Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 17/09/2019 03:11 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Phật giáo Việt Nam với tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc

Phật giáo đến với dân tộc Việt Nam từ rất sớm. Trải qua quá trình thăng trầm cùng với sự thăng trầm của lịch sử dân tộc, qua quá trình Việt hoá, Phật giáo đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong di sản văn hoá Việt Nam. Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Từ những kỷ nguyên đầu tiên, Phật giáo đã đem đến cho người dân Việt niềm tin, niềm hy vọng vào cuộc sống và động lực đấu tranh cho độc lập, tự chủ của dân tộc. Khi dân tộc Việt Nam còn chịu sự thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc, triết lý sống của nhà Phật đã phần nào củng cố thêm tinh thần dân tộc, ý thức độc lập dân tộc của người Việt. Tư tưởng Phật giáo đã được nhà lý luận Mâu Bác sử dụng để chống lại sự nô dịch tinh thần của tư tưởng Đại Hán và được Sĩ Nhiếp - người cai trị Giao Châu lúc đương thời sử dụng làm ngọn cờ tư tưởng tập hợp, đoàn kết dân chúng xây dựng một chính quyền vững mạnh.

Thời kỳ đầu các quốc gia độc lập, khi nhà nước phong kiến còn non trẻ đang dần tự củng cố, Phật giáo với sự phát triển của mình đã đáp ứng nhu cầu là chỗ dựa tinh thần, là công cụ để giai cấp cầm quyền xây dựng và quản lý đất nước. Từ một tôn giáo xuất thế, khi vào Việt Nam, qua sự tiếp biến văn hoá của người Việt, Phật giáo đã trở thành một tôn giáo có tinh thần nhập thế. Trong các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh đều được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những công việc quan trọng của quốc gia. Thiền sư Ngô Chân Lưu đã được Vua Đinh Tiên Hoàng phong là Khuông Việt Đại Sư. Danh hiệu Khuông Việt Đại Sư đã nói lên tầm quan trọng những đóng góp của ông cho đất nước. Thời Tiền Lê, các thiền sư Vạn Hạnh, sư Đỗ Pháp Thuận, sư Khuông Việt cũng được mời tham gia triều chính. Thiền sư Pháp Thuận và Thiền sư Khuông Việt đã từng được vua Lê Đại Hành cử làm người ứng đối và đón tiếp sứ thần ngoại giao. Hai ông cũng thường được vua Lê Đại Hành mời vào triều để hỏi về vận mệnh đất nước. Thiền sư Vạn Hạnh cũng là người đã có công rất lớn giúp vua Lê Đại Hành củng cố đất nước, nhưng đứng trước sự suy tàn của triều Lê và vận mệnh của quốc gia, dân tộc, ông đã không ngần ngại ủng hộ cho Lý Công Uẩn lên ngôi, lập nên triều đại nhà Lý. Thời nhà Trần các thiền sư Đa Bảo, thiền sư Viên Thông… cũng được các vua tin dùng, tham vấn ý kiến trong khi quyết định quốc sự.

Sử sách đã ghi lại rằng, các thiền sư tuy là người xuất gia tu hành nhưng lúc nào họ cũng trăn trở với vận mệnh quốc gia dân tộc. Tăng phó Nguyễn Thường khi thấy vua Lý Cao Tông mải mê rong chơi, hát xướng vô độ, xa rời việc nước đã than phiền, khuyên can rằng: “Tôi nghe bài tựa Kinh Thi nói: âm nhạc làm loạn nước thì nghe như oán, như giận. Nay dân loạn, nước khốn, chúa thượng thì rong chơi vô độ. Triều đình rối loạn, dân tâm ly tán. Đó là triệu chứng mất nước”(1). Thiền sư Viên Thông thì ân cần chỉ giáo cho vua Thần Tông rằng: “Thiên hạ cũng như bất cứ cái gì, hễ đặt nó vào chỗ an thì an, đặt nó vào chỗ nguy thì nguy. Điều này trông vào hành động của bậc nhân chủ (Vua). Nếu đức tôn trọng sự sống của vua mà hợp với lòng dân khiến cho dân yêu, dân mến vua như cha như mẹ, ngưỡng mộ vua như mặt trời, mặt trăng, như thế là đặt thiên hạ vào đúng chỗ an đó. Trị và loạn cũng ở sự dùng người… bậc vua chúa không hưng hay vong đột ngột mà hưng hay vong từ từ tuỳ theo tích cách thiện hay ác của họ”(2). Vua Trần Thái Tông vì chán thế sự muốn bỏ ngai vàng vào núi tu Phật, quần thần can gián nhưng vua nhất định không nghe. Quốc sư Trúc Lâm đã nói với vua rằng: trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta và Phàm là đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và tâm thiên hạ làm tâm của mình. Vua nghe ra và trở về lên lại ngôi báu…. 

Có thể nói, thời kỳ này, các thiền sư tham dự rất tích cực vào việc củng cố, xây dựng đất nước, nêu cao tinh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường. Nếu như thời gian đầu khi mới lập quốc, các thiền sư là người đã mở những cuộc vận động rất lớn để gây ý thức quốc gia thì đến thời Lý- Trần ý hướng xây dựng một nhà nước độc lập trên mọi phương diện của các thiền sư đã được thể hiện rõ rệt. Chính các thiền sư là người đã có công rất lớn trong việc rời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Những đóng góp của các thiền sư trên các phương diện học thuật, văn hoá, mỹ thuật, giáo dục, y học… cũng là những đóng góp quan trọng nhất thời đại. Các thiền sư lẽ ra chỉ lo thuyết pháp, giảng đạo thì họ lại đứng ra giúp triều đình làm chính trị, tham dự vào công việc ngoại giao, hành chính và mọi công việc khác có thể nhằm củng cố, xây dựng nước nhà. Có thể nói, Phật giáo không phải là một học thuyết chính trị - xã hội, trong nó không có chủ nghĩa yêu nước, nhưng khi vào Việt Nam, Phật giáo đã được người Việt “thổi” vào trong nó tinh thần yêu nước, làm cho nó từ một tôn giáo xuất thế trở thành một giáo nhập thế tích cực. Phật giáo đã góp phần xây dựng triều đại nhà Lý- triều đại thuần từ, thịnh trị nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam, đã góp phần quan trọng củng cố nhân tâm, đoàn kết cộng đồng, góp phần làm nên hào khí Đông A sáng chói thời Trần.

Sau thời đại Lý- Trần, Phật giáo mất dần vai trò là hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội. Nó rời xa cung đình, lui dần về chốn thôn quê, đi vào cuộc sống của nông dân trong các làng xã. Mặc dù không còn giữ vai trò là hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội, nhưng Phật giáo là chỗ dựa về mặt tinh thần cho một bộ phận chính quyền phong kiến Việt Nam, là yếu tố an dân và củng cố cộng đồng.

Đến thời Pháp thuộc, mặc dù Phật giáo bị phân hoá rõ rệt nhưng những phật tử giác ngộ đã vận dụng tích cực giáo lý nhà Phật vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Sư Thiện Chiếu đã viết đôi câu đối treo trước cửa chùa nơi ông thụ giáo rằng: “Phật giáo là nhập thế chứ không phải yếm thế; Từ bi là sát sinh để cứu độ chúng sinh”(4). Ông đã khảng khái trả lời khi thực dân Pháp chất vấn, ai xui thày chùa đi biểu tình rằng: “Thuyết từ bi cứu khổ của nhà Phật xui phật tử tham gia những cuộc yêu nước thương dân chứ không ái xui cả”(5). Nhiều tổ chức cách mạng của Phật giáo đã ra đời như: Tăng già cứu quốc, Phật giáo cứu quốc. Nhiều sư tăng đã cởi áo cà sa khoá chiến bào ra mặt trận. Nhiều thanh niên phật tử đã tham gia tích cực vào các phong trào xoá mù chữ, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Nhiều cuộc khởi nghĩa chống chính quyền thực dân, phong kiến do các phật tử yêu nước phát động đã được đông đảo nhân dân ủng hộ. Tư tưởng yêu nước cùng với các cuộc khởi nghĩa do các nhà sư lãnh đạo đã góp phần duy trì phong trào yêu nước của dân tộc. Bên cạnh các nhà sư, các thanh niên phật tử trực tiếp tham gia cách mạng, còn phải kể đến những đóng góp không nhỏ từ các ngôi chùa. Rất nhiều ngôi chùa rợp bóng từ bi của nhà Phật đã trở thành nơi cất giấu vũ khí, tài liệu, nơi che trở, nuôi dưỡng các chiến sĩ cách mạng.

 

Thời kỳ đấu tranh chống Mỹ, các phật tử yêu nước đã nhận thức đúng đắn cuộc đấu tranh tư tưởng chính là phản ánh cuộc đấu tranh về chính trị. Họ đã thật sự đặt mình trở thành một bộ phận của phong trào cách mạng. Các tăng sĩ và cư sĩ miền Nam đã tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh đòi hòa bình, độc lập cho dân tộc. Những cuộc đối thoại chính trị giữa các tăng sĩ Phật giáo và chính quyền Sài Gòn cùng ngọn lửa tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức đã mở đầu cho cao trào đấu tranh của đồng bào Phật giáo miền Nam những năm 60 của thế kỷ XX. Phong trào cách mạng của đồng bào Phật giáo đã góp phần quan trọng làm sụp đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

 

Sau Đại hội thống nhất Phật giáo năm 1981, các hệ phái Phật giáo Việt Nam được sinh hoạt trong một ngôi nhà chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tiếp nối truyền thống đồng hành cùng dân tộc đã có trong lịch sử, Giáo hội Phật giáo đã xây dựng cho mình phương châm hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc, đó là: Đạo pháp - dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”.

 

Ngày nay, đại đa số chức sắc, nhà tu hành và tín đồ Phật giáo trên khắp các vùng, miền cả nước đã và đang tích cực thực hiện lời răn ân quê hương đất nước trong Tứ ân của nhà Phật. Nhiều chức sắc, nhà tu hành và tín đồ Phật giáo đã tham gia tích cực vào các hoạt động của hệ thống chính trị. Nhiều người trong số họ là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong nhiều khoá. Các phong trào thi đua yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo cũng đã và đang được đông đảo chức sắc, nhà tu hành và tín đồ Phật giáo thực hiện một cách sáng tạo ở nhiều địa phương trên cả nước. Nhiều chùa đã tạo thêm thu nhập qua việc sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, may mặc, đan lát, làm đồ chay, làm hương, nến, trồng cây ăn trái, hoặc trồng rừng theo quy mô nhỏ, đặc biệt có chùa đã thành lập công ty để thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh. Nhiều tín đồ Phật giáo thấm nhuần thuyết “vô thường”, “vô ngã” và “lý duyên khởi” đã nhanh chóng bắt nhịp với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất và tổ chức cuộc sống, làm giàu cho bản thân, gia đình và cho đất nước. Điều răn không tham của nhà Phật được chức sắc, nhà tu hành và các phật tử tiến bộ hiện nay hiểu và vận dụng theo ý nghĩa rất tích cực đó là, cần làm giàu để có điều kiện giúp đỡ, bố thí cho người khác. Chính vì vậy, ở khắp các vùng, miền trên đất nước ta hiện nay đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nhân thành đạt là tín đồ Phật giáo. Nhiều quỹ học bổng dành cho học sinh nghèo hiếu học được các phật tử tổ chức ở nhiều nơi. Nhiều sư sãi tham gia nhiệt tình vào sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo của Nhà nước. Nhiều lớp học tình thương, lớp dạy nghề cho các đối tượng thiệt thòi trong xã hội do các nhà tu hành Phật giáo tổ chức được duy trì thường xuyên, đều đặn ở các địa phương trên cả nước. Nhiều chức sắc, nhà tu hành Phật giáo đã vận dụng linh hoạt những điều răn trong giáo lý, giáo luật của mình để cùng Đảng, Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội đang nảy sinh (Nhiều sư sãi đã tham gia tích cực vào chương trình dân số, kế hoạch hoá gia đình của Nhà nước; nhiều chùa nhận tổ chức cai nghiện miễn phí, sau cai nghiện các sư còn thường xuyên thăm hỏi, động viên và tìm kiếm việc làm để đối tượng tái hoà nhập với cộng đồng; nhiều sư tổ chức các khoá tu ngắn ngày với các bài thuyết giảng về đạo đức bổ ích cho thanh, thiếu niên trong các dịp hè; có sư thì tích cực đưa những bài giảng đạo đức của nhà Phật vào trong các trại giam...)

 

Bên cạnh đó, những năm qua, chức sắc, nhà tu hành và đông đảo tín đồ Phật giáo còn tham gia tích cực vào các hoạt động từ thiện xã hội. Hàng năm, tăng, ni và đồng bào tín đồ Phật giáo đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng chung tay cùng Đảng, Nhà nước xoa dịu những cảnh đời bất hạnh. Hiện nay, trên cả nước, Phật giáo có 126 tuệ tĩnh đường và hàng trăm phòng thuốc chuẩn trị y học dân tộc đã và đang hoạt động có hiệu quả; có trên 1.000 lớp học tình thương, 36 cơ sở nuôi dạy trẻ mẫu giáo, trẻ mồ côi, khuyết tật với trên 2.000 em và hơn 20 cơ sở dưỡng lão hiện đang nuôi dưỡng trên 1.000 cụ già neo đơn không nơi nương tựa. Ở một số địa phương, Ban Trị sự Phật giáo còn mở các lớp dạy nghề miễn phí cho các đối tượng thiệt thòi trong xã hội, mở các văn phòng tư vấn, chăm sóc người nhiễm HIV/AID. Trong vòng 5 năm (từ năm 2002-2007), tăng, ni và đồng bào tín đồ Phật giáo đã đóng góp cho các hoạt động từ thiện nhân đạo với số tiền khoảng trên 400 tỷ đồng(6).

 

Có thể nói, chức sắc, nhà tu hành và đông đảo đồng bào tín đồ Phật giáo đã và đang biến tình yêu quê hương đất nước thành hành động thực tế ngay trên quê hương mình. Phương châm: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội đã và đang được thực tế chứng minh là phương châm hành đạo tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc và thời đại.

 

Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong Phật giáo Việt Nam hiện vẫn còn tồn tại một số biểu hiện có xu hướng đi ngược lại lợi ích dân tộc. Một số chức sắc, nhà tu hành và tín đồ Phật giáo vì lợi ích vị kỷ đã chạy theo tham vọng cá nhân, xa rời phẩm hạnh tu hành tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho Phật giáo Việt Nam hiện nay là cần phải xây dựng được một tổ chức Giáo hội vững mạnh, đủ tầm lãnh đạo Phật giáo theo hướng đồng hành cùng dân tộc. Chức sắc, nhà tu hành và đông đảo đồng bào tín đồ Phật giáo cần quán triệt thực hiện tốt phương châm hành đạo đã được thừa nhận trong Hiến chương; cần nêu cao ý thức công dân, tăng cường đồng thuận xã hội, đặt lợi ích dân tộc trên lợi ích tôn giáo để Phật giáo có thể thích ứng và tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.

 

TS. Hoàng Thị Lan

 

1,2. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 2 Nxb Văn học 1994, tr 216.

3. “Trích theo Đạo Phật và Dân tộc”, Tạp chí Giác ngộ số 105 ngày 1-5-1995.

4,5. Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb KHXH, HN 1998.

6. Báo cáo Tổng kết công tác Phật sự nhiệm kỳ V (2002- 2007) và chương trình hoạt động Phật sự nhiệm kỳ VI (2007- 2012) của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Phật giáo Việt Nam với tinh thần yêu nước và tự hào dân tộcTừ những kỷ nguyên đầu tiên, Phật giáo đã đem đến cho người dân Việt niềm tin, niềm hy vọng vào cuộc sống và động lực đấu tranh cho độc lập, tự chủ của dân tộc. Khi dân tộc Việt Nam còn chịu sự thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc, triết lý sống
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tìm hiểu về vạ tuyệt thông của Giáo hội Công giáo
Sự kiện thống nhất Phật giáo Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành và phát triển có ý nghĩa to lớn
Giới thiệu tóm tắt về các kỳ Đại hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Việc biện giải những hiểu lầm về Phật giáo ở Hội Phật giáo Bắc Kỳ
Một số hình thức tôn giáo nguyên thủy phổ biến trong lịch sử và dấu ấn của nó trong tôn giáo hiện đại
Đoàn kết tôn giáo để thực hiện sự nghiệp xây dựng đất nước
Bước đầu tìm hiểu về sự ra đời và phát triển dòng tu đạo Công giáo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc
Lối sống của người Công giáo Việt Nam: Quá trình từ theo đạo, giữ đạo đến sống đạo
Hòa thượng Thích Trí Hải và quá trình vận động chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc giai đoạn 1924-1934
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn