Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 05/12/2019 10:39 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 11/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Giáo hội Phật giáo Việt Nam 30 năm thực hiện đường hướng: Đạo pháp –Dân tộc- Chủ nghĩa xã hội

      Đạo Phật được du nhập và phát triển ở Việt Nam từ hàng ngàn năm qua. Trong suốt thời gian đó, Phật giáo luôn thể hiện là tôn giáo gắn bó đồng hành cùng dân tộc, có những bước thăng trầm cùng vận mệnh dân tộc và có lẽ vì thế, Phật giáo cũng là tôn giáo gần gũi nhất với mỗi người dân đất Việt. Hình ảnh mái chùa đã thân quen, trở thành hình tượng tiêu biểu của mỗi làng quê Việt Nam để ai đi xa cũng nhớ về. Phật giáo và dân tộc gắn bó làm một và nói như cách của Phật giáo là như nước với sữa không thể tách rời.

            Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, thể hiện ý chí và nguyện vọng của tăng ni, Phật tử cả nước về một ngôi nhà chung. Trong đường hướng hành đạo của mình, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò, vị trí của Phật giáo và dân tộc, phương châm đó là: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội. 30 năm qua, bằng những việc làm thiết thực ích đạo, lợi đời của mình, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng thể hiện hiệu quả phương châm hành đạo với những việc làm hết sức ý nghĩa, khẳng định mối quan hệ gắn bó không thể tách rời giữa đạo pháp và dân tộc.

Ngay từ khi Phật giáo được truyền bá đến Việt Nam, với tinh thần nhập thế “Phật pháp tại thế gian bất ly thế gian pháp”, qua quá trình tiếp xúc với nền văn hoá bản địa, Phật giáo không độc tôn, không loại trừ nền văn hóa truyền thống mà song hành, cùng phát triển. Nhiều nét tương đồng giữa Phật giáo và truyền thống dân tộc vẫn được bảo lưu và hiện hữu trong cuộc sống thường ngày. Vì thế không ngạc nhiên khi ta vẫn thấy mô hình chùa tiền Phật hậu Thánh, trước thờ Phật, sau thờ Thánh trong các ngôi chùa Việt Nam.

Phật giáo cũng nhắc đến tứ trọng ân gồm: ân tổ quốc, ân đồng bào, ân cha mẹ, ân thầy cô là những yếu tố rất gần gũi với truyền thống văn hóa và đạo đức xã hội của người Việt. Phật giáo đã dung hòa và kết hợp một cách nhuần nhuyễn, khéo léo giữa tôn giáo và tín ngưỡng, truyền thống dân gian mà không gặp phải những khó khăn, trở ngại. Việc các ngôi chùa có phối thờ các anh hùng dân tộc, những người có công với nước là một minh chứng cụ thể cho việc kết hợp đó.

Lật lại từng trang sử hào hùng của dân tộc, trong các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, đặc biệt là Lý - Trần, tinh thần nhập thế của đạo Phật đã thúc đẩy các vị cao tăng Phật giáo, cùng quan quân và dân chúng đứng lên chống ách ngoại xâm. Thời Đinh Tiên Hoàng có thiền sư Ngô Chân Lưu được phong làm Quốc sư, thời Tiền Lê có thiền sư Đỗ Pháp Thuận và đặc biệt là thiền sư Vạn Hạnh có công giúp hình thành nhà Lý, đưa Lý Công Uẩn lên làm vị minh quân. Khi lên ngôi, Lý Công Uẩn, nhờ được giáo dục dưới môi trường Phật giáo đã điều hành đất nước bằng tinh thần từ bi và hướng thiện, giáo hóa dân chúng bằng những chính sách hết sức nhân văn và bác ái.

Đời Trần có các thiền sư Đa Bảo, Viên Thông, Tuệ Trung Thượng Sĩ và đặc biệt là các vị vua nhà Trần mà tiêu biểu là Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông đã làm rạng danh Phật giáo và dân tộc bằng cách hài hòa cả hai vai trò, vị vua đạo và vua đời. Sự dung hòa một cách tài tình giữa Phật giáo và dân tộc đem những tư tưởng, triết lý của đạo Phật vào việc phát huy tinh thần yêu nước, dựng nước và giữ nước đã trở thành tư tưởng chủ đạo, góp phần mang lại độc lập và chủ quyền cho dân tộc. Tất cả những điều đó đã làm nên một dấu ấn không thể phai mờ trong dòng chảy lịch sử dân tộc cũng như lịch sử Phật giáo Việt Nam, để mỗi khi nhắc đến, mỗi người dân, mỗi Phật tử lại càng thấy tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc và của Phật giáo.

Thời cận đại, lịch sử dân tộc cũng ghi nhận những đóng góp của Phật giáo vào công cuộc đấu tranh và bảo vệ Tổ quốc trong những năm tháng chống lại ách đô hộ của thực dân và đế quốc. Phát huy tinh thần nhập thế tích cực của Phật giáo, nhiều nhà sư đã “cởi áo cà sa khoác chiến bào” cùng quân dân cả nước đứng lên thực hiện cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đi đến thắng lợi cuối cùng. Nhiều ngôi chùa đã được ghi nhận là cơ sở cách mạng nuôi giấu cán bộ trong những năm kháng chiến. Có nhiều vị tăng, ni đã hy sinh cho độc lập dân tộc, cho tự do của Tổ quốc. Hình ảnh Hòa thượng Thích Thế Long, chùa Cổ Lễ (Nam Định) gia nhập vào đoàn quân đánh giặc để bảo vệ quê hương đã trở thành hình tượng không phai trong ký ức của tăng ni, Phật tử Phật giáo đồ Việt Nam. Sau chiến tranh, Hòa thượng lại trở về chùa xưa tiếp tục cuộc đời tu hành của một nhà sư. Hay như Hòa thượng liệt sỹ Hữu Nhem (Cà Mau) trong chiến tranh chống Mỹ đã giữ chức Phó Chủ tịch Mặt trận giải phóng miền Nam. Cùng với những nhà sư tiêu biểu ấy biết bao nhà sư thầm lặng góp sức vào thành công của dân tộc làm dày thêm lịch sử hào hùng của dân tộc. Và đặc biệt là hành động “vị pháp thiêu thân” của Hòa thượng Thích Quảng Đức tại Sài Gòn ngày 11/6/1963 để phản đối chính quyền Ngụy quyền đàn áp Phật giáo, làm dấy lên phong trào chống chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ không chỉ ở Việt Nam mà ở khắp thế giới. Ngọn lửa bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức đã làm rạng danh cho những người con Phật ở Việt Nam.

Bước sang thời bình, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đông đảo tăng ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, ngày 7/11/1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, đánh dấu một trang sử mới trong lịch sử Phật giáo nước nhà. Cùng với sự độc lập, tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là sự thống nhất và hòa hợp của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam. Sự kiện đó, không chỉ đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam mà hơn thế, điều đó còn mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện sự gắn kết, đồng hành của Phật giáo và dân tộc. Phật giáo không tách rời dân tộc, vận mệnh Phật giáo gắn với vận mệnh dân tộc. Thời cơ và vận hội của dân tộc cũng chính là thời cơ và vận hội để cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam từng bước đi lên và phát triển vững mạnh.

Đường hướng hành đạo mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đưa ra ngay từ những ngày đầu thành lập là Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội ngày càng thể hiện tính đúng đắn và hiệu quả. Đường hướng hành đạo đó, không chỉ là sự hun đúc, hội tụ truyền thống gắn bó đồng hành cùng dân tộc của Phật giáo Việt Nam suốt hàng ngàn năm qua mà còn là sự tiếp nối và kế thừa mạng mạch Phật pháp, phát huy tư tưởng nhân văn sâu sắc của Phật giáo, đồng thời cũng tạo nên những nét riêng biệt để Phật giáo Việt Nam mang một bản sắc, một dấu ấn riêng biệt, thể hiện Phật giáo Việt Nam của đất nước Việt Nam, con người Việt Nam.

Sự đúng đắn của đường hướng hành đạo Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam càng được thể hiện rõ nét khi trong báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 1, Giáo hội đã khẳng định: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào những năm đầu mới thành lập, đi từ tình hình nền Phật giáo vốn bị phân chia tổ chức, hệ phái và ngăn cách cục bộ địa phương, tiến đến thực hiện thống nhất toàn diện, thống nhất cả nước trên nguyên tắc thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, không sao tránh khỏi những nỗi niềm trăn trở, day dứt trong nội bộ hàng giáo phẩm lãnh đạo các tổ chức, hệ phái. Trong tình hình và hoàn cảnh ấy, phương châm hành đạo Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội hiện ra như ngọn đèn soi đường dẫn dắt Giáo hội đi từng bước vững chắc để có sự trưởng thành như ngày nay”[1].

Nói như thế để thấy rằng, không phải không có những băn khoăn, suy nghĩ về đường hướng hành đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Phật giáo luôn bị các thế lực thiếu thiện chí lợi dụng, xuyên tạc hòng có những hành động phá hoại. Thực tế đã chứng minh, đường hướng hành đạo đó không có gì mâu thuẫn với những giáo lý, triết lý nhà Phật đề ra. Đạo Phật chủ trương đem lại hòa bình, ấm no và hạnh phúc cho khắp thảy chúng sinh thì mục đích của chủ nghĩa xã hội cũng là đem lại hòa bình, tự do và hạnh phúc cho toàn thể nhân loại. Bởi vậy, trong bài phát biểu của mình nhân dịp đoàn đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam đến chào thăm xã giao, Cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã nói: “Trong quá khứ, Phật giáo Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử Việt Nam đã xác nhận Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo từ bản chất, bản sắc, từ trong thực tiễn hoạt động của mình, biểu hiện truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dân tộc, với Tổ quốc. Trong sự nghiệp Cách mạng cao cả của dân tộc ngày nay, Phật giáo Việt Nam đã góp phần xứng đáng. Đối với Việt Nam, nói đến tôn giáo là người ta nghĩ ngay đến đạo Phật, đến những việc làm quý báu, đẹp đẽ của đông đảo tăng ni, Phật tử. Đạo Phật ở Việt Nam đã mang màu sắc của dân tộc Việt Nam rõ nét. Có thể nói rằng, Phật giáo Việt Nam đã góp phần làm sáng ngời lý tưởng của dân tộc và trưởng thành cùng dân tộc”.[2]

Sự quyết tâm và đồng lòng trong việc thực hiện đường hướng hành đạo của tăng ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam cũng đã được nêu rõ lời phát biểu đầy xúc tích của Cố Hòa thượng Thích Nguyên Sinh, đại diện Hội Phật giáo Việt Nam thống nhất: “Kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng đạo Phật không xa lạ với chủ nghĩa xã hội như một số người lầm tưởng và mặc cảm lúc ban đầu. Đạo Phật là đạo của giác ngộ và lý trí, phản đối mọi hình thức cuồng tín và mê tín, đề cao chính tín thì không có gì đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đạo Phật chủ trương mọi người phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của bản thân mình, đề cao nếp sống hoạt động, lành mạnh, tích cực, làm mọi điều thiện, tránh mọi điều ác, phản đối lý luận suông. Điều đó phù hợp với chủ nghĩa xã hội”.[3]

Sau 30 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực hiện đường hướng hành đạo của mình, sự thay đổi và chuyển mình tích cực của Giáo hội được minh chứng bằng những con số ấn tượng như số tăng ni tăng cả về chất và lượng, cơ sở thờ tự được trùng tu, tôn tạo, bộ máy tổ chức có nhiều thay đổi và hoạt động ngày càng hiệu quả[4]... phương châm đó càng được củng cố bằng những việc làm ích đạo, lợi đời của tăng ni, Phật tử, đóng góp vào nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, đem lại những hiệu quả thiết thực cho nhân dân và đất nước. Giáo hội đã triển khai nhiều hoạt động để cụ thể hóa phương châm hành đạo. Nhiều lĩnh vực hoạt động của Giáo hội đã gặt hái được những thành tích đáng tự hào, được nhà nước và nhân dân ghi nhận như một chứng cứ hùng hồn về truyền thống hộ quốc, an dân của Phật giáo Việt Nam.

Với tinh thần nhập thế tích cực, ngày nay trên rất nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang động viên, khuyến khích tăng ni, Phật tử tham gia, đặc biệt là việc xã hội hóa công tác giáo dục, y tế và từ thiện xã hội. Hàng năm, Giáo hội đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng qua các hoạt động từ thiện xã hội, góp phần cùng chia sẻ trách nhiệm cộng đồng, đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, giúp đỡ những hoàn cảnh neo đơn, người già, người tàn tật không nơi nương tựa. Nhiều ngôi chùa đã trở thành mái ấm tình thương nuôi dưỡng những mảnh đời mồ côi, già yếu, bệnh tật... Những tấm lòng cao cả của tăng ni, Phật tử Giáo hội Phật giáoViệt Nam đã và đang là những việc làm ý nghĩa và thiết thực giúp hàn gắn nỗi đau đồng thời tạo dựng niềm tin vào một xã hội tốt đẹp đối với nhiều người trong cộng đồng.

Khẳng định đường hướng hành đạo đúng đắn, khẳng định quyết tâm xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam vững mạnh và phát triển trong lòng dân tộc, Giáo hội đang từng bước có những đổi mới không ngừng nhằm đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của xã hội trong thời đại mới. Kiên định với mục tiêu và đường hướng hành đạo đã đề ra, Giáo hội tiếp tục củng cố, kiện toàn và hoàn thiện bộ máy tổ chức của mình. Trải quả 30 năm với 6 nhiệm kỳ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục đi theo đường hướng hành đạo Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội mà Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam năm 1981 đã đề ra và được ghi nhận trong Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Kế thừa và phát huy truyền thống 2000 năm của Phật giáo Việt Nam, những tư tưởng cơ bản, cốt lõi của đạo Phật như tinh thần bi, trí, dũng, vô ngã, vị tha, nhập thế tích cực... vẫn ngày ngày được các tăng ni, tín đồ thực hiện. Giáo hội cũng tạo điều kiện để tăng ni được tu học nâng cao trình độ Phật học và thế học bằng việc xin mở rộng các loại hình đào tạo trình độ Phật học tại các cơ sở đào tạo. Hiện nay, theo con số thống kê, Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 4 Học viện là các Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ, 32 Trường Trung cấp Phật học, 8 Trường Cao đẳng và 1 Trường Trung Cao đẳng Phật học tại Hải Phòng chưa kể số lượng các lớp sơ cấp Phật học được mở tại các chùa. Giáo hội Phật giáo cũng đang đề xuất với các cơ quan nhà nước để thí điểm đào tạo sau đại học tại một số Học viện Phật giáo Việt Nam. Ngoài ra, Giáo hội cũng tích cực gửi tăng ni sinh đi đào tạo nâng cao ở nước ngoài tại các quốc gia có trường Phật học[5]. Đây sẽ là nguồn tăng ni kế cận có trình độ Phật học và thế học tốt, đáp ứng yêu cầu hoạt động của các cấp Giáo hội trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, thấm nhuần lý tưởng và triết lý Phật giáo về một xã hội an lạc, hòa bình và hạnh phúc cho toàn thể chúng sinh, gắn sự trường tồn của Phật giáo với sự trường tồn của dân tộc, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã có nhiều việc làm để mở rộng mặt trận đoàn kết, chống lại sự phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo của nhà nước ta, phá hoại, gây chia rẽ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam hòng gây mất trật tự, an ninh và an toàn xã hội. Trong những năm gần đây, trước xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đăng cai và tổ chức thành công nhiều sự kiện Phật giáo quốc tế quan trọng như Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Đại lễ Vesak) năm 2008; Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới năm 2009, đồng thời cử nhiều đoàn đại diện Phật giáo tham dự các diễn đàn Phật giáo quốc tế, tổ chức các đoàn Phật giáo đến với người Việt ở nước ngoài... để tranh thủ sự ủng hộ của giới Phật giáo chân chính trên toàn thế giới, góp phần tuyên truyền về đất nước Việt Nam, con người Việt Nam và Phật giáo Việt Nam yêu chuộng hòa bình, sẵn sàng làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới, đập tan những âm mưu lợi dụng Phật giáo để gây chia rẽ, mất đoàn kết, phá hoại sự nghiệp xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng của nhân dân ta.

Nhìn lại chặng đường 30 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực hiện phương châm hành đạo Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội, với sự quan tâm, tạo điều kiện của nhà nước và các cấp chính quyền bằng những chủ trương, chính sách đúng đắn đối với tôn giáo nói chung, cũng như đối với Giáo hội Phật giáo nói riêng, chúng ta có thể tin tưởng rằng Giáo hội Phật giáo sẽ tiếp tục có những bước tiến vượt bậc, xây dựng Giáo hội vững mạnh, xứng đáng là tổ chức đại diện cho Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước, tiếp tục có những việc làm ích đạo, lợi đời, thể hiện truyền thống gắn bó, đồng hành cùng dân tộc suốt 2000 năm của Phật giáo Việt Nam, góp phần cùng xây dựng đất nước Việt Nam ngày một phồn thịnh, vững mạnh, văn minh, đem lại hòa bình, ấm no và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Đó cũng chính là thành quả cao nhất để ghi nhận chặng đường 30 năm phấn đấu và trưởng thành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam./.

Nguyễn Phúc Nguyên

Vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ

 


[1] Kỷ yếu Đại hội kỳ II, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trang 20

[2] Kỷ yếu Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam, trang 4

[3] Kỷ yếu Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam, trang 18

[4] Theo báo cáo tại Đại hội đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam lần thứ VI, nhiệm kỳ 2007 - 2012, Giáo hội có 44.498 tăng ni và 14.777 cơ sở thờ tự. Tại nhiệm kỳ này, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã sửa đổi Hiến chương, sửa đổi số lượng thành viên HĐCM, HĐTS, bổ sung phần Đạo kỳ, Đạo ca và thêm quy định về Ban Đại diện Phật giáo cấp quận, huyện…

[5] Theo thống kê, hiện nay có khoảng 700 tăng ni sinh của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang theo học tại các quốc gia có trường đào tạo Phật học.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam 30 năm thực hiện đường hướng: Đạo pháp –Dân tộc- Chủ nghĩa xã hộiNăm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, thể hiện ý chí và nguyện vọng của tăng ni, Phật tử cả nước về một ngôi nhà chung. Trong đường hướng hành đạo của mình, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò, vị trí của Phật giáo và dân tộc,
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Lễ thành hôn tại ngôi chùa ở Việt Nam lịch sử và hiện tại
Một số nét tương đồng giữa các tôn giáo lớn trên thế giới
Giáo hội Phật giáo Việt Nam phản bác các luận điệu xuyên tạc thực tế nhân quyền và tôn giáo ở Việt Nam
Giữ gìn bản sắc chơn truyền trong pháp tu tuyển độ của nền Đại đạo
Vài nét về Phật giáo Việt Nam trước ngày thành lập Giáo hội Phật giáo
Những ảnh hưởng của Phật giáo với Văn hóa dân tộc
Chấn hưng Phật giáo – đòn bẩy cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo Việt Nam với tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc
Tìm hiểu về vạ tuyệt thông của Giáo hội Công giáo
Sự kiện thống nhất Phật giáo Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành và phát triển có ý nghĩa to lớn
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hình ảnh khai mạc Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XVII
Hàng chục ngàn người tham dự Lễ hội dừa Bến Tre 2019
Tái hiện Nghi lễ “Lẩu Then” của đồng bào dân tộc Tày
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn