Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 22/11/2019 01:11 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc

Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, do Thái tử Tất Đạt Đa (Shidartha) sáng lập.

Theo sử sách ghi lại, đạo Phật được truyền tới Việt Nam năm 198. Trải qua gần 2000 năm hoạt động và phát triển, với bản chất từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, yêu hòa bình, tôn trọng sự sống, đạo Phật đã gắn bó và đồng hành cùng với dân tộc Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử.

Trải qua các triều đại phong kiến, từ thời Đinh – Tiền Lê rồi đến thời Lý, Trần, Phật giáo luôn có vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Thời đại nào cũng có những nhà sư đồng thời là những nhà văn hóa, chính trị, quân sự, ngoại giao xuất sắc có vai trò trong công cuộc hộ quốc, an dân như: Thiền sư Ngô Chân Lưu (được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức “Khuông Việt Đại sư”), thiền sư Vạn Hạnh (được coi là một kiến trúc sư góp phần xây dựng nên sự thịnh vượng của Vương triều Lý), thiền sư Đa Bảo, Sùng Phạm… và đặc biệt đến thời nhà Trần, các thiền sư, hoàng đế đã lập nên Thiền phái Trúc Lâm – một hệ tư tưởng, một phái Thiền đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam cho đến ngày nay. Tiêu biểu là vua Trần Nhân Tông sau khi truyền ngôi cho con, đã tiếp tục cuộc sống tu hành, khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Phật giáo Việt Nam tiếp tục nêu cao ngọn cờ yêu nước, kề vai sát cánh cùng toàn thể nhân dân cả nước đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trong kháng chiến chống Pháp, Phật giáo Việt Nam đã thành lập các tổ chức “Tăng già cứu quốc”, “Đoàn Phật giáo cứu quốc”, “Bộ đội Tăng già”, “Hội Phật giáo cứu quốc” các cấp để quy tụ, vận động và tổ chức cho tăng ni, phật tử tham gia cách mạng, ủng hộ kháng chiến. Đại đa số các ngôi chùa miền Bắc đã trở thành cơ sở cách mạng, dự trữ quân lương, nuôi giấu cán bộ, như: chùa Quảng Bá, chùa Linh Quang, chùa Ngọc Hồi, chùa Tự Khánh, chùa Thanh Trì, chùa Sùng Giáo … ở Hà Nội; chùa Trại Sơn, chùa Trúc Động, chùa Vũ Lao… ở Hải Phòng; chùa Ninh Cường, chùa Cổ Lễ, chùa Vọng Cung… ở Nam Định; chùa Hoa Sơn, chùa Bích Động… ở Ninh Bình… Nhiều tăng ni, phật tử đã hăng hái lên đường tòng quân đánh giặc, cứu nước. Nói đến lịch sử dân tộc Việt Nam thời kỳ này không thể không nói đến sự đóng góp to lớn của Phật giáo Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo và những tấm gương yêu nước của các vị cao tăng, như: Hòa thượng Thích Tâm Thi (1889 – 1959), Hòa thượng Thích Thanh Lộc (…), Hòa thượng Thích Thanh Chân (1905 – 1989), Hòa thượng Thích Thế Long (1909 – 1985); Hòa thượng Thích Đôn Hậu (1904 – 1992); Hòa thượng Thích Thiện Hào (1911 – 1997); Hòa thượng Thích Tâm Thông (1916 – 1999); Hòa thượng Thích Thuận Đức (1918 – 2000)… các tăng ni, phật tử Phật giáo Việt Nam đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, tiêu biểu là sự kiện 11 nhà sư đã phát nguyện “cởi áo cà sa ra trận” tại chùa Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định vào ngày 27/02/1950, và họ đã trở thành những chiến sĩ vệ quốc đoàn kiên trung, có người đã hy sinh thân mình cho Tổ quốc, có người sau khi hoàn thành nghĩa vụ công dân cao cả lại tiếp tục quay trở về tiếp tục cuộc sống tu hành; sự kiện 15 sư tăng thuộc tổ chức bộ đội tăng già thuộc huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) tình nguyện nhập ngũ lên đường bảo vệ Tổ quốc, và trong trận chiến đấu bảo vệ cho chính nghĩa đó, 3 nhà sư đã anh dũng hy sinh. Và còn rất nhiều tấm gương của các vị sư, cư sĩ Phật giáo yêu nước khác.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện “Tiêu thổ kháng chiến”, Hội Phật giáo đã cho phá hủy nhà in Đuốc Tuệ và nhiều cơ sở vật chất khác của Phật giáo để ủng hộ cách mạng kháng Pháp.
Bên cạnh nhiệm vụ tham gia kháng chiến để bảo vệ Tổ quốc, Phật giáo Việt Nam vẫn không quên lời dạy của Đức bổn sư: “Duy tuệ thị nghiệp” (lấy trí tuệ làm sự nghiệp) và thực hiện lời dạy của Bác Hồ, đó là muốn kiến thiết đất nước thì phải diệt được 3 loại giặc: “Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”, các vị sư lại là những người thày, chùa của Phật giáo lại trở thành các trường học dạy chữ cho bà con; bên cạnh đó tăng ni, phật tử còn tích cực tăng gia sản xuất, ủng hộ cho kháng chiến chống thực dân Pháp.
Không chỉ trực tiếp tham gia chiến đấu, Phật giáo Việt Nam còn phát động phong trào chấn hưng Phật giáo. Đây không chỉ là việc đạo mà còn với mục đích chấn hưng tư tưởng của một bộ phận tăng ni, phật tử đặc biệt là lớp trẻ lúc bấy giờ, hướng họ không sa đà vào những hoạt động mê tín dị đoan, sống cuộc sống vật chất, thực dụng, thiếu lý tưởng do luồng tư tưởng của chủ nghĩa thực dân mang lại. Cuộc vận động chấn hưng trong Phật giáo đã cảnh tỉnh nhiều nhà trí thức, làm dấy lên làn sóng đề cao tinh thần, văn hóa dân tộc ở khắp các tỉnh miền Nam thời bấy giờ. Đây cũng là một trong những yếu tố góp phần đẩy mạnh phong trào cách mạng lên cao, sớm đi đến sự kết thúc địa vị của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Sau khi đánh đuổi được thực dân Pháp, đất nước ta lại phải đối đầu với cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ tại miền Nam. Đất nước bị chia cắt làm 2 miền với 2 thể chế chính trị khác nhau. Phật giáo miền Bắc chung vai cùng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đời sống mới, trở thành hậu phương vững chắc chi viện sức người, sức của cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam.
Thời kỳ này Phật giáo ở miền Nam gặp nhiều khó khăn do chính quyền Ngô Đình Diệm chèn ép mọi hoạt động của Phật giáo, vì cho rằng Phật giáo là tôn giáo của dân tộc. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của các vị sư đạo cao, đức trọng, nêu cao tinh thần yêu nước như: Hòa thượng Thích Thế Long, Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Ni trưởng Huỳnh Liên… số lượng người theo Phật giáo ngày càng đông và ảnh hưởng của Phật giáo ngày càng sâu, rộng trong đời sống xã hội. Phật giáo đã tổ chức nhiều hội đoàn trong quần chúng, như: “Gia đình Phật tử”, “Thanh niên Phật tử”, “Xích lô Phật tử” để tham gia các cuộc biểu tình, đấu tranh chống chính quyền Mỹ - Ngụy. Đỉnh cao của tinh thần yêu nước, vì dân tộc, vì hoạt động chính đáng của Phật giáo là sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu ở ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng (nay là Cách mạng tháng Tám – Nguyễn Đình Chiểu) vào ngày 10/6/1963 để tố cáo chế độ Ngô Đình Diệm, phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Hòa thượng phát nguyện tự thiêu đòi bình đẳng tôn giáo, chống đàn áp Phật giáo và đòi quyền dân sinh, dân chủ, độc lập dân tộc. Hành động cao cả của Hòa thượng đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước, làm dấy lên làn sóng biểu tình phản đối chế độ độc tài Ngô Đình Diệm ở khắp các vùng, miền trong cả nước, và ở cả những quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có một bộ phận nhân dân tiến bộ Mỹ.
Cùng với sự kiện tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức là các phong trào đấu tranh của những người công nhân, học sinh, sinh viên, phụ nữ… phật tử với những khẩu hiệu gắn với phong trào cách mạng của Việt Nam, thông qua các cuộc biểu tình, đình công, bãi khóa, rải truyền đơn, biểu ngữ… và trong cuộc đấu tranh ấy, những người con Phật lại tiếp tục dâng hiến cuộc đời mình cho Tổ quốc, tiêu biểu như: sự hy sinh anh dũng của Hòa thượng Hữu Nhem; của nữ sinh Quách Thị Trang bị trúng đạn kẻ thù và trút hơi thở cuối cùng khi cô còn đang ở độ tuổi 15; … và rồi hàng loạt các vụ tự thiêu theo gương Hòa thượng Thích Quảng Đức, như: vụ tự thiêu tập thể của 6 tín đồ Phật giáo vào mùa thu năm 1963; vụ Phật tử Nhất Chi Mai tự thiêu (năm 1967) với mục đích đòi hòa bình, độc lập cho quê hương, đòi cuộc sống an lạc cho nhân dân và yêu cầu chấm dứt sự tham gia của chính quyền Mỹ - Ngụy tại Việt Nam…
Với truyền thống yêu nước, đồng hành cùng dân tộc, Phật giáo Việt Nam không chỉ đấu tranh trực diện với kẻ thù mà Phật giáo Việt Nam còn là hậu phương vững chắc cho cách mạng. Đại bộ phận các ngôi chùa miền Nam là cơ sở của kháng chiến, chở che, bao bọc những người chiến sĩ cộng sản; là nơi cất giấu vũ khí, quân trang, lương thảo; là trạm quân y, là trường học dạy chữ, dạy đạo đức làm người; là cơ sở từ thiện cho đồng bào… tiêu biểu là tổ chức “Mặt trận nhân dân cứu đói” do nhà sư Thích Hiển Pháp làm Chủ tịch, phát động phong trào nhường cơm xẻ áo cho đồng bào thiếu đói. Có thể nói, phong trào đấu tranh của Phật giáo đóng góp một phần không nhỏ trong công cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sự đóng góp của Phật giáo Việt nam đã được lịch sử dân tộc Việt Nam ghi nhận.
Hòa bình lập lại, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục nhất quán chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, và đó cũng là điều kiện thuận lợi để Phật giáo Việt Nam thực hiện được nguyện vọng thống nhất Phật giáo trong một tổ chức chung của đại đa số tăng ni, phật tử Phật giáo Việt Nam.
Sau hơn một năm vận động, ngày 07/11/1981 Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) được thành lập trên cơ sở sáp nhập 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo lớn ở Việt Nam lúc đó và đã được Nhà nước Việt Nam công nhận (tại Quyết định số 83/BT ngày 29/12/1981 do Bộ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng, nay là Thủ tướng Chính phủ ký). Tại Lời nói đầu của Hiến chương, GHPGVN đã xác định “Phương châm hoạt động của GHPGVN là: Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”, “GHPGVN là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho tăng ni, phật tử ở trong và ngoài nước”. Hiến chương GHPGVN đã khẳng định: “Mục đích của GHPGVN là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương Phật pháp và tham gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”.
Trải qua 30 năm hoạt động, theo thống kê của GHPGVN, tính đến tháng 6/2011 GHPGVN có 46.495 tăng ni, 14.778 cơ sở thờ tự, khoảng 10.000.000 tín đồ đã quy y (chưa kể đến hàng chục triệu người có tình cảm, tín ngưỡng Phật giáo). Về giáo dục, GHPGVN hiện có 4 Học viện Phật giáo, 30 trường Trung cấp Phật học, 8 lớp Cao đẳng Phật giáo, 1 trường Trung – Cao đẳng Phật giáo và gần 50 lớp Sơ cấp Phật học;  gần 100 tăng ni có bằng tiến sĩ, thạc sĩ chuyên ngành Phật học, tâm lý học, triết học, xã hội học… ở nước ngoài đã về nước tham gia vào các ban, ngành, viện và trường của GHPGVN, tăng cường đội ngũ trí thức chung của xã hội, góp phần xây dựng đất nước. Về hoạt động, GHPGVN đã tiếp nối truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt Nam, gắn bó với dân tộc Việt Nam, thể hiện trên nhiều phương diện.
Trong xây dựng đất nước, kể từ khi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, Phật giáo Việt Nam trước đây và nay là Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn có những đại biểu xứng đáng, được cử tri cả nước tin cậy bầu vào Quốc hội, vào Hội đồng nhân dân các cấp để phản ánh nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, của tăng ni, phật tử với Đảng và Nhà nước, đồng thời góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống nhân dân, đặc biệt là trong bộ phận đồng bào theo đạo Phật. Chỉ tính riêng 13 nhiệm kỳ Quốc hội, Phật giáo Việt Nam đã có 19 vị Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng tham gia, có những vị tham gia nhiều nhiệm kỳ (Hòa thượng Thích Trí Độ, Hòa thượng Trần Quảng Dung, Hòa thượng Thích Tâm An, Hòa thượng Thích Thế Long, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Hòa thượng Thích Minh Châu, Hòa thượng Kim Cương Tử, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Thanh Tứ, Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Hòa thượng Danh Nhưỡng), trong đó Hòa thượng Thích Thế Long đã được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII (1981 – 1987). Ngoài ra, rất nhiều vị tăng ni, phật tử còn tham gia vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể, xã hội… các cấp, góp phần không nhỏ xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo ở nước ta.
Trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, GHPGVN luôn kiên định đường hướng hoạt động “Đạo pháp – Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. Trong quá trình vận động của lịch sử Phật giáo và lịch sử dân tộc, một bộ phận nhỏ tăng ni, phật tử đã bị các thế lực thù địch lợi dụng làm cản trở tiến trình cách mạng của dân tộc Việt Nam, do đó khi đất nước thống nhất, các vị có tâm trạng e dè, mặc cảm, một số vị vẫn còn giữ thái độ cực đoan, không hợp tác với chính quyền và GHPGVN, tuy nhiên, với tình đồng đạo, nghĩa đồng bào, các vị cao tăng trong GHPGVN đã thể hiện thái độ chia sẻ, khoan dung để cảm hoá, kéo họ lại gần với GHPGVN, với dân tộc Việt Nam. Trong công tác đối ngoại, GHPGVN là một kênh thông tin ngoại giao quan trọng góp phần khẳng định về chủ trương, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, đấu tranh với các thế lực thù địch vu cáo Nhà nước ta vi phạm về tự do nhân quyền, tôn giáo. Thông qua việc tham gia các diễn đàn và hoạt động Phật giáo quốc tế, như: là thành viên của tổ chức ABCP (tổ chức Phật giáo châu Á vì hòa bình) và tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo thế giới; tham gia các kỳ Đại lễ Vesak (ngày tam hợp Đức Phật: ngày Phật sinh, ngày Phật thành đạo và ngày Phật nhập Niết bàn) của Liên hợp quốc (năm 2008 GHPGVN tổ chức Đại lễ Vesak, có sự tham gia khoảng 4.000 người đến từ 74 quốc gia, vùng lãnh thổ); tham gia tổ chức Hội nghị Ni giới thế giới… GHPGVN đã có tiếng nói rất tích cực để bạn bè thế giới hiểu hơn về phật giáo, con người, chính sách đối với tôn giáo của Nhà nước Việt Nam, góp phần không nhỏ trong việc tạo dư luận ủng hộ của các nước đấu tranh để Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách CPC (các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo) năm 2008. Ngoài ra, GHPGVN còn góp phần là cầu nối giữa tăng ni, phật tử, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài với nhà nước thông qua các hoạt động Phật giáo.
Trong các hoạt động xã hội, ngoài các hoạt động tri ân những gia đình thương binh, liệt sĩ, những bà mẹ Việt Nam anh hùng, GHPGVN còn quan tâm đến cộng đồng xã hội. Đến nay, GHPGVN đã có 65 Tuệ tĩnh đường, 655 phòng chẩn trị y học dân tộc, 1 phòng khám Đa khoa. Các cơ sở y tế của GHPGVN hoạt động tương đối hiệu quả, hàng năm khám và phát thuốc miễn phí cho hàng chục ngàn lượt người bệnh. Ngoài ra, GHPGVN còn tham gia nhiều hoạt động từ thiện, nhân đạo, tương thân tương ái, chia sẻ khó khăn với cộng đồng, như: nuôi dạy trẻ em khuyết tật, mồ côi, trẻ bị ảnh hưởng chất độc màu da cam; chăm sóc những người già không nơi nương tựa; tư vấn và nuôi dưỡng những người bị nhiễm HIV/AIDS; xây cầu dân sinh; đắp đường giao thông nông thôn; tặng phương tiện đi lại cho người nghèo; hiến máu nhân đạo; tặng nhà tình nghĩa; hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt… Chỉ tính riêng trong năm 2010, số tiền GHPGVN làm công tác từ thiện, nhân đạo đã lên tới 700 tỷ đồng. Những hoạt động của GHPGVN đã góp phần không nhỏ cùng với Nhà nước xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Trong đời sống xã hội, đạo đức, văn hoá, lễ nghi Phật giáo đã làm phong phú thêm truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam, góp phần vào việc hình thành nhân cách mang tính nhân văn, nhân ái của một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam.
Có thể nói, GHPGVN đạt được thành quả như ngày hôm nay là sự nỗ lực không ngừng của các thế hệ tăng ni, phật tử và xuất phát từ tình yêu quê hương, đất nước, đồng loại, yêu hoà bình, tôn trọng sự sống của Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, sẽ là khiếm khuyết nếu đánh giá thành tựu của Phật giáo Việt Nam mà không nhắc đến sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo nói chung cũng như Phật giáo nói riêng, đó chính là điều kiện để các tôn giáo hoạt động và phát triển, đóng góp cho xã hội.
Ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do, Lương – Giáo đoàn kết” và tư tưởng đó của Người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong hệ thống các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với tôn giáo kể từ đó đến nay.
Trải qua các giai đoạn cách mạng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo được hoàn thiện dần theo xu hướng ngày một cởi mở hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động tôn giáo, mở ra cơ hội cho các tôn giáo được hoạt động, khẳng định vị thế trong nước và quốc tế, cũng như tham gia đóng góp công sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Gần đây nhất, tại Nghị quyết 25/NQ-TƯ ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII (khoá 9) “về công tác tôn giáo”, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối Đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”.
Để đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống, ngày 18/6/2004 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 11 đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (số 21/2004/PL-UBTVQH11) quy định về các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
Bước tiến mới trong những năm gần đây là các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo đã nhanh chóng được cụ thể hoá và áp dụng trong đời sống xã hội. Đa số các ngành, các cấp nghiêm túc triển khai thực hiện trong lĩnh vực ngành, địa phương mình phụ trách. Vì vậy, các tôn giáo và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào chủ trương, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Được dư luận quốc tế ghi nhận và đánh giá cao những thành quả tiến bộ của Việt Nam trong công tác tôn giáo./.
 
Trần Thị Minh Nga
Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộcTheo sử sách ghi lại, đạo Phật được truyền tới Việt Nam năm 198. Trải qua gần 2000 năm hoạt động và phát triển, với bản chất từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, yêu hòa bình, tôn trọng sự sống, đạo Phật đã gắn bó và đồng hành cùng với dân tộc Việt Nam trong suốt
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Dấu ấn Công giáo trong văn hóa Việt
Giáo hội Phật giáo Việt Nam 30 năm thực hiện đường hướng: Đạo pháp –Dân tộc- Chủ nghĩa xã hội
Lễ thành hôn tại ngôi chùa ở Việt Nam lịch sử và hiện tại
Một số nét tương đồng giữa các tôn giáo lớn trên thế giới
Giáo hội Phật giáo Việt Nam phản bác các luận điệu xuyên tạc thực tế nhân quyền và tôn giáo ở Việt Nam
Giữ gìn bản sắc chơn truyền trong pháp tu tuyển độ của nền Đại đạo
Vài nét về Phật giáo Việt Nam trước ngày thành lập Giáo hội Phật giáo
Những ảnh hưởng của Phật giáo với Văn hóa dân tộc
Chấn hưng Phật giáo – đòn bẩy cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo Việt Nam với tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hình ảnh khai mạc Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XVII
Hàng chục ngàn người tham dự Lễ hội dừa Bến Tre 2019
Tái hiện Nghi lễ “Lẩu Then” của đồng bào dân tộc Tày
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn