Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 15/10/2019 10:39 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Bước đầu tìm hiểu về sự ra đời và phát triển dòng tu đạo Công giáo

Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của đạo Công giáo chúng ta luôn thấy bóng dáng của các dòng tu với hai vai trò chính: thứ nhất góp phần quan trọng cho các hoạt động truyền giáo của Giáo hội, thứ hai các tu sĩ chính là hình mẫu về nếp sống đạo trong Giáo hội. Với vai trò đó chúng tôi xin được khái quát đôi nét về sự ra đời và phát triển dòng tu đạo Công giáo.

1- Dòng tu từ thời kỳ đầu hình thành đến Cộng đồng Vatican

- Thời kỳ hình thành

Đạo Kitô ra đời vào thế kỷ thứ I ở phía Đông đế quốc La Mã cổ đại, đến thế kỷ thứ IV (năm 313) Hoàng đế Constantino với sắc chỉ Milanô tuyên bố Kitô giáo là quốc đạo của đế quốc La Mã và dòng tu cũng manh nha xuất hiện từ những thế kỷ đầu. Trong số tín đồ đã có người không lập gia đình, đó là sự hiện diện của nam, nữ độc thân trong các cộng đoàn nhỏ; họ không có tài sản, họ không có sắc phục riêng hay cộng đoàn riêng, sống nhờ vào lòng hiếu khách của tín đồ. Họ quan niệm việc sống độc thân "trinh khiết" là một hồng ân "Sự trinh khiết được coi như hồng ân của Chúa ban, đưa con người vào cuộc sống của các thiên thần" (1). Họ vẫn sống giữa lòng xã hội, đi từ cộng đoàn này sang cộng đoàn khác để loan báo Tin Mừng, chuẩn bị cho các tân tòng lãnh nhận bí tích rửa tội, dạy dỗ các thiếu nữ về cách sống đạo, cũng như công tác từ thiện bác ái khác.

Vào thế kỷ thứ III - IV đời tu xuất hiện ngày một rõ nét hơn, đó là những giáo dân ao ước sống trọn lành, thực hiện những bài giảng trên núi với mục đích bắt chước cuộc đời Chúa Giêsu Kitô. Họ rời khỏi đô thị vào sa mạc hoặc lên những vùng sơn cước vào trong hang, trong cốc để trốn tránh thế gian, đi ở ấn. Những người được biết đến đầu tiên là thánh Antôn, Phaolo Tabe... Công việc hàng ngày của họ là: Đọc sách, cầu nguyện, thực hành nhân đức, làm việc thủ công để sinh sống, phạt xác với nhiều hình thức như thức đêm, ngủ ngồi, mỗi người ở một lều riêng và chẳng lệ thuộc vào một thứ kỷ luật tập thể nào. Ngày chủ nhật họ tìm tới nhà thờ để dự lễ và có dịp trao đổi thủ công nghệ và lương thực cần thiết. Hình thức ẩn tu, khổ tu, biệt tu hoặc công tu xuất hiện từ đấy, những vị ẩn tu được gọi là đan sĩ và họ chính là nguồn gốc của các đan viện và hình thức tu kín hay dòng chiêm niệm sau này.

Cùng với thời gian các đan sĩ tập trung lại với nhau thành những nhóm nhỏ và đời tu trở thành một nếp sống được Giáo hội nhìn nhận. Thánh Pacomiô (khoảng 290 - 346) là người thiết lập đan viện đầu tiên tại Tabennisi vào khoảng thế kỷ IV (320), ven bờ sông Nil ở miền Thượng Ai Cập và ông cũng đề ra bản luật đầu tiên mang tên Pacomiô. Gọi là lề luật vì nó ấn định những kỷ luật phải giữ khi đọc sách, làm việc, ăn uống và những lời khuyên về đường tiến đức. Đan viện có tường bao bọc, bên trong có phòng ăn, phòng nghỉ, phòng cầu nguyện chung, nơi làm việc. Đan viện chú trọng đến lời khấn vâng phục, đời sống cộng đồng và không áp dụng cuộc sống khổ hạnh. Đan viện lúc đấy như một gia đình, các đan sĩ phải sống và làm việc tập thể mang lại lợi ích công, chứ không hoạt động mang tính cá nhân. Cùng với việc thành lập các đan viện là các quy định cho đời sống tu trì được xác lập như: lao động tay chân, đọc kinh, phục tùng bề trên, đến cuối thế kỷ thứ IV các quy định được thể hiện cụ thể, rõ ràng với 3 tiêu chí "đức tuân phục, khiết tịnh và khó nghèo" (2), đây cũng là tiêu chuẩn xuyên suốt trong đời sống tu trì của Giáo hội Công giáo cho đến ngày nay mà người đề xướng là Thánh Basiliô (329 - 379). Chính những quy định đó cùng với cuộc sống đạo đức của các nhà tu hành đã nâng cao uy tín và sức hấp dẫn cho các tu viện nói riêng và đức tin đạo Kitô thời đấy nói chung. Mang lại hệ quả là không chỉ có giáo sĩ mà cả những người nông dân chất phát, khiêm tốn, trình độ học vấn thấp, nhiều người còn chưa biết đọc, biết viết cũng tìm đến sa mạc, vùng đất hoang vắng để tu. Do đó ngoài các đan viện được thành lập cho cuộc sống tu trì chung vẫn còn hình thức ẩn tu hoặc bán ẩn tu. Từ Ai cập đời sống đan tu lan sang Palestina, Syria, Tiểu á với nhân vật nổi tiếng là Basilio (… 379), tác giả của một bản luật mà ngày nay vẫn còn lưu giữ ở Giáo hội Đông Phương.

- Dòng tu phát triển sang Châu âu

 

Phong trào đan tu hình thành và phát triển ở phương Đông, nhưng cuối thế kỷ thứ IV đầu thế kỷ thứ V thì lắng xuống và chuyển sang phát triển ở phương Tây, nhờ những người hành hương Thánh địa mang về, cũng như những cuộc giao thương trong lòng đế quốc Roma thời đó. Những người có công nhập khẩu và phát triển đời sống đan tu ở châu Âu là những người như: Giêrônimô, Amrôsiô, Âu Tinh, Giêrônimô, Máctinô... Tại đây nhiều đan viện được thành lập: Đan viện Trèves, Đan viện Aquilea, Đan viện Ligugé, Tours. Bên phương Tây hình thức ẩn tu không thịnh hành mà áp dụng hình thức cộng đồng, các đan sĩ không vào sa mạc hay rừng vắng mà thực hiện lối sống đan tu ngay tại thành thị. Hình thức tu trì cũng không dừng lại ở việc cầu nguyện phạt xác mà bắt đầu mở rộng hoạt động, thể hiện ở 3 dạng:

- Chú trọng vấn đề giáo dục, các đan viện trở thành học viện như đan viện Vivarium ở Calabrio do Cassodor thiết lập (540).

 

 - Chú trọng việc học hỏi Kinh thánh, tuân phục và tiết độ, lối tu này được thịnh hành ở Lerins (quần đảo nhỏ ở Pháp), lúc đó quần đảo này là nơi đào tạo các nhà thần học, giảng thuyết, lãnh đạo giáo hội.

 

 - Chú trọng việc thờ phụng Thiên Chúa và thực hiện đức vâng phục. Lối tu này dựa theo lề luật của Thánh Benedicto (480 - 547) và được áp dụng ở nhiều nơi.

 

Trước đó các quy tắc ở các đan viện phụ thuộc phần lớn vào ý tưởng của viện phụ nên chưa có một lề luật chung, phù hợp cho cuộc sống tu trì. Thánh Biển Đức là người đã thu gom những tinh hoa của các bản luật trước đó (Pacomio, Basilio, Cassiano, Augustion) và dựa vào điều kiện địa lý, tâm lý xã hội của người phương Tây lúc bấy giờ để soạn ra lề luật chung cho cuộc sống tu trì. Ông lên án việc tu hành xác vì sẽ làm mất đi sức khoẻ người tu sĩ; ông cũng đưa ra những quy định cụ thể về: ăn uống, ngủ nghỉ, nơi ở, tu phục và đặc biệt ông quan tâm đến trình độ của tu sĩ "Thánh Biển Đức cũng buộc các tu sĩ phải biết đọc, biết viết, mỗi ngày ít nhất 3 hay 4 giờ đọc sách" (3). Theo ông bên cạnh các đan viện cần có trường học, bệnh viện, quán trọ. Đan viện phải như một gia đình mà trong đó các tu sĩ phải tuân phục người đứng đầu (viện phụ) và ngược lại người đứng đầu quan tâm đến tu sĩ như con cái. Sau một thời gian thử luyện đan sĩ tuyên hứa vĩnh cư (Stabilitas) (có nghĩa là sống suốt đời trong đan viện, chứ không đi lang thang từ dòng này qua dòng khác hay đi ẩn tu); cải hoán (con versatio morum) nghĩa là chấp nhận kỷ luật của đời sống cộng đồng; và vâng phục (obedientia) không chỉ là tuân giữ một bản luật mà vâng lời viện phụ như một nhà dìu dắt trên đường thiêng liêng, sự vâng lời giúp cho tu sĩ bắt chước gương Đức Kitô. Tuy nhiên phải đến thế kỷ IX các đan viện mới dần áp dụng luật Thánh Benedictô, có thể nói ở thời đó "những lề luật của Thánh Biển Đức là những định chế cho giới tu sĩ phương Tây và được Giáo hội đánh giá như một trợ lực do Chúa Quan Phòng dành cho Giáo hội Roma"(4). Bởi vì khi Giáo hội bị man dân xâm lăng chính tu sĩ Biển Đức ở khắp mọi nơi là những người vâng lời Giáo hoàng như là tuân phục các viện phụ, sự trung thành đó đã duy trì truyền thống của Giáo hội và giúp cho hoạt động của Giáo hoàng có hiệu quả hơn.

 

Thế kỷ VI, VII các dòng tu đẩy mạnh hoạt động truyền giáo sang một số nước Đức, Hà Lan và Pháp, tiêu biểu như Thánh Columban, Thánh Gregori. Dòng tu không những trở thành trung tâm đào tạo các nhà giảng thuyết, mà còn là nơi nghiên cứu Thánh khoa, sưu tầm và lưu giữ các tài liệu tôn giáo. Các cộng đoàn con cũng bắt đầu mọc lên ở nhiều nơi và kết quả của công cuộc truyền giáo đó là Kitô giáo có mặt ở khắp Tây Âu.

 

Bên cạnh đó các dòng tu còn tham gia cứu tế, làm từ thiện, mở rộng diện tích trồng trọt, gia tăng sản xuất. Chính nhờ công việc khai hoang mà nhiều dòng tu đã biến những vùng sình lầy hoang vu tại Pháp, Bỉ, Đức thành những cánh đồng phì nhiêu, nhiều thôn ấp trù mật mọc lên xung quanh các dòng. Nhiều đan viện giầu có như Lorsch, Fulda, Corbie ở Pháp, Saint - Gall ở Thuỵ Sĩ, có những bất động sản lớn.

 

- Dòng tu thời kỳ truyền giáo

 

Đến thế kỷ X dòng tu đã hình thành hệ thống, đời sống tu trì trở thành một định chế và ngày càng có nhiều hoạt động hữu ích cho Giáo hội, do đó các công đồng đã đặt dòng tu dưới quyền kiểm soát của Giám mục giáo phận. Cũng từ thế kỷ X Giáo hội tiến hành các cuộc thập tự chinh, mở rộng khu vực truyền giáo sang các nước, thì dòng hành khất và dòng hiệp sĩ ra đời vừa tham gia vào việc quân sự, vừa hoạt động bác ái xã hội, chăm sóc người bị thương, giáo dân hành hương. Một số dòng hành khất tiếp tục ra đời theo đuổi đường lối truyền giáo theo phương pháp thuần tuý thiêng liêng tức là bằng lời giảng và gương sáng.

 

Thời gian này phong trào cải cách dòng tu cũng diễn ra khắp nơi, nhằm khôi phục tinh thần nghèo khó, hãm mình. Thế kỷ X với sự cải tổ của Cluny các đan viện liên kết với nhau thành một đan viện mẹ và đặt dưới sự điều động trực tiếp của Toà thánh, không còn chịu sự kiểm soát của Giám mục, đó cũng chính là nguồn gốc của đặc ân "miễn trừ hay dòng thuộc quyền Toà thánh". Cũng từ đó nhiều vị khi sáng lập dòng đã đích thân xin Toà thánh thành lập hay phê chuẩn, do vậy mà "Trong suốt thời Trung cổ Toà thánh dành quyền thiết lập và phê chuẩn các dòng tu" (5). Sang thế kỷ XI phong trào cải cách tiếp tục diễn ra và đan viện Xitô được thành lập 1089 được coi là trung tâm của phong trào. Thay vì tập trung quyền hành vào nhà mẹ, Xitô chủ trương sự tự trị của mỗi đan viện, các đan viện chỉ liên kết với nhau qua "Hiến chương bác ái" đấy là việc tuân giữ một lề luật chung, qua việc nhóm họp, gặp gỡ các viện phụ hàng năm tại các tổng hội để thảo luận những vấn đề chung.

 

Thế kỷ XVI -XIX Giáo hội mở rộng công cuộc truyền giáo trên phạm vi rộng, một số dòng tu như dòng Tên, dòng Phanxicô và Đa Minh đã đi tiên phong trong hoạt động truyền giáo cho châu Á trong đó có Việt Nam, nên thế kỷ XIX được Giáo hội gọi là "thế kỷ thừa sai", trong đó nổi bật vai trò của các dòng tu. Cũng tại các nước truyền giáo Giám mục giáo phận được phép thành lập dòng tu (dòng giáo phận). Ban đầu dưới hình thức những hiệp hội tín hữu, sau đó trở thành những hội dòng có lời khấn đơn và đến thời cận đại hầu như không còn dòng nào do Toà thánh thiết lập mà chỉ ban Nghị định phê chuẩn. Thời kỳ này dòng tu nữ  cũng tham gia hoạt động tông đồ nhiều hơn và xuất hiện các tu đoàn sống chung không có lời khấn và các tu hội đời.

 

Đây cũng chính là giai đoạn mà công cuộc truyền giáo của giáo hội được xác lập ở khắp nơi, giáo hội ngày càng hoàn thiện về mặt tổ chức và không ngừng củng cố nhân sự. Giáo hội ngày càng đông linh mục, phó tế và hàng ngũ giáo lý viên tham gia vào công việc tông đồ. Do vậy, vai trò của các dòng tu trong lĩnh vực tông đồ giảm hẳn, các dòng tu trở lại cuộc sống tu trì như khởi đầu, sống xa lánh thế gian, giữ luật dòng và lao động, cách biệt với xã hội bên ngoài. Nhiều dòng tu ở châu Âu bị suy giảm mạnh về đức tin và ơn gọi.

 

2- Dòng tu sau Công đồng Vatican II

 

Việc các dòng tu trở về lối sống khép kín trong một thế giới luôn có sự vận động và phát triển đã làm cho giới tu sĩ thụ động, xa cách với cộng đồng xã hội, không thích nghi với đời sống bên ngoài và không phát huy được vai trò vốn dĩ như trước đây. Trước tình hình đó trong Công đồng Vantican II (1962 - 1965) giáo hội đã đặt ra vấn đề nhìn nhận lại vai trò của dòng tu cũng như việc canh tân dòng tu cho phù hợp với thời đại mới. Công đồng khẳng định dòng tu không phải là cầu nối giữa Giáo hội và giáo dân mà được xem như một thành phần trong cơ cấu giáo hội và tu sĩ dòng được xem như một phần dân Chúa. Sự quan tâm đến giới tu sĩ được Công đồng Vatican II thể hiện trong 2 văn kiện "Hiến chế tín lý về Hội thánh" và "Sắc lệnh về việc canh tân đời sống tu trì". Với hai văn kiện này Giáo hội đã đưa dòng tu trở lại vị trí mà họ đã có và khẳng định vai trò của dòng tu trong giai đoạn phát triển mới của Giáo hội.

 

Từ đó các dòng tu bắt đầu canh tân, thích nghi theo hướng "nhập thế", tham gia vào công việc tông đồ bằng chính các hoạt động xã hội. Các tu sĩ được học về thần học và các ngành khoa học khác, trình độ văn hoá, ngoại ngữ được nâng cao, nhiều người có bằng cao đẳng, đại học và trên đại học. Các dòng tu mở rộng hoạt động trong phạm vi rộng, ở nhiều cấp (quốc gia, quốc tế) với các lớp tu đức, hay hội nghị bàn về lĩnh vực chuyên biệt và không ngừng chú trọng đến vấn đề đào tạo tu sĩ. Điều kiện tuyển chọn được nâng cao nhất là trình độ văn hoá, đời sống tu trì ngày càng chú trọng đến chất lượng.

 

Theo số liệu thống kê của Giáo hội hoàn vũ năm 2010 trên thế giới có: 793.709 tu sĩ trong đó nam tu là 54.641 và nữ tu là 739.068 người (6). Các tu sĩ phục vụ không phân biệt về chủng tộc, ngôn ngữ, thể chế chính trị trong nhiều lĩnh vực như văn hoá, xã hội, tôn giáo, đặc biệt là lo cho người có hoàn cảnh khó khăn.

 

Có thể nói, quá trình hình thành và phát triển dòng tu gắn liền với lịch sử của đạo Công giáo và ở bất cứ giai đoạn nào dòng tu cũng luôn góp phần vào sự ổn định và phát triển của đạo./.

 

Ths. Lê Phương Liên

 

Tài liệu tham khảo

 1- Phan Tấn Thành, Dân Thiên Chúa, Giải thích quyển III Giáo luật, tr 352..

2, 3, 4 - Lm Bùi Đức Sinh, Lịch sử Giáo hội Công giáo, Veritas Edition Calgary - Canada 1999, tr 239, 241, 243.

5- Phan Tấn Thành, Dân Thiên Chúa, Giải thích quyển II Giáo luật, tr 559.

6-  Công giáo và Dân tộc, tháng11/2010.

Bước đầu tìm hiểu về sự ra đời và phát triển dòng tu đạo Công giáo1- Dòng tu từ thời kỳ đầu hình thành đến Cộng đồng Vatican - Thời kỳ hình thành Đạo Kitô ra đời vào thế kỷ thứ I ở phía Đông đế quốc La Mã cổ đại, đến thế kỷ thứ IV (năm 313) Hoàng đế Constantino với sắc chỉ Milanô tuyên bố Kitô giáo là quốc đạo
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc
Lối sống của người Công giáo Việt Nam: Quá trình từ theo đạo, giữ đạo đến sống đạo
Hòa thượng Thích Trí Hải và quá trình vận động chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc giai đoạn 1924-1934
Nguồn gốc và ý nghĩa chiếc áo cà sa của đạo Phật
Tình hình tôn giáo và những yêu cầu đặt ra với công tác tôn giáo vận
Phật giáo và những ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời Trần
Tổng quan về tình hình nghiên cứu Phật giáo ở Liên bang Nga
Quốc chúa Bồ tát Nguyễn Phúc Chu: Người vận dụng tư tưởng Phật giáo vào việc trị quốc và mở mang bờ cõi
Âm nhạc Công giáo ở Việt Nam trước và sau công đồng Vatican II
Đối ngoại tôn giáo đóng góp tích cực cho ngoại giao Việt Nam thời kỳ hội nhập
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền trên vách thủy tinh - 'kỳ quan nhân tạo' độc đáo Thái Lan
Lễ Sene Đolta của đồng bào Khmer
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn