và có một quan tâm đặc biệt đối với người nghèo; từ đó tôi nghĩ rằng, nếu người Công giáo làm theo giáo huấn của Đức Giêsu thì sẽ rất gần gũi với lý tưởng của những người cộng sản”[14]. Ông rất trân trọng và coi: “Giêsu cũng là một người yêu nước, thương dân. Giêsu là con một gia đình thợ mộc. Theo Giêsu có 12 thánh tông đồ xuất thân đều là những người lao động làm nghề chài lưới, thợ mộc…Ông Môise cũng như ông Giêsu là những người yêu nước thương dân, là những nhà cách mạng thời bấy giờ”[15]. Quan điểm của Nguyễn Văn Linh rất gần với Ph. Ăng ghen khi đánh giá về Kitô giáo sơ khởi và Hồ Chí Minh, khi người cho rằng: “Nếu Đức Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi khổ đau của người đương thời, chắc Ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm đường cứu khổ loài người”[16]. Luận đề này của Hồ Chí Minh cũng chính là điều Người đã từng nói về Khổng Tử từ năm 1927: “Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta..., cũng có khả năng là siêu nhân này chịu thích ứng với hoàn cảnh và nhanh chóng trở thành người kế tục trung thành của Lênin”[17].
 
Fidel Castro cũng cho rằng: “Những sự trùng hợp giữa Kitô giáo và CNCS nhiều gấp vạn lần so với những trùng hợp có thể có giữa Kitô giáo với CNTB”(7).
 
Vào ngày 7/11/1993, trong Hội nghị công tác Mặt trận Thống nhất toàn quốc, đồng chí Giang Trạch Dân thay mặt cho Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhấn mạnh về 3 điểm: “Một là quán triệt, chấp hành chính sách tôn giáo của Đảng một cách toàn diện và đúng đắn; hai là, tăng cường quản lý tôn giáo theo pháp luật; ba là phải lãnh đạo và hướng dẫn tôn giáo phù hợp với xã hội xã hội chủ nghĩa”[18]. Văn kiện Đại hội XVI bổ sung thêm một tư tưởng chỉ đạo là kiên trì nguyên tắc độc lập, tự chủ. Từ đó hình thành phưong châm cơ bản với ba đặc trưng, 4 tư tưởng chỉ đạo có thể xây dựng lý luận tôn giáo xã hội chủ nghĩa[19].
 
Ở nước ta, trong Nghị quyết số 25 - NQ/TW của BCHTƯ khóa IX ngày 12/3/2003, có ghi ở quan điểm đầu tiên: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta[20] (NĐL nhấn mạnh).
 
Nhìn chung, những người cộng sản không có chủ trương chống tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội mà chỉ chống những ai lợi dụng tôn giáo vì mục đích phi tôn giáo gây hậu quả tiêu cực đến đời sống xã hội.
 
Rất tiếc những công trình nghiên cứu của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa tôn giáo với CNXH còn rất khiêm tốn. Thiết nghĩ, mục tiêu của các tôn giáo với CNXH đều có sự tưong đồng, nhưng nếu có tôn giáo nào gần với CNXH hơn, có lẽ đó chính là Phật giáo. Không phải ngẫu nhiên trong số 13 tôn giáo được công nhận về tổ chức ở nước ta hiện nay, đều có đường hướng hoạt động tôn giáo gắn bó với dân tộc, như “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “Phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc”, “Nước vinh, đạo sáng”…chỉ Phật giáo có phương hướng hành đạo không chỉ phục vụ cho dân tộc mà còn gắn với CNXH. Phải chăng, có đựơc điều này là từ lý tưởng của người khai sinh ra Phật giáo hay qua thực tiễn những Phật tử Việt Nam đã từng tích cực tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH?
 
Từ buổi sơ khai Phật giáo đã thấu hiểu nỗi khổ của kiếp người, nhất là đối với tầng lớp bị áp bức, bóc lột vì thế  Phật giáo đã chĩa mũi nhọn của mình chống lại đẳng cấp Bà lamôn và tư tưởng phân biệt đẳng cấp hà khắc của nó.
 
Sinh thời Đức Phật đã chứng kiến đầy rẫy những nỗi khổ đau của chúng sinh trong xã hội Ấn Độ cổ đại khi có sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt. Ngài sẵn sàng từ bỏ vương quyền và hạnh phúc cá nhân để đi tìm chân lý cứu khổ cho chúng sinh. Phật giáo ra đời với chủ trương thực hiện "bình đẳng xã hội", "cứu khổ, cứu nạn-giác ngộ, giải thoát" con người khỏi bể khổ trần gian. Xét về nguồn gốc xã hội thì sự xuất hiện đạo Phật cũng giống học thuyết Mác là đi tìm con đường giải phóng cuộc sống khổ đau của con người mà trước hết cho tầng lớp nô lệ: “Mục đích cao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giê su đều giống nhau. Thích Ca và Giê su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”[21].
 
Thật ra:“Có thể nói điểm tương đồng cơ bản của chủ nghĩa xã hội hay tôn giáo là tất cả vì hạnh phúc cho con người. Chính cái nhân bản ấy mà mục tiêu chung của chủ nghĩa Mác và tôn giáo mà bấy lâu nay chúng ta bỏ quên và tự khoác cho mình sứ mệnh giải thoát khỏi sự giàng buộc thần linh cho con người khỏi ảo tưởng”(10).
 
Phát biểu trong Đại lễ Phật đản tổ chức tại Việt Nam năm 2008, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cho biết Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc được tổ chức tại Việt Nam là sự khẳng định Nhà nước Việt Nam tôn trọng và ủng hộ quyết định đúng đắn của Liên Hợp Quốc, chọn ngày Tam hợp Đức Phật là ngày văn hóa tôn giáo thế giới, đồng thời khẳng định Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và tôn trọng những giá trị đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo mang lại cho đời sống xã hội, trong đó có Phật giáo.
 
Chủ tịch nước nhấn mạnh, Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc năm nay là cơ hội tốt để tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết, cùng nhau hợp tác xây dựng xã hội tốt đẹp, một Niết bàn trong thế giới hiện thực, góp phần ngăn chặn sự xung đột, hoá giải các cuộc chiến tranh và đẩy lùi các nguy cơ nghèo đói, khổ đau trong đời sống xã hội, đưa con người tới cuộc sống an vui.
 
Chủ tịch nước mong mỗi người là một sứ giả của thiện chí, hòa bình và Đại lễ sẽ tiếp sức mạnh, sự quyết tâm để tiếp tục nêu cao chính pháp của Đức Phật trong đời sống xã hội, vì tương lai tươi sáng và tốt đẹp của toàn nhân loại.
 
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thờ kỳ quá độ lên XNXH (Bổ sung và phát triển năm 2011) có ghi: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[22].
 
Trong môi trư­ờng xã hội chủ nghĩa, Phật giáo cũng nh­ư các tôn giáo khác có điều kiện thuận lợi để hoạt động tôn giáo một cách tự do và đóng góp phần không nhỏ cho việc giữ gìn giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống của dân tộc.
 
Hiếm có thời kỳ nào mà tôn giáo ở nước Việt Nam lại có được môi trường để hoạt động "đạo và đời" thuận lợi như­ những thập kỷ qua.
 
Truyền thống nhập thế của các tôn giáo ở Việt Nam trong quá khứ đã góp phần ghi những trang chói lọi cho lịch sử dân tộc. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới và bối cảnh quốc tế hiện nay, các vị chức sắc và tín đồ các tôn giáo cũng không ít trăn trở, lo toan cho vận nước trước xu hướng toàn cầu hóa lắm cơ may cũng nhiều thách thức. Những năm qua, các tổ chức tôn giáo đã tiến hành nhiều hoạt động nhân đạo, từ thiện nh­ư: tiến hành quyên góp giúp đỡ ng­ười bị thiên tai, bệnh tật, bất hạnh cô đơn; giúp gia đình nghèo vượt khó, bảo trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; thăm hỏi những gia đình thư­ơng binh, liệt sĩ, ngư­ời có công với cách mạng; mở lớp tình th­ương; khám chữa bệnh miễn phí; nuôi dưỡng ngư­ời già không nơi n­ương tựa… Những nghĩa cử cao đẹp ấy, chứng  tỏ tôn giáo hòa nhập cuộc sống, cùng xẻ chia với buồn vui của con ng­ười trong thế giới hiện hữu .
 
Thực tế cho thấy, chủ nghĩa xã hội không những không hạn chế mà trái lại là môi trư­ờng thuận lợi cho việc thực hiện đầy đủ quyền tự do tín ng­ưỡng, tôn giáo chân chính của nhân dân. Và chính điều này, cũng lại tạo cơ hội cho các tôn giáo ở Việt Nam đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một vị Hòa thượng đã khẳng định: "Mục tiêu xuyên suốt trong hoạt động của GHPGVN: Đạo pháp-Dân tộc-CNXH. Gắn đạo với đời, phát huy truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước hướng tới xây dựng cuộc sống giàu đẹp,văn minh, hiện đại "[23] .
 
Tuy gần đây có một số người đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa tôn giáo nói chung với CNXH, tuy nhiên chúng ta  vẫn thiếu những công trình khoa học nghiên cứu hệ thống, đầy đủ về mối quan hệ này mà ở đây không ít sự tương đồng./.
                                        
  PGS, TS Nguyễn Đức Lữ

 


[1]Xem Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo số 2-2001
[2] Về tôn giáo, tập I, Nxb KHXH, H., 1994, tr.228
[3] Lênin toàn tập, tập 17, Nxb TB, M., 1979, tr. 511
[4] Lênin toàn tập, tập 17, Nxb TB, M., 1979, tr.521
[5] C.Mác –Ph.Ăng ghen, toàn tập, tập 22, Nxb CTQG ST, Hà Nội, 1995, tr. 664.
[6] V.I. Lênin toàn tập, Tập 12, Nxb TB.M 1979, tr.174
[7] V.I. Lênin toàn tập, tập 12, Nxb TB, M., 1979, tr. 170
[8] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập.9,NxbCTQG,H;1996, tr.176
[9] Báo Nhân dân. Ngày 27-1-1955
(8) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1996, T10, tr.591
[10]Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.8, tr. 226
[11]Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.8, tr.395
(9) Xem Báo Sự Thật, số 105, ngày 25/12/1948 và số 110, ngày 1/5/1949
[12] Sđd tr.39
[13] Sđd tr. 40
 
[14] Xem Tuần báo Công giáo và Dân tộc, số 933 ngày 14/1/1993, tr.4-5
[15] Xem trong cuốn “ Đổi mới công tác quần chúng”, Nxb Sự Thật, H., 1991, tr. 35-36
 
[16] Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1988, tr.79
[17] Hồ Chí Minh,Toàn tập, T2, Nxb CTQG, H., 1995, tr.453-454.
(7) Về tôn giáo, tập I, Nxb KHXH ,H., 1994, tr.91
[18] Văn hiến tuyển tập-công tác tôn giáo trong thời kỳ mới. Nxb Văn hoá tôn giáo TQ, 1995, tr.253.
[19] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Thông tin những vấn đề Lý luận số 20 tháng 11-2007
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy BCHTƯ Khóa IX, Nxb CTQG, H., 2003, tr. 45-56
 
[21] Xem báo nhân dân số 38, ngày 27 tháng 12 năm 1951
(10) Xem Bùi Kim Quỳ tạp chí Triết học số 3 tháng 9/1993
[22] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, Nxb CT QG , H., 2011, tr. 70
[23] Thích Thanh Tứ. Đạo pháp và dân tộc. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo. Số 6-2006

 

Tôn giáo với chủ nghĩa xã hộiNhững người không mấy thiện cảm với người cộng sản và CNXH, họ đã từng biến mâu thuẫn dân tộc, giai cấp thành mâu thuẫn về nhận thức, tư tưởng, biến vấn đề thứ yếu thành chủ yếu, nhằm tạo nghi kỵ, đối đầu giữa người Cộng sản với tín đồ các tôn giáo. Những
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Bàn về sự hội nhập của Phật giáo vào nền văn hóa Việt Nam
Nghệ thuật dân gian trong tín ngưỡng thờ Mẫu
Quan điểm của Phật giáo về nghèo khó & thịnh vượng
Tìm hiểu văn bản pháp luật quy định về hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức, chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo
Tìm hiểu pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ khi ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đến nay
Đồ thờ và cách bài trí ở Đình Phú Gia
Đôi nét về văn hóa, tín ngưỡng của người Hoa ở Bắc Giang
Vấn đề tôn giáo trong luận án Tiến sĩ của Mác
Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Tìm hiểu ý nghĩa lễ nhập môn của đạo Cao đài
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hàng vạn du khách dự lễ khai hội đền Sóc Xuân Canh Tý 2020
Nghi lễ 'Tống cựu nghinh Tân' tại Hoàng thành Thăng Long
Lễ hội ném còn ba nước Việt-Lào-Trung lần thứ VI
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn