Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/02/2020 07:35 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 1+2/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 12/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 11/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tìm hiểu văn bản pháp luật quy định về hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức, chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo

     Việt Nam là một nước có nhiều tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài, Phật giáo Hoà Hảo, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, ...

          Do điều kiện và hoàn cảnh lịch sử và qua các thời kỳ biến động khác nhau, ở Việt Nam có tôn giáo ra đời do du nhập từ bên ngoài vào như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, có một số tôn giáo tự hình thành trong nước như Cao đài, Phật giáo Hoà Hảo… Các tôn giáo này ra đời vào các thời kỳ khác nhau, có tôn giáo đã có mặt ở Việt Nam hàng ngàn năm, nhưng cũng có tôn giáo mới được hơn ba trăm năm tồn tại và đặc biệt có những tôn giáo mới có tuổi đời trên dưới hai phần ba thế kỷ.

          Từ những đặc điểm đó và vốn là đặc thù các tôn giáo, sự giao lưu giữa các tôn giáo và các mối quan hệ quốc tế giữa chúng được nảy sinh và ngày càng phát triển, mỗi lúc một đa dạng và phong phú. Quan hệ đối ngoại của các tôn giáo thể hiện rõ nhất trong các hoạt động trao đổi đoàn, các chức sắc, tín đồ Việt Nam ra nước ngoài học tập, dự hội nghị, hội thảo đối thoại về tín ngưỡng, tôn giáo; đón và làm việc với các đoàn, các tổ chức tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam; phối hợp thực hiện các dự án tại Việt Nam do các tổ chức phi chính phủ (NGO) có nguồn gốc tôn giáo tài trợ. Vì vậy, trong các văn bản pháp luật về tôn giáo đều quy định rất cụ thể đối với hoạt động quan hệ quốc tế của các tôn giáo.
1. Những quy định về hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo trong các văn bản pháp luật trước khi thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Ngay từ Sắc lệnh đầu tiên về tôn giáo (Sắc lệnh số 234/SL) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và ban hành ngày 14-6-1955, tại Điều 3 đã ghi rõ: “Các nhà tu hành ngoại quốc mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho phép, thì được giảng đạo như các nhà tu hành Việt Nam và phải tuân theo luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như các ngoại kiều khác”.
Sắc lệnh 234 thực hiện đến ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất và được thay thế bằng Nghị quyết số 297/CP ngày 11-11-1977 của Hội đồng Chính phủ về một số chính sách đối với tôn giáo. Nghị quyết 297/CP nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng về tôn giáo trong giai đoạn này là chính sách nhất quán tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo làm phương hại đến lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Nghị quyết 297/CP quy định về hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức, cá nhân tôn giáo như sau:
- Các tổ chức tôn giáo hoặc người hoạt động tôn giáo trong nước muốn quan hệ với các tổ chức tôn giáo hoặc các tổ chức khác hoặc với người nước ngoài thì phải tuân theo những quy định của Nhà nước về quan hệ với người nước ngoài.
          - Giáo hội Thiên Chúa được quan hệ với Vatican về mặt tôn giáo, nhưng phải tôn trọng chủ quyền quốc gia và pháp luật của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Khi một giáo sĩ Việt Nam được Vatican lựa chọn phong từ chức giám mục trở lên thì giáo hội Công giáo phải báo cáo để được chấp thuận trước của Chính phủ nước ta.
 Bước sang thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có nhiều quan điểm, chủ trương mới đối với công tác tôn giáo. Bước đột phá cơ bản là những đánh giá tại Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Nghị quyết số 24-NQ/TW khẳng định “Tín ngưỡng là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân” và “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mới”.
Cụ thể hóa quan điểm đó, ngµy 21/3/1991, ChÝnh phñ ®· ban hµnh NghÞ ®Þnh 69/H§BT Quy định về các hoạt động tôn giáo và sau đó ngµy 19/4/1999, Chính phủ ban hành NghÞ ®Þnh sè 26/1999/N§-CP về các hoạt động tôn giáo. Cả hai Nghị định 69/HĐBT và Nghị định 26/HĐBT đều thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động quốc tế của các tôn giáo là: Nhà nước tôn trọng mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo. Quan hệ quốc tế của các tôn giáo phải tôn trọng chủ quyền, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và thông lệ quốc tế. Những quan hệ với tư cách cá nhân được thực hiện bình thường như mọi công dân. Những quan hệ với tư cách thành viên hoặc có mối quan hệ về cơ cấu tổ chức của các tổ chức quốc tế thì phải được sự chấp thuận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Nghị định 69/HĐBT và Nghị định 26/HĐBT là cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho các chức sắc tôn giáo đi học tập, tham dự hội nghị, tham quan, chữa bệnh ở nước ngoài, quan hệ với các tổ chức tôn giáo quốc tế; đồng thời là cơ sở để Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với các hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức, cá nhân tôn giáo thời kỳ này.
2. Những quy định về hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo theo văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Xuất phát từ nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong thời kỳ đổi mới và yêu cầu thực hiện công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 18/6/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCNVN khóa IX đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Ngày 29/6/2004 Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh và ngày 15/11/2004, Pháp lệnh có hiệu lực thi hành. Trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (công bố ngày 29-6-2004), Điều 6 đã khẳng định một nguyên tắc nhất quán: “Quan hệ giữa Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các quốc gia, tổ chức quốc tế về vấn đề có liên quan đến tôn giáo phải dựa trên những nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, các bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật mỗi bên, pháp luật và thông lệ quốc tế”.
Tại chương V quy định về “Quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc” của Pháp lệnh, các Điều 35, 36 cũng quy định cụ thể về các yếu tố liên quan đến các hoạt động quốc tế của các tôn giáo ở nước ngoài.
Điều 35: Khi tiến hành các hoạt động quan hệ quốc tế sau đây phải có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương:
1. Mời tổ chức, người nước ngoài vào Việt Nam hoặc triển khai chủ trương của tổ chức tôn giáo nước ngoài ở Việt Nam;
2. Tham gia hoạt động tôn giáo, cử người tham gia khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài.
Điều 36: Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo của Việt Nam sau khi được cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương chấp thuận, phải tôn trọng quy định của tổ chức tôn giáo của Việt Nam và tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam”.
Để cụ thể hóa Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 01/3/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 31, 32, 33, 34, 35 của Nghị định 22/CP đã quy định chi tiết các thủ tục cần thiết mà các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo cần phải thực hiện khi tiến hành các hoạt động quốc tế liên quan đến tôn giáo.
Điều 31: Việc mời tổ chức, người nước ngoài vào Việt Nam
1. Tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo khi mời tổ chức người nước ngoài vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động hợp tác quốc tế có liên quan đến tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ban Tôn giáo Chính phủ.
2. Hồ sơ gồm:
a. Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ lý do mời, nội dung các hoạt động hợp tác, dự kiến chương trình, thời gian và địa điểm tổ chức.
b. Bản giới thiệu tóm tắt các hoạt động chủ yếu của tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài.
c. Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ban Tôn giáo Chính phủ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.
Điều 32. Việc tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài
1. Tổ chức tôn giáo khi tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ban Tôn giáo Chính phủ.
2. Hồ sơ gồm:
a. Văn bản đề nghị trong đó nêu rõ lý do, mục đích, chương trình, thời gian, địa điểm của hoạt động tôn giáo diễn ra ở nước ngoài mà tổ chức, cá nhân tôn giáo ở Việt Nam được mời tham gia.
b. Giấy mời tham gia hoạt động ở nước ngoài.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ban Tôn giáo Chính phủ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.
Điều 33: Việc tham gia khóa đào tạo tôn giáo ở nước ngoài
1. Chức sắc, nhà tu hành khi tham gia khóa đào tạo tôn giáo ở nước ngoài có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ban Tôn giáo Chính phủ.
2. Hồ sơ gồm:
a. Đơn xin tham gia khóa đào tạo, trong đó nêu rõ lý do, mục đích, nội dung, chương trình, thời gian đào tạo.
b. Giấy chấp thuận của tổ chức tôn giáo quản lý trực tiếp.
3. Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ban Tôn giáo Chính phủ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.
Điều 34. Việc xuất cảnh của chức sắc, nhà tu hành không thuộc trường hợp quy định tại Điều 32, Điều 33 Nghị định này
Chức sắc, nhà tu hành xuất cảnh không thuộc các quy định tại Điều 32, Điều 33 của Nghị định này thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh.
Điều 35. Việc giảng đạo của chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài tại Việt Nam
1. Tổ chức tôn giáo mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo tại cơ sở tôn giáo ở Việt Nam có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị đến Ban Tôn giáo Chính phủ, trong đó nêu rõ tên chức sắc, nhà tu hành, quốc tịch, tên tổ chức tôn giáo nước ngoài, chương trình, thời gian, địa điểm thực hiện, người tổ chức, thành phần tham dự.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ban Tôn giáo Chính phủ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.
Như vậy là những quy định liên quan đến hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo tại các văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được cải tiến phù hợp với tiến trình đổi mới, góp phần tích cực trong việc thực hiện đường lối đối ngoại và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt trong xu thế mở cửa hiện nay, với chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta thì việc giao lưu giữa các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong nước với các tổ chức tương ứng ở nước ngoài là hoạt động cần thiết trong kênh đối ngoại nhân dân.
Thông qua việc tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo ở trong nước tăng cường các hoạt động quốc tế liên quan đến tôn giáo đã giúp cho thế giới hiểu rõ hơn về Việt Nam, tranh thủ thêm được sự đồng tình của dư luận tiến bộ trên thế giới, trong đó có giới tôn giáo, đối với công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo chống sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý đối với hoạt động quốc tế của các tổ chức, cá nhân tôn giáo gặp một số khó khăn. Một số cá nhân tôn giáo đã sử dụng hộ chiếu phổ thông được cấp theo diện đi thăm thân nhân, du lịch để tham gia các hoạt động quốc tế ở nước ngoài, hoặc việc các cá nhân, tổ chức tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam theo diện du lịch để hoạt động tôn giáo.
Tình hình này đòi hỏi chúng ta cần phải có cơ chế quản lý phù hợp để vừa đáp ứng nguyện vọng của các tổ chức, cá nhân tôn giáo, đảm bảo đúng chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời phải đảm bảo an ninh của đất nước, nhằm hạn chế việc lợi dụng xuất - nhập cảnh để có những hoạt động không phù hợp với pháp luật Việt Nam, gây phương hại đến an ninh xã hội./.

Ngô Thị Xuân Lan

Tìm hiểu văn bản pháp luật quy định về hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức, chức sắc, nhà tu hành các tôn giáoDo điều kiện và hoàn cảnh lịch sử và qua các thời kỳ biến động khác nhau, ở Việt Nam có tôn giáo ra đời do du nhập từ bên ngoài vào như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, có một số tôn giáo tự hình thành trong nước như Cao đài, Phật giáo Hoà Hảo… Các
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tìm hiểu pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ khi ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đến nay
Đồ thờ và cách bài trí ở Đình Phú Gia
Đôi nét về văn hóa, tín ngưỡng của người Hoa ở Bắc Giang
Vấn đề tôn giáo trong luận án Tiến sĩ của Mác
Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Tìm hiểu ý nghĩa lễ nhập môn của đạo Cao đài
Vài nét về: Tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm
Khái quát về giáo phận Thái Bình nhân kỷ niệm 75 năm thành lập
Điều 70 Hiến pháp 1992 và thực tiễn áp dụng trong lĩnh vực tôn giáo
Pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ 1986 đến trước khi ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hàng vạn du khách dự lễ khai hội đền Sóc Xuân Canh Tý 2020
Nghi lễ 'Tống cựu nghinh Tân' tại Hoàng thành Thăng Long
Lễ hội ném còn ba nước Việt-Lào-Trung lần thứ VI
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn