Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 21/02/2020 04:27 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 1+2/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 12/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 11/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Vấn đề tôn giáo trong luận án Tiến sĩ của Mác

Từ năm 1838, Mác đã bắt đầu nghiên cứu lịch sử triết học. Trong những tập bút ký của ông, với bảy quyển vở xanh có nhan đề "Lịch sử triết học về những trường phái: Êpia Quya, Khắc kỷ, Hoài nghi" đã minh chứng điều đó.

Lúc đầu Mác dự định viết một công trình đồ sộ nghiên cứu sâu sắc cả ba trường phái, nhưng sau giới hạn trong phạm vi hẹp hơn và lấy đó làm đề tài cho bản luận án tiến sĩ của mình, với tên: "Sự khác nhau giữa khoa học tự nhiên của Đêmôcrít và Êpia Quya". Sở dĩ Mác chỉ giới hạn đề tài nghiên cứu như vậy vì Mác muốn sớm có bằng tiến sĩ khoa học để cưới Gien-ny, tách Gien-ny khỏi ảnh hưởng xấu của một bộ phận gia đình. Còn Bau-e (Hêghen trẻ) cũng muốn Mác nhanh chóng chấm dứt "Hài kịch của chuyện thi cử" để sớm được ở bên cạnh Mác và để đỡ bị cô lập trong cuộc đấu tranh chống lại xã hội đương thời.

Phải chăng, vì tranh thủ thời gian mà Mác chỉ đề cập đến vấn đề "triết học tự nhiên của Êpia Quya", còn việc trình bày tổng hợp cả ba trường phái sẽ được thực hiện vào dịp khác? Có lẽ cũng không phải chỉ như vậy, lý do ông nghiên cứu vấn đề này còn ở chỗ: Trong thời điểm lịch sử hiện tại Mác và Hêghen tập trung phê phán tôn giáo gắn với phê phán chính trị-xã hội và để phê phán có hiệu quả thì cần phải đề cao chủ nghĩa duy vật vô thần của Êpia Quya. Vì thế, Mác đã nghiên cứu đề tài: "Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và Êpia Quya".
 
Trong luận án, luận điểm đầu tiên Mác nhấn mạnh: Khôi phục địa vị triết học của Êpia Quya. Thời cổ đại, học thuyết của ông được người ta hiểu không đúng với thực chất tinh thần của nó, vì thế mà sự ảnh hưởng của nó trái hẳn với sự mong muốn của ông, chẳng hạn khi bàn về đạo đức, ông nói “Thích thú, đó là mục đích cuối cùng của con người”. “Thích thú” được hiểu với nghĩa con người đã thoát khỏi những đau khổ cả về thể xác lẫn tâm hồn, con người được tự do. Nhưng giai cấp chính trị lại hiểu nó theo ý nghĩa tầm thường trụy lạc, tô điểm cho thú tính thấp hèn của họ. Hay chính lòng căm ghét tôn giáo của ông thể hiện trong học thuyết lại trở thành cái mà Thiên Chúa giáo ưa chuộng khi ông nói rằng: Chúng ta nên chọn người có tâm hồn cao thượng, dựng thành tấm gương... để khi chúng ta sống được người đó luôn theo dõi và khi chúng ta hành động được người đó luôn nhìn thấy”.
 
Theo Êpia Quya "Người có tâm hồn cao thượng..." không phải là thần thánh, mà là những con người hiện thực trong cộng đồng người. Nhưng giai cấp thống trị lại hiểu đó là thần thánh, biến tư tưởng khoa học của ông thành cái có lợi cho tôn giáo. Mặc dù trong học thuyết về đạo đức của ông đã nói rằng: "Đạo đức học của tôi là chống lại tinh thần sợ hãi, sợ chết trước thần linh".
 
Đến thời Mác, nhiều nhà tư tưởng nghiên cứu Êpia Quya cũng không hiểu được thực chất tinh thần của nó, nên không tránh khỏi những nhận định sai lầm. Hêghen nghiên cứu Êpia Quya với thái độ không thiện cảm, thiếu khách quan, vì thế đã làm lu mờ tất cả những tư tưởng triết học duy vật của nó. Lê nin viết: "Hêghen nghiên cứu Êpia Quya là thể hiện một sự điển hình về sự xuyên tạc và vu khống của một nhà duy tâm đối với chủ nghĩa duy vật"(1). 
 
Với Hêghen trẻ: Coi Êpia Quya chỉ là một trào lưu phụ, đỉnh cao triết học bấy giờ là phái Hoài nghi. Còn Mác, ông đã nghiên cứu Êpia Quya một cách nghiêm túc nên đã khôi phục được địa vị triết học Êpia Quya bằng cách: Đề cao chủ nghĩa duy vật vô thần vốn có trong triết học của ông và chỉ với Mác, Êpia Quya mới được đánh giá một cách đầy đủ nhất: “Với tư cách là nhân cách sống vĩ đại thời cổ, người đã đem triết học giải phóng con người thoát khỏi sự sợ hãi, sợ chết trước thần linh”.
 
Như vậy đề cao chủ nghĩa duy vật vô thần của Êpia Quya, Mác đã góp phần vào cuộc đấu tranh chống lại xã hội đương thời chống lại tôn giáo của Hêghen trẻ (Thời kỳ này Mác tham gia vào phái Hêghen trẻ). Bên cạnh nội dung khôi phục chủ nghĩa duy vật vô thần trong triết học Êpia Quya, Mác còn vạch ra sự khác nhau căn bản giữa triết học của ông với triết học của Đêmôcrít. Thời Mác lưu hành khá phổ biến quan niệm cho rằng: Triết học tự nhiên của Êpia Quya chỉ là sự giải thích triết học tự nhiên của Đêmôcrít. Lép-nếch đã khái quát một cách khinh miệt rằng: cứ chỗ nào gọi là phát triển triết học Đêmôcrit thì thực chất chỉ là làm nghèo nàn và tầm thường hóa Đêmôcrít mà thôi. Còn Hêghen trẻ cho rằng: Triết học của Êpia Quya về căn bản không có gì khác với triết học của Đêmôcrít, nó chỉ là sự lặp lại một cách không thêm bớt.
 
Trái với những quan điểm trên, Mác đã chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa trường phái triết học tự nhiên của hai ông, thể hiện trong học thuyết về “sự rơi lệch hướng của nguyên tử so với đường thẳng".
 
Hai ông đều cho rằng, nguyên tử và chân không là cơ sở của thế giới, nên hai ông đều là nhà duy vật vô thần. Nhưng về hình thức vận động của nguyên tử, quan niệm của hai ông có khác nhau. Đêmôcrít cho rằng, trong sự vận động không ngừng và rơi vào đường thẳng, các nguyên tử lớn đụng vào nguyên tử nhỏ, từ vận động thẳng sinh ra vận động ngang. Như vậy, trong vận động không có cái ngẫu nhiên mà chỉ có cái tất nhiên tuyệt đối. Còn Êpia Quya: Thêm vào hai hình thức vận động cơ bản trên: thẳng và ngang, một hình thức vận động thứ ba: vận động chệch hướng. Nghĩa là trong sự vận động của nguyên tử, đến một lúc nào đó, trong điều kiện nào đó nó có thể vận động chệch hướng so với đường thẳng. Đó là thời điểm khác nhau căn bản giữa triết học tự nhiên của Êpia Quya so với triết học tự nhiên của Đêmôcrít. Chính vì thế mà triết học của Êpia Quya có ý nghĩa vô cùng sâu sắc.
 
Qua luận điểm về "sự rơi lệch hướng của nguyên tử..." đã chống lại chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, khắc phục tính định mệnh trong triết học Đêmôcrít. Khi Êpia Quya khẳng định: nguyên tử có thể rơi lệch hướng do nguyên nhân nội tại bên trong của chính nó khác căn bản với Đêmôcrít về nguyên nhân vận động của các nguyên tử, có ngay từ đầu và mang tính tất nhiên tuyệt đối, không đổi, thể hiện tính định mệnh máy móc đấu tranh tôn giáo. Vì thế mà Êpia Quya viết: "Thà thừa nhận chuyện cổ tích về thần thánh còn hơn làm nô lệ cho tính tất yếu có tính định mệnh của nhà tự nhiên Đêmôcrít".
 
Nhân bàn đến “sự rơi chệch hướng của nguyên tử...”, Êpia Quya đã đề cập đến vấn đề tự do. Theo ông, tự do là "vô vi" (không làm gì), nghĩa là nó chỉ có được dưới hình thức riêng biệt, độc lập với thế giới xung quanh, bo bo trong bản thân nó. Tự do thật sự chỉ có trong vận động của nguyên tử, còn tự do của con người chỉ là sự tượng trưng của tự do nguyên tử mà thôi. Trong thế giới có áp bức, con người muốn có tự do thì hãy quay lưng lại xã hội đó.
 
Xung quanh vấn đề “tự do”, Mác đã phê phán và nêu quan điểm của mình: Triết học của Đêmôcrít vì có tính định mệnh nên đã phủ nhận tự do của nguyên tử và đi đến phủ nhận tự do của con người. Còn triết học của Êpia Quya, đã nêu ra được vấn đề tự do, từ tự do của nguyên tử đến tự do của con người, nhưng với quan niệm "vô vi" nên đã dẫn đến sai lầm cho rằng: con người muốn có tự do hãy quay lưng lại thế giới đó, xã hội đó, bo bo trong bản thân mình. Quan điểm này có tính mơ hồ, thụ động trong cách giải quyết, nên nó không thể tồn tại trong hiện thực. Mác đã chỉ ra rằng: Tự do trước hết phải là tự do của con người. Tự do chân chính của con người chỉ được thực hiện trong sự cộng tác toàn diện giữa con người với con người, trong cuộc đấu tranh cải tạo điều kiện sinh hoạt xã hội.
 
Tuy Mác đã nhấn mạnh vào tự do của con người nhưng dù sao quan niệm này vẫn trừu tượng, có tính duy tâm, mặc dù nó đã hé ra lập trường cách mạng, cải tạo thế giới. Quá trình hình thành thế giới quan mới (Duy vật biện chứng) tất yếu là vậy. Chính vì thế khi nhận xét đánh giá tác phẩm Luận án tiến sĩ triết học của Mác, Lênin viết: "Trong bản luận án này, Mác còn phát biểu một quan điểm hoàn toàn tiêm nhiễm chủ nghĩa duy tâm theo kiểu Hêghen"(2).
 
Như vậy, Mác cũng đã công khai nêu lên quan điểm vô thần của mình, thể hiện trong việc đề cao chủ nghĩa duy vật vô thần của Êpia Quya. Đồng thời, Mác hé ra tư tưởng mới: Triết học phải gắn bó với thực tiễn, gắn bó với cuộc sống. Đây là con đường vận động độc lập của ông, tất yếu nó sẽ dẫn ông đến những kết luận mới không chỉ khác căn bản mà còn đối lập hoàn toàn với triết học Hêghen, mặc dù lúc này ông còn coi Hêghen là "nhà tư tưởng khổng lồ"./.
 
 Ngô Đức Thịnh*
 
* Nguyên Trưởng khoa Triết Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(1) Lênin toàn tập, Tập 18.Tr.150)
(2) Lênin toàn tập, tập 21.Tr6. Xuất bản Sự thật 1963)
Vấn đề tôn giáo trong luận án Tiến sĩ của MácLúc đầu Mác dự định viết một công trình đồ sộ nghiên cứu sâu sắc cả ba trường phái, nhưng sau giới hạn trong phạm vi hẹp hơn và lấy đó làm đề tài cho bản luận án tiến sĩ của mình, với tên: "Sự khác nhau giữa khoa học tự nhiên của Đêmôcrít và Êpia Quya". Sở
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội
Tìm hiểu ý nghĩa lễ nhập môn của đạo Cao đài
Vài nét về: Tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm
Khái quát về giáo phận Thái Bình nhân kỷ niệm 75 năm thành lập
Điều 70 Hiến pháp 1992 và thực tiễn áp dụng trong lĩnh vực tôn giáo
Pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ 1986 đến trước khi ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Quan điểm về Nho – Phật – Đạo và tinh thần tam giáo đồng nguyên thời Trần
Các giáo hội tôn giáo ở Hoa Kỳ với vấn đề kinh doanh
Tìm hiểu pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975-1986
Phật giáo với việc cai trị đất nước
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hàng vạn du khách dự lễ khai hội đền Sóc Xuân Canh Tý 2020
Nghi lễ 'Tống cựu nghinh Tân' tại Hoàng thành Thăng Long
Lễ hội ném còn ba nước Việt-Lào-Trung lần thứ VI
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn