Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 24/09/2018 08:29 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2018
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2018
Từ điển thuật ngữ và điển tích Tam Giáo
Ra mắt tập sách ảnh “Chùa Việt Nam nơi gửi gắm lòng tin”
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Đoàn kết tôn giáo để thực hiện sự nghiệp xây dựng đất nước

Việt Nam là đất nước nằm giữa hai lục địa với hai nền văn minh lớn là Trung Quốc và Ấn Độ nên chịu ảnh hưởng khá sâu sắc bởi tôn giáo và tư tưởng xã hội của hai nền văn minh đó.

Xét về địa chính trị Việt Nam ở vào khu vực rất nhạy cảm, luôn là nỗi thèm khát của các cường quốc có ý đồ xâm lược. Xét ở khía cạnh địa kinh tế, văn hoá. Việt nam ở vào khu vực địa lý thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán, thông thương trao đổi,... đó là cơ hội cho tôn giáo được truyền bá vào Việt Nam theo con đường truyền giáo tự nhiên như đạo Phật, nhưng đồng thời cũng là cơ hội để một số tôn giáo khác có điều kiện truyền giáo, sau đó dẫn dắt các thế lực xâm lược theo sau.

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam bị đế quốc xâm lược vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do khủng hoảng lòng tin, do nhu cầu tôn giáo và nhiều nhu cầu khác, ngoài các tôn giáo đến từ nước ngoài, trong nước cũng sinh ra một số tôn giáo. Sự xuất hiện của nhiều tôn giáo phản ánh một xã hội đương thời phức tạp. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã thắng lợi, giang sơn thu về một mối, Bắc Nam sum họp một nhà, công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội được tiến hành trong sự đoàn kết thống nhất của nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong nhiều vấn đề phải giải quyết có vấn đề con người, vấn đề tôn giáo. Chúng ta phải chấp nhận tồn tại và hoạt động của nhiều tôn giáo đã có trước ngày giải phóng miền Nam 1975, chấp nhận lịch sử của các tôn giáo, thông qua đó có những chủ trương hợp lý trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa các tôn giáo, đảm bảo sự đoàn kết cùng nhau vì mục tiêu chung xây dựng đời hạnh phúc và đạo tốt đẹp.

 

Tôn giáo không chỉ thuần tuý là tập hợp của một bộ phận quần chúng có tín ngưỡng tâm linh, có niềm tin vào các đấng siêu nhiên mà mỗi một tôn giáo còn là một lực lượng quần chúng có đức tin và sự cố kết chặt chẽ vì niềm tin và tổ chức tôn giáo riêng của họ. Trong xã hội có nhiều tôn giáo, do tính dị biệt của các tôn giáo dẫn tới sự thiếu hoà đồng giữa các tôn giáo là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, để ổn định và phát triển đất nước có nhiều tôn giáo như nước ta hiện nay, việc đoàn kết các tôn giáo là một trong những vấn đề luôn được quan tâm. Đại đoàn kết dân tộc (trong đó có đoàn kết tôn giáo) trong một đất nước như nước ta là việc làm có ý nghĩa quyết định để bảo vệ và xây dựng đất nước, là bài học quý báu mà ông cha ta đã tổng kết trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Để thấy rõ tính phức tạp của các tôn giáo và giá trị của việc đoàn kết tôn giáo đối với dân tộc Việt Nam, chúng ta điểm qua về lịch sử của các tôn giáo có mặt ở Việt Nam. Hiểu về từng tôn giáo để có ứng xử phù hợp và hiệu quả.

 

Hiện tại nước ta có 13 tôn giáo với 33 tổ chức đã được công nhận tư cách pháp nhân, hoạt động hợp pháp dưới sự bảo hộ của pháp luật, trong đó có 6 tôn giáo ngoại nhập và 6 tôn giáo nội sinh. Các tôn giáo ngoại nhập xếp theo thời gian tới Việt Nam gồm:

 

         Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên, là tôn giáo tiến bộ, không duy tâm, chủ trương bình đẳng con người, giải thoát con người khỏi khổ đau thông qua việc con người phải tu học, nâng cao nhận thức về chính mình và thế giới, dần dứt bỏ tiến tới đoạn tuyệt tham lam, ngu dốt, sân hận để thực hiện cuộc sống trong sự ôn hoà, đoàn kết, tương trợ nhau để cùng đạt tới hạnh phúc, an lạc. Triết lý đó của Phật giáo tương đồng với tư tưởng của nhân loại tiến bộ là hoà bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển, bởi vậy vào ngày 15/12/1999, Đại Hội Đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã Nghị quyết lấy ngày Tam hợp Đức Phật - Ngày sinh, ngày thành đạo, ngày mất của Đức Phật, nhằm ngày trăng tròn tháng Vesak, là ngày văn hoá tôn giáo thế giới để đề cao tư tưởng tiến bộ của Phật giáo (còn gọi là Đại lễ Vesak). Hàng năm Đại lễ Vesak được tổ chức tại trụ sở LHQ và các trung tâm của LHQ tại các khu vực. Triết lý Phật giáo là từ bi và trí tuệ, không gây chiến tranh, tuy nhiên Phật giáo là tôn giáo không có tổ chức chặt chẽ, không có giáo quyền theo nghĩa thông thường. Phật giáo hiện có khoảng 500 triệu tín đồ, có mặt ở trên 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Phật giáo tới Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Hiện nay Phật giáo ở Việt nam có trên 10 triệu tín đồ, gần 17 ngàn ngôi chùa, 45 ngàn nhà sư. Phật giáo được đánh giá là tôn giáo yêu nước đồng hành cùng dân tộc. Trước giải phóng 1975, tuyệt đại đa số chức sắc tín đồ Phật giáo gắn bó với dân tộc, tích cực tham gia phong trào yêu nước, song có một bộ phận bị các thế lực xấu lợi dụng, mua chuộc đi theo chống phá sự nghiệp thống nhất đất nước. Sau giải phóng một bộ phận nhỏ do chưa hiểu hoặc do hoàn cảnh còn mặc cảm với chế độ mới, một số ra nước ngoài, một số ít ở lại trong nước chưa hoà nhập được với Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

 

Đạo Công giáo có nguồn gốc từ Ki-tô giáo ra đời ở phía Đông đế quốc La Mã cổ đại vào thế kỷ I Công nguyên, tới thế kỷ XI, Ki-tô giáo phân chi thành hai phái: Công giáo và Chính thống giáo. Hiện nay Công giáo có khoảng 1,2 tỉ tín đồ và có mặt trên 150 quốc gia, nhiều quốc gia lấy Công giáo làm quốc đạo. Công giáo có tổ chức chặt chẽ, có giáo quyền, đứng đầu là Giáo hoàng ở Rôma và đó cũng là người đứng đầu Giáo triều Rôma chi phối hoạt động của tín đồ Công giáo trên thế giới. Đạo Công giáo vào Việt Nam từ năm 1533 do các giáo sĩ phương Tây truyền vào. Công giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ xếp thứ hai ở Việt Nam (sau Phật giáo), hiện nay với gần 6 triệu tín đồ, 01 Hồng y, 43 Giám mục, 3.462 linh mục cai quản 3.100 giáo xứ. Công giáo ở Việt Nam thực hiện phương châm “kính chúa yêu nước”, tuyệt đại đa số chức sắc, tín đồ là công dân tốt thực hiện sống “tốt đời đẹp đạo” . Tuy nhiên do lịch sử để lại, Công giáo ở Việt Nam có liên quan với cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, một bộ phận giáo sĩ và tín đồ bị các thế lực phản động lợi dụng để chống lại sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, chống lại tiến trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 

Đạo Hồi  ra đời ở Ả - rập vào đầu thế kỷ thứ VII, hiện nay với khoảng trên 1,3 tỉ tín đồ, có mặt ở gần một trăm quốc gia trên thế giới, trong đó có khoảng 30 quốc gia Hồi giáo là quốc đạo. Hồi giáo truyền vào khu vực Đông Nam Á thế kỷ thứ XI, XII, theo các nhà buôn, theo con đường hoà bình, khác với thời kỳ thánh chiến trước đó. Đông Nam Á là một trong những khu vực Hồi giáo phát triển, ước tính hơn 60% dân số các quốc gia khu vực này theo Hồi giáo. Việt Nam tỉ lệ người theo Hồi giáo không nhiều, chỉ có người Chăm theo Hồi giáo, hiện có 04 tổ chức, với số lượng gần 70 ngàn tín đồ chủ yếu ở: Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai. Hồi giáo ở Việt Nam là tôn giáo hòa nhập với xã hội, trong thời gian gần đây mới có giao lưu với Hồi giáo trong khu vực và quốc tế.

 

Đạo Tin lành tách ra từ Công giáo vào đầu thế kỷ XVI. Đạo Tin lành ra đời khẳng định sự khủng hoảng của Công giáo, nó chống lại quyền lực của Giáo hoàng và quyền lực của Giáo triều, nó đề cao tự do cá nhân, đề cao dân chủ, chống lại thần quyền, thần tính. Tin lành có mối quan hệ quốc tế khá rộng rãi và chặt chẽ. Hiện nay Tin lành có hơn 500 triệu tín đồ ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tin lành vào Việt nam vào cuối thế kỷ XIX (tháng 6/2011 Hội thánh Tin lành tổ chức kỷ niệm 100 ngày Tin lành đến Việt Nam). Trước năm 1975, ở miền Bắc Tin lành có vài ngàn tín đồ với 20 mục sư, miền Nam hơn 200 ngàn tín đồ với 500 mục sư. Tới năm 2009 Việt nam có 9 tổ chức Tin lành được công nhận tư cách pháp nhân với trên 980 ngàn tín đồ với 749 chức sắc. Xuất phát Tin lành là sản phẩm của xã hội công nghiệp phát triển nhưng hiện tại Tin lành đang rất tích cực phát triển ở vùng sâu, miền núi của Việt Nam.

 

Đạo Minh Sư (Còn gọi là Giáo hội Phật đường Nam tông Minh sư đạo Việt Nam) là tôn giáo thờ đa thần, có nguồn gốc từ Trung Quốc, truyền vào Việt Nam từ năm 1863, hoạt động theo tôn chỉ “Từ bi- Giác ngộ- giải thoát” hiệp nhất tinh hoa của ba tôn giáo lớn Nho- Phật- Lão. Hiện Minh Sư đạo có khoảng một vạn tín đồ hoạt động ở 18 tỉnh, thành phố với 52 Phật đường. lấy Phật đường tại số 17 Trần Quang Khải, thành phố Hồ Chí Minh làm trụ sở.

 

Đạo Baha’i  là tôn giáo nhất thần thờ Thượng đế, ra đời năm 1863 tại Ba Tư (nay là I-ran), chủ trương của đạo Baha’i là xoá bỏ hận thù mâu thuẫn, xây dựng sự cảm thông và hợp tác, xoá bỏ đói nghèo và sự tích lỹ quá mức. Năm 2010 Baha’i giáo đã có trên 7 triệu tín đồ ở 235 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 1948 cộng đồng Baha’i quốc tế đã được Liên hợp quốc chấp nhận là một tổ chức phi chính phủ. Năm 1970 được hưởng cương vị tư vấn tại Hội đồng kinh tế- xã hội LHQ. Baha’i giáo được truyền vào Việt Nam từ năm 1954 tại Sài Gòn, tới nay có mặt ở 45 tỉnh, thành phố với số lượng khoảng bảy ngàn (7.000) tín đồ. Cộng đồng Baha’i Việt Nam có quan hệ mật thiết với cộng đồng Baha’i quốc tế.

 

Sáu tôn giáo nội sinh xếp theo thời gian ra đời bao gồm:

 

 Đạo Bửu Sơn kỳ hương ra đời năm 1849 tại Tây An cổ tự, Chợ Mới, An Giang, thực hành theo phương châm “Học Phật- tu nhân” để báo đáp tứ trọng ân (ân Trời, ân Vua, ân Cha Mẹ, ân Thầy dạy), sau này được cải biến là: Ân Tổ tiên Cha Mẹ, ân Đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào nhân loại. hiện nay Bửu Sơn kỳ hương có khoảng 15 ngàn tín đồ, 90 vị chức sắc, 19 cơ sở thờ tự chủ yếu ở tỉnh An Giang.

 

 Đạo Tứ ân hiếu nghĩa ra đời tháng 5/1867 tại Cù lao Ba, An Phú, An Giang. Tôn chỉ là “Tu nhân-học Phật” thực hiện “Tứ đại trọng ân”, lấy báo hiếu làm đầu, không thừa nhận ly gia cắt ái, không đặt ra giới luật khắt khe và không phân biệt, kiêng kỵ khác nhau giữa chức sắc và tín đồ. Hiện Tứ ân hiếu nghĩa có 70 ngàn tín đồ, 399 chức sắc chức việc, 78 cơ sở thờ tự ở 12 tỉnh, thành phố.

 

Đạo Minh Lý (còn gọi là Minh lý đạo- tam tông miếu) ra đời năm 1924 tại miền Nam. Giáo lý là sự kết hợp tinh hoa của đạo Phật -Nho- Lão để hướng dẫn tín đồ tu hành, tự độ, vị tha, xây dựng xã hội hoà bình an lạc. hiện Đạo có trên 1.000 tín đồ, 4 cơ sở thờ tự sinh hoạt ở thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bà Rịa -Vũng Tàu.

Đạo Cao đài ra đời 15/10/1926 (AL) tại Tây Ninh. Tôn chỉ của đạo Cao đài là “Tam giáo quy nguyên, ngũ chi hiệp nhất”. Tam giáo quy nguyên là thực hiện tôn chỉ của ba tôn giáo, Nho- Phật- Lão là Công bằng-Từ bi-Bác ái. Ngũ chi hiệp nhất là thống nhất năm ngành đạo: Nhân đạo của Khổng Tử, Thần đạo của Khương Tử Nha, Thánh đạo của Jesu, Tiên đạo của Lão Tử, Phật đạo của Thích Ca. Sau thời gian hình thành không lâu đạo Cao đài đã chia tách ra nhiều hệ phái. Hiện tại đạo Cao đài Việt Nam có 9 tổ chức Cao đài với 2,3 triệu tín đồ, 1.209 cơ sở thờ tự.

 

Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam ra đời năm 1934 tại Sa Đéc Đồng Tháp, tôn giáo có nguồn gốc từ Phật giáo, kinh điển giáo lý được lược hoá, thơ hoá cho dễ hiểu, dễ học phù hợp với người dân Nam Bộ lúc bấy giờ. Thực hiện phương châm “ Phước Huệ song tu” Tu phước là làm thuốc Nam để trị bệnh cứu người, Tu huệ là học và hành theo giáo lý của Đức Phật để tự giải thoát khỏi khổ đau. Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt nam là tôn giáo yêu nước, gắn bó với dân tộc. Hiện nay có 1,45 triệu tín đồ, 206 Hội quán cũng là 206 phòng thuốc nam phước thiện ở 21 tỉnh, thành từ Khánh Hoà tới Cà Mau.

 

Phật giáo Hoà Hảo có nguồn gốc giáo lý từ đạo Phật nhưng được lược hoá, địa phương hoá cho phù hợp với trình độ lối sống của người dân địa phương. Phật giáo Hoà Hảo ra đời ngày 18/5 năm Kỷ Mão tức ngày 04/7/1939 tại làng Hoà hảo, Tân Phú, An Giang. từ tên gọi đã nói lên khát vọng của sự hoà hợp, hoà hiếu cùng nhau làm ăn sinh sống. Đại đa số chức sắc, tín đồ Hòa hảo là người mộ đạo, là công dân tốt. Tuy nhiên trong quá trình phát triển, dưới thời Mỹ, Ngụy một bộ phận tín đồ chức sắc trong tôn giáo này bị các thế lực xấu lợi dụng làm một số việc trái đạo. Hiện nay đạo Hoà Hảo có trên 1,2 triệu tín đồ với 39 cơ sở thờ tự.

 

Sự khác biệt từ nguồn gốc, cơ sở đức tin cho tới lịch sử quá trình tồn tại và phát triển,... đã nói lên tính đa dạng và phức tạp trong cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam. Trước thực tế ấy trong thực tiễn cách mạng và lịch sử đã ghi nhận nhiều bài học kinh nghiệm về đòan kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc để bảo vệ và xây dựng đất nước. Từ thời đầu xây dựng nền độc lập cho quốc gia Đại Việt vua Đinh Tiên Hoàng đã biết sử dụng Phật giáo không chỉ ở khía cạnh trí tuệ mà còn ở khía cạnh cố kết nhân tâm, để mọi người cùng đoàn kết chống giặc, giúp nước. Vua đã phong cho Thiền sư Ngô Chân Lưu làm Tăng thống, chức đứng đầu các sư cả nước, sau lại phong là Khuông Việt Đại sư nghĩa là bậc Đại sư Khuông phò nước Việt nhằm tôn vinh khích lệ sự cống hiến cho đất nước. Thời nhà Lý, nhà Trần Phật giáo trở thành Quốc đạo để cố kết nhân tâm và vun bồi trí đức nhờ việc làm đó mà đân tộc ta đã đoàn kết quân dân một lòng đánh tan những đội quân xâm lược mạnh nhất đương thời. Lịch sử Việt Nam thời nào các bậc minh quân cũng khéo biết dùng chính sách đoàn kết. Đặc biệt trong công cuộc cách mạng chống đế quốc phong kiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thì đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc đã trở thành một tư tưởng quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đại đoàn kết dân tộc (bao hàm cả đoàn kết tôn giáo) là nhân tố quyết định thành công của cách mạng. Đã là người Việt Nam, dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, dù theo tôn giáo nào thì đều chung một dân tộc. Tư tưởng đoàn kết của Bác Hồ không chỉ xuất phát từ thực tế của đất nước mà từ kinh nghiệm xương máu trong truyền thống mấy nghìn năm lịch sử của dân tộc, từ tinh hoa văn hoá của nhân loại, từ lý luận học thuyết Mác- Lênin, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Một đất nước ở vào vị trí như nước ta, khi đất nước bị xâm lược thì đoàn kết là sức mạnh chiến thắng kẻ xâm lược, khi đất nước hoà bình đoàn kết là thành luỹ kiên cố bảo vệ dân tộc trước sự đe doạ của kẻ thù. Trong mối quan hệ giữa dân tộc và nhân dân Bác Hồ đã dạy: đất nước có độc lập thì nhân dân mới được tự do. Đối với tôn giáo Bác Hồ cũng đã chỉ rõ: “Nước không được độc lập, thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã” (Báo cứu quốc 14/1/1946).

 

Hiện nay, công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội của nước ta đang đứng trước nhiều thử thách khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu tan rã, các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn chưa từ bỏ âm mưu phá hoại độc lập, tự chủ của Việt Nam. Trào lưu dân chủ hoá và toàn cầu hoá đang tạo cơ hội cho các tôn giáo cũ phục hồi, các tôn giáo mới du nhập và nhiều biến tướng tôn giáo phát sinh. Hoạt động sôi động của các tôn giáo trong và ngoài nước đang được các thế lực xấu chớp cơ hội, thông qua nhiều con đường, lợi dụng chiêu bài tự do tôn giáo và kích động mâu thuẫn tôn giáo để chống phá nước ta. Trước thực tế ấy, đoàn kết tôn giáo trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng, bởi thực tế tôn giáo ở Việt Nam hiện nay vẫn tiềm ẩn không ít những phức tạp. Trước giải phóng mục tiêu độc lập dân tộc, tự do tôn giáo là lý tưởng cho sự đoàn kết các tôn giáo và thực sự các tôn giáo đã đoàn kết để cùng toàn dân thắng giặc ngoại xâm. Sau khi đất nước được độc lập do chính sách cải tạo để xây dựng chủ nghĩa xã hội, do nhiều việc cần phải làm nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh và đặc biệt do sự tác động và chi phối của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội, những hạn chế chưa được thoả mãn của các tôn giáo trở thành những vấn đề xã hội mà thời gian gần đây chúng ta liên tục phải xử lý như hiện tượng Tin lành Đề-ga ở Tây Nguyên, Tin lành ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ; đất đai tôn giáo nhất là đất liên quan tới nhà thờ Công giáo; công nhận chia tách sáp nhập tổ chức tôn giáo...      

 

Không có sự so sánh khó dễ trong đoàn kết tôn giáo giữa các giai đoạn lịch sử, song rõ ràng trong giai đoạn hiện nay đoàn kết tôn giáo đang là vấn đề không hề đơn giản. Khi các thế lực xâm lược xâm chiếm nước ta, mục tiêu độc lập dân tộc trở thành một động lực quan trọng để thực hiện đại đoàn kết toàn dân trong đó có đoàn kết các tôn giáo và dường như ít ai quan tâm tới sự dị biệt giữa các tôn giáo. Sau khi dành được độc lập, bên cạnh nguyên nhân kẻ thù của Chủ nghĩa xã hội khơi dây và kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo nhằm tạo nên sự bất ổn trong nội bộ xã hội ta, một nguyên nhân khác từ chính trong chính sách tôn giáo và công tác tôn giáo của chúng ta cũng còn không ít những khoảng trống để kẻ thù lợi dụng. Sự bất cập ấy được thể hiện qua ứng xử đối với một số tín đồ, chức sắc các tôn giáo, trước đây khi còn chiến tranh việc vận động đoàn kết các tôn giáo được quan tâm, gần gũi, sau chiến tranh việc lạnh nhạt và phân biệt dẫn tới sự phân hoá trong các tôn giáo khác nhau, trước còn chiến tranh thì cán bộ, quân, dân, cùng ăn, cùng ở, cùng chiến đấu, sau chiến tranh không ít người một thời ba cùng đã thấy sự xa lạ giữa tôn giáo và cán bộ. Việc giải quyết đất đai, cơ sở thờ tự được nhà nước trưng dụng phục vụ cho cách mạng, nay không sử dụng, trước đây khi cần thì nhà nước trưng dụng, mượn, khi hết cần nhiều cơ sở bỏ hoang nhưng khi tôn giáo có nhu cầu việc trả lại là điều không dễ đã trở thành vấn đề bức xúc trong một số tôn giáo. Vấn đề quyền sinh hoạt tôn giáo, trước giải phóng nhiều tôn giáo đã hoạt động hợp pháp đối với chính quyền đương thời, nhưng sau giải phóng một số tôn giáo hoạt động gặp trở ngại vì chậm được công nhận tư cách pháp nhân, cơ sở thờ tự của họ xuống cấp, hư hỏng không được trùng tu, sinh hoạt tôn giáo của họ gặp trở ngại. Trong tương quan chung, hiện nay quan hệ giữa tôn giáo với chính quyền khá khăng khít, song một số ít chức sắc, tín đồ của một vài tôn giáo có vấn đề với dân tộc trước đây, họ vẫn mặc cảm vì quá khứ, và một số nơi chính quyền xử sự chưa thiện chí trong tinh thần đoàn kết tôn giáo vì thế còn có nơi quan hệ giữa tôn giáo và chính quyền chưa hoà thuận, tạo thành điểm nóng tôn giáo để các thế lực xấu lợi dụng vu cáo chính sách tôn giáo của Nhà nước ta.

 

Trước thực trạng đó, đoàn kết tôn giáo để thực hiện thành công công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một vấn đề cần được quan tâm. Trên 20 triệu đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo và nhiều chục triệu đồng bào có cảm tình tôn giáo là một lực lượng quần chúng không nhỏ. Để chức sắc, tín đồ các tôn giáo một lòng cùng toàn dân xây dựng đất nước, bài học về đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị: Chức sắc, tín đồ tôn giáo đều là đồng bào, là công dân nước Việt Nam, Lấy tình anh em, tình bạn bè để ứng xử và giải quyết các vấn đề đoàn kết tôn giáo là giải pháp hiệu quả nhất. Để thực hiện được đoàn kết tôn giáo phải tôn trọng nguyên tắc: Cốt lõi công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Phải làm cho quần chúng tôn giáo hiểu về chế độ xã hội mới, hiểu chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, hiểu về những vấn đề xã hội, hiểu về âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để chống phá ta, làm suy yếu ta qua việc gây mất đoàn kết nội bộ của dân tộc...Trong tất cả những việc làm ấy, quan trọng nhất là sự gương mẫu tận tuỵ của người cán bộ, người lãnh đạo phải thực sự làm cho chức sắc, tín đồ các tôn giáo tin tưởng và hiểu rõ cuộc sống của con người chỉ thực sự hạnh phúc, an lạc khi có sự đoàn kết, không có đoàn kết hoà hợp dù có địa vị cao sang, có tiền nhiều của lắm, có đức tin tối thượng thì mầm hoạ bất an vẫn theo suốt bên mình. Người cán bộ, lãnh đạo phải làm cho chức sắc, tín đồ các tôn giáo hiểu rõ hạnh phúc, an lạc từ tín ngưỡng tâm linh của họ không thể trọn vẹn nếu không có xã hội đoàn kết thân ái. Để chức sắc, tín đồ tôn giáo hiểu và chấp nhận đi trên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội cùng chúng ta, chúng ta phải hiểu về tôn giáo và chấp nhận họ. Để các tôn giáo đoàn kết cùng nhau đi trên con đường xây dựng xã hội mới do Đảng lãnh đạo, trước hết chúng ta phải đoàn kết với tôn giáo. Khi chúng ta nhận thức được tôn giáo còn tồn tại lâu dài cùng với tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội thì đoàn kết tôn giáo không chỉ là tạo thành một khối thống nhất mà còn có ý nghĩa vô cùng lớn nhằm khơi dậy và phát huy những giá trị tích cực của mỗi tôn giáo để đóng góp vào công cuộc xây dựng xã hội mới theo mục tiêu mà Đảng và bác Hồ đã lựa chọn đó là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”./.

  

  Bùi Hữu Dược

         Vụ trưởng vụ Phật giáo

         Ban Tôn giáo Chính phủ

Đoàn kết tôn giáo để thực hiện sự nghiệp xây dựng đất nướcXét về địa chính trị Việt Nam ở vào khu vực rất nhạy cảm, luôn là nỗi thèm khát của các cường quốc có ý đồ xâm lược. Xét ở khía cạnh địa kinh tế, văn hoá. Việt nam ở vào khu vực địa lý thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán, thông thương trao đổi,... đó là
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Bước đầu tìm hiểu về sự ra đời và phát triển dòng tu đạo Công giáo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc
Lối sống của người Công giáo Việt Nam: Quá trình từ theo đạo, giữ đạo đến sống đạo
Hòa thượng Thích Trí Hải và quá trình vận động chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc giai đoạn 1924-1934
Nguồn gốc và ý nghĩa chiếc áo cà sa của đạo Phật
Tình hình tôn giáo và những yêu cầu đặt ra với công tác tôn giáo vận
Phật giáo và những ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời Trần
Tổng quan về tình hình nghiên cứu Phật giáo ở Liên bang Nga
Quốc chúa Bồ tát Nguyễn Phúc Chu: Người vận dụng tư tưởng Phật giáo vào việc trị quốc và mở mang bờ cõi
Âm nhạc Công giáo ở Việt Nam trước và sau công đồng Vatican II
Video
Giao lưu văn nghệ nhân kỷ niệm 63 năm Ngày thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ Ngày truyền thống ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo(2/8/1955-2/8/2018)
Hành trình về nguồn đong đầy ý nghĩa
Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trả lời Truyền hình VTC về “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”
Hình ảnh
Chùa Nôm - Ngôi chùa cổ bề thế nhất Hưng Yên
Thánh đường Hồi giáo Đỏ
Kiệt tác nghệ thuật của Phật viện lớn nhất vương quốc Chăm Pa
Audio
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương
Ủy ban Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước vận dụng những kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo của Việt Nam
Một số điểm mới của Luật tín ngưỡng, tôn giáo


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: Ông Dương Ngọc Tấn 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ
Email:  ttttbantongiao@chinhphu.vn