Ấn phẩm sách
Từ điển tôn giáo và các thể nghiệm siêu Việt
Ở đâu có người Việt, ở đó có chùa
Tìm hiểu Văn hóa tín ngưỡng tôn giáo & các phong tục tập quán , lễ hội tôn giáo Việt Nam
'Hiện tượng con người' - sách hòa giải khoa học và tôn giáo
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?













Chọn    Xem KQ
Hiếu đạo trong Nho giáo và Phật giáo
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
(Ca dao)

          Trong chúng ta ai từng lớn lên mà không một lần được nghe câu ca dao đó, ai từng lớn lên mà không một lần được chìm đắm trong lời ru con ngọt ngào đó. Công lao cha mẹ sinh thành dưỡng dục, đạo làm con sao có thể quên. Hiếu đạo vốn là truyền thống quý báu tốt đẹp của dân tộc ta, giá trị ấy, tinh thần ấy được giữ gìn, được bảo tồn và phát huy qua bao thế hệ đã trở nên bất biến, vĩnh hằng. Cũng như thế, đạo Phật với triết lí nhân sinh cao cả, với phương châm “Đạo pháp bất ly thế gian pháp” Phật giáo cũng mang trong mình giá trị nhân văn sâu sắc ấy. Hiếu đạo trong Phật giáo cũng rất gần gũi với hiếu đạo trong truyền thống dân gian, là sự thể hiện tấm lòng biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà tổ tiên, dạy con người ta biết hướng về cội nguồn. Trước đây đã có rất nhiều bài viết bàn về chữ hiếu trong đạo Phật, chúng tôi chỉ muốn góp một tiếng nói nhỏ về vấn đề này, cũng là để bày tỏ lòng tri ân đối với đấng sinh thành.

Người phương Đông vốn coi trọng các giá trị đạo đức truyền thống, coi các chuẩn mực đạo đức là thước đo nhân cách con người. Cách ứng xử trong gia đình cũng như ngoài xã hội đều trong vòng luân thường đạo lí. Trong đó mối quan hệ trong gia đình đặc biệt được đề cao, bởi vì đó là nguồn gốc, rường cột là nền tảng cho các mối quan hệ khác. Trong quan hệ gia đình thì chữ hiếu lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng, không đơn thuần chỉ là hành vi ứng xử đạo đức của con cái đối với cha mẹ, mà hơn thế, suy rộng ra chữ hiếu còn bao gồm các mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình dòng tộc, là sự ghi nhận, sự tưởng nhớ của con cháu đối với ông bà tổ tiên, của thế hệ sau đối với thế hệ trước.
Đạo hiếu được bắt nguồn từ tấm lòng tri ân, là sự bày tỏ, đền đáp công lao dưỡng dục trời bể của mẹ cha, người đã đem lại cho ta sự sống, nâng đỡ ta từ những bước đi đầu tiên. Đạo làm con phụng dưỡng cha mẹ là để báo đền ân đức, nhưng không có nghĩa là chỉ lo cho cha mẹ được ăn no, mặc ấm, được ở nơi nhà cao cửa rộng, phụng dưỡng cha mẹ không chỉ về mặt vật chất mà còn cả về tinh thần không để cha mẹ phải lo lắng, phiền muộn. Đức Khổng tử dạy rằng: “Phụ mẫu tại bất viễn du; du tất hữu phương”.(Luận ngữ - Lý Nhân) Nghĩa là: “Cha mẹ còn sống chớ đi chơi xa; nếu đi xa phải có nơi nhất định”. Điều đó, vừa là để cha mẹ khỏi lo lắng về mình, vừa là để nếu cha mẹ có mệnh hệ gì thì còn có chỗ mà báo tin cho con cái.
Hiếu đạo phải được thực hiện thường xuyên, thể hiện từ những sinh hoạt đơn giản nhất trong cuộc sống hàng ngày “Sắc nan! Hữu sự, đệ tử phục kì lao, hữu tửu tự, tiên sinh soạn, tằng thị dĩ vi hiếu hồ? ”(Luận ngữ - Vi Chính). Nghĩa là: “Giữ sắc mặt tươi tỉnh thật khó lắm thay! Khi có việc, con em hết lòng phụng sự, có cơm rượu mời cha anh xơi trước, người ta đều làm như vậy, há có thể coi là hiếu chăng?”. Người ta có thể lo cho cha mẹ nơi ăn chốn ở, nhưng quan trọng hơn là phải giữ được thái độ cung kính ở sắc mặt luôn tươi vui, dù khó khăn cũng không nề ngại. Đó mới đúng là người con có hiếu.
Hiếu đạo được gây dựng dựa trên gốc là “thành” và thể hiện ra ở “kính”. Hiếu quý là ở lòng thành và sự kính trọng. Đó là vì: “Kim chi hiếu giả thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng. Bất kính, hà dĩ biệt hồ ” (Luận ngữ - Vi Chính). Nghĩa là “Ngày nay những kẻ tự xưng là hiếu đều nói rằng mình đã nuôi nổi cha mẹ. Đến như loài chó, ngựa người ta còn nuôi được. Chẳng kính lấy gì mà phân biệt”. Cũng như thế, khi cha mẹ xế bóng, đạo làm con phải lo được chu toàn, nhưng không phải vì thế mà báo hiếu cha mẹ bằng mâm cao cỗ đầy, bằng phung phí xa hoa. “Tang trí hồ ai; nhi chỉ”(Luận ngữ - Tử Trương). Nghĩa là: “Việc tang cốt ở sự thương xót, chỉ như vậy mà thôi”. Như vậy cũng đủ thể hiện là người con có hiếu rồi.
Con người sinh ra, lớn lên, trưởng thành, về già đều trong vòng “sinh, lão bệnh, tử ”, hay nói như đạo Phật là ở trong vòng luân hồi. Chúng ta là con được cha mẹ sinh dưỡng, rồi đến lúc dựng vợ gả chồng, lại làm cha làm mẹ, cứ như thế từ thế hệ này qua thế hệ khác. Chính vì vậy mà chúng ta báo hiếu với cha mẹ, ông bà tổ tiên cũng là để sau này nhận lại được sự báo ân, báo hiếu ấy. Lúc cha mẹ còn hết lòng thành kính phụng sự “Phụ mẫu chi niên bất khả bất tri dã; nhất tắc dĩ hỉ, nhất tắc dĩ cụ” (Luận ngữ - Lý Nhân). Nghĩa là: “Tuổi của cha mẹ, làm con không thể không biết; vừa là để vui mừng, vừa là để lo lắng”. Vui mừng vì cha mẹ được thêm tuổi trời, nhưng lại lo lắng vì cha mẹ sắp phải đi xa, không còn được phụng dưỡng nữa. Thêm nữa, không chỉ lo cho cha mẹ mà còn phải biết lo lắng cho chính bản thân mình, cũng là để cho cha mẹ bớt đi phần lo ấy. Tăng tử, lúc sắp mất gọi đệ tử đến bên nói rằng: “Khải dư túc, khải dư thủ! Thi vân: Chiến chiến căng căng như lâm thâm uyên, như lí bạc băng. Nhi kim nhi hậu, ngô tư miễn phù” (Luận ngữ - Thái Bá). Nghĩa là: Hãy cởi dải chân cho ta, hãy cởi dải tay cho ta! Kinh Thi có câu rằng: Hết sức giữ gìn, như xuống vực sâu, như đi trên băng mỏng. Từ nay về sau ta có thể tránh được rồi đây”. Thân thể ta là do cha mẹ sinh ra há lại không thể giữ gìn hay sao, Tăng tử sai học trò kiểm tra lại chân tay mình trước khi mất cũng là để biết rằng mình đã không làm trái đạo hiếu. Đến khi cha mẹ không còn, việc tang tế không cầu kì mà cốt ở lòng thương xót, làm tròn được trí nguyện mà cha mẹ hòng mong muốn. Bởi vậy Đức Khổng tử cũng dạy: “Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ”(Luận ngữ - Lý Nhân). Nghĩa là: “Cha mất ba năm, mà người con không thay đổi chí hướng (cha đã căn dặn), thì có thể coi là người có hiếu vậy.
Người xưa rất coi trọng đạo hiếu, vậy nên những bậc đại hiếu, chí hiếu trong thiên hạ đều rất được đề cao coi trọng, được người đời ca tụng, là tấm gương cho bao đời sau. Ngược lại những kẻ làm con mà bất hiếu, bị xã hội chê trách, bị người đời lên án, và sẽ phải nhận một hậu quả tất yếu. Đạo hiếu không có sự phân biệt trong xã hội, không kể đó là người sang hay kẻ hèn, người ở địa vị xã hội cao hay thấp mà cốt ở sự thể hiện lòng hiếu thảo của mình mà thôi.Trong lịch sử, trong dân gian hay trong văn học đều có rất nhiều những tấm gương như thế.
Đạo Phật có mặt ở nước ta từ hàng ngàn năm, với sự từ bi nhân ái, với những giá trị nhân văn sâu sắc, trong đó đặc biệt đề cao đạo Hiếu như một triết lí nhân sinh, như một truyền thống tốt đẹp của mình. Phật giáo phổ độ khắp chúng sinh, bởi vậy hiếu đạo trong đạo Phật cũng mang một ý bao quát, ngoài việc báo ân cha mẹ, Phật giáo còn đề cập đến:
Ân thầy cô: Là ơn người đã dạy dỗ, mang lại cho ta kiến thức.
Ân Quốc gia xã hội: Là ơn đảm bảo cho ta cuộc sống hoà bình, ổn định
Ân chúng sinh đồng bào: Là ơn những người đã sản xuất ra của cải vật chất, giúp chúng ta tồn tại.
Đó chính là “Tứ ân” trong đạo Phật.
  Lễ báo hiếu trong đạo Phật được gọi là lễ Vu lan. Tích Vu lan bắt nguồn từ việc báo hiếu của Tôn giả Mục-kiền-liên. Tích này được chép trong kinh Vu lan bồn. Chữ Vu lan bồn phiên âm từ chữ Sanskrit (Phạn) là Ularnbana. Người Trung Hoa dịch nghĩa là Giải đảo huyền (Tội treo ngược người). Mẹ của ngài Mục-kiền-liên gây nhiều nghiệp chướng, thấy ai tu thiện thì sinh lòng ghen ghét muốn hại, không thích gần gũi hiền nhân, phỉ báng Phật - Pháp - Tăng. Nói lời thô lỗ, chẳng tin tội phước, không sợ báo ứng nhãn tiền. Thích thờ cúng quỷ thần, tin theo tà pháp giết hại sinh vật, rượu thịt tế tự mong cầu phúc thọ. Đến khi chết bị đày xuống tầng cuối cùng của địa ngục, chịu hình phạt khắp mình tua tủa dao đâm, toàn thân lửa cháy đỏ rực, cổ mang gông sắt nặng nề, thân hình gày ốm trơ xương. Ngài liền cầu xin đức Phật cách giải cứu cho mẹ mình khỏi kiếp nạn. Đức Phật dạy rằng: “Ông hãy chí thành lễ bái cúng dường chư Tăng, xin chư Tăng hợp lực dùng sức mạnh của hàng ngàn tâm thanh tịnh và lòng từ bi quảng đại, đưa tư tưởng lành xuống cõi âm, cho mẹ ông tiếp thị sức màu, bỏ hết tham, sân, si, ích kỉ, tính của loài ngã quỷ, thì mới mong chuyển kiếp ”(Kinh Vu lan bồn). Tôn giả Mục-kiền-liên nhất tâm vâng theo, quả nhiên đã cứu được vong hồn mẹ ông thoát khỏi kiếp ngã quỷ, sinh về cảnh giới an lành.
        Như vậy ngày Vu lan là ngày của Phật tử đền ơn đáp nghĩa đến chùa cầu thỉnh chư Tăng, sau ba tháng an cư thanh tịnh, chú nguyện cho vong nhân của mình thoát khỏi cảnh đoạ đày tăm tối của địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, đồng thời cầu nguyện cho tất cả người khác cũng thoát khỏi tội khổ đau cùng cực như Tôn giả Mục-kiền-liên đã làm khi cứu mẹ.
  Từ câu chuyện về đức hiếu của ngài Mục-kiền-liên, Đức Phật đã dạy chúng ta về hiếu hạnh trong khắp chúng sanh, công ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục là thiêng liêng nhất không gì so sánh được, và đạo làm con phải thực hiện tròn bổn phận của mình. Đức Phật dạy rằng: “Đạo làm con phải thực hiện 5 bổn phận: Luôn cung kính và vâng lời cha mẹ; Phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu; Gìn giữ thanh danh và truyền thống gia đình; Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại; Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời” (Trường Bộ Kinh - IV). Đức Phật cũng nói ta được như ngày hôm nay là nhờ công ơn cha mẹ, vậy nên người muốn học đạo không thể không hiếu với cha mẹ. Và sự tu nhân tích đức, lòng hiếu thảo đó sẽ được đền đáp bằng sự chứng quả giải thoát. “Ta tự nhớ nhiều kiếp trong quá khứ, từ tâm hiếu thuận cúng dường cha mẹ, cho đến đem thân mạng để cứu giúp cha mẹ, do công đức như vậy, các tầng trời làm vị Thiên đế, xuống trần gian thì làm vị Thánh vương” (Kinh Hiền Ngu). Mục tiêu của đạo Phật là đưa con người đến sự giác ngộ, đến sự giải thoát an lạc, vì thế người con có tấm lòng chí thành chí hiếu, không chỉ phụng dưỡng cha mẹ, mà còn làm cho cha mẹ thoát khỏi những cội rễ “vô minh” quay về với con đường quang minh sáng lạng, cầu siêu đưa cha mẹ thoát khỏi khổ ải nơi địa ngục đến cảnh giới an lành. Khi cha mẹ chưa an trú trong Chánh pháp, làm sao giúp đỡ, dẫn dắt cha mẹ an trú trong Chánh pháp, cha mẹ chưa an trú trong điều lành thì làm sao đưa cha mẹ an trú trong điều lành. Như vậy cha mẹ không những được hưởng phúc lạc vật chất bên ngoài mà còn được hưởng phúc lạc trong tâm hồn, giải thoát bớt phiền muộn, xa lánh thế gian chấp trước, vọng tưởng luân hồi sinh tử. Khi cha mẹ giải thoát, an vui thì sự báo hiếu của người con mới thành tựu. Ấy mới gọi là: “Phụ mẫu đắc ly trần, hiếu đạo phương thành tựu” (Cha mẹ được giải thoát lìa khỏi trần ai thì người con mới tròn hiếu đạo).
        Nhưng phải làm thế nào để giúp cha mẹ đạt được điều đó? Đức Phật đã dạy rằng: “Nếu gia đình nào có người con biết Bố thí, biết Ái ngữ, biết Lợi hành, biết Đồng sự thì cha mẹ mới nhận được sự hiếu kính của con” (Kinh Trường A-hàm). Người biết bố thí là người luôn đem tâm hoan hỉ bố thí cho mọi người, đó không cứ phải là vật chất hay tiền bạc, nhiều khi sự bố thí ấy chỉ là một cử chỉ một nụ cười nhưng cũng đem lại cho mọi người sự an vui, tiêu tan sự đau khổ. Và như thế người con biết bố thí là người con biết hiếu thảo với cha mẹ. Thứ hai là ái ngữ, tức là lời nói nhẹ nhàng, cung kính. Điều này rất dễ mà cũng rất khó làm, người con đối với cha mẹ lúc nào cũng thể hiện được ái ngữ, đấy là đã làm tròn đạo hiếu vậy. Thứ ba là lợi hành, nghĩa là biết làm điều có ích, cho mình, cho gia đình, cho xã hội. Nếu người con không biết lợi hành thì làm sao cha mẹ có thể được hưởng sự hiếu kính. Thứ tư là đồng sự, cùng nhau làm lụng, cùng nhau chia sẻ sự đùm bọc yêu thương, đó chính là bày tỏ lòng hiếu kính vậy. Đấy là khi cha mẹ còn sống, còn khi cha mẹ “hoa khai cực lạc”, đạo làm con lại càng cần thực hiện đầy đủ hạnh tu Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự. Đó cũng là để cho cha mẹ được siêu thoát, được đến cõi thanh bình cực lạc.
 Thế nhưng không phải trên thế gian này không còn những người con bất hiếu, vì sự “lầm đường lạc lối” mà sa vào bến mê, quên đi công lao cha mẹ sinh dưỡng, phạm vào tội “nghịch tử” bất hiếu. Như Đức Phật đã dạy: “Thế Tôn lấy một ít đất trên móng tay rồi nói với các Tỳ khiêu: Các ngươi nghĩ thế nào? Đất trên đầu móng tay ta hay đất trên trái đất này nhiều. Các Tỳ khiêu trả lời: Bạch Thế Tôn đất trên đầu móng tay Người quả là rất ít so với đất trên trái đất. Cũng thế ấy, này các Tỳ khiêu, chúng sinh có hiếu đối với cha mẹ thì rất ít so với chúng sinh bất hiếu như đất trên trái đất” (Kinh Tương Ưng Bộ). Vậy nên chúng sinh cần sớm tỉnh ngộ, theo con đường chân tu để thoát khỏi cảnh đoạ đày muôn kiếp về sau.
        Mở rộng hơn về triết lí nhân sinh, đạo Phật còn đề cập đến ân thầy cô dạy dỗ, ân quốc gia xã hội, ân chúng sinh đồng bào. Nếu cha mẹ là người sinh dưỡng ra ta thì thầy cô là người đem lại cho ta sự hiểu biết, trang bị cho ta kiến thức về cuộc sống, về hành vi ứng xử. .Điều này còn đặc biệt có ý nghĩa với những người xuất gia tu hành. Bởi vì người thầy dạy đạo là người dẫn dắt ta trên con đường tu tập, hướng ta tới sự giải thoát, để đạt đến cõi niết bàn. Đạo Phật cũng đề cập đến ân quốc gia xã hội đã cho ta cuộc sống yên bình, ổn định, ân chúng sinh đồng bào đã sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống chúng ta.Tại sao đạo Phật lại đề cập đến những ân đức này? Đó là bởi vì con người không thể tồn tại chỉ như là một cá nhân đơn lẻ, mà ngược lại con người sống cần có cộng đồng xã hội, cần có sự gắn kết giữa các cá nhân, trong các mối quan hệ xã hội. Chúng ta biết và chịu ơn tất cả mọi người, từ người nông dân trồng lúa để cho ta có cái ăn, người nuôi tằm dệt vải để ta có cái mặc và biết bao ngành nghề khác để phục vụ ta trong cuộc sống đời thường. Chúng ta cũng chịu ơn cỏ cây hoa lá, chim muông đã cho ta môi trường thanh sạch….Đó là vì thảy chúng sinh đều có quan hệ thân thuộc lẫn nhau. Vậy nên Đức Phật đã dạy chúng ta hãy mở rộng lòng thương đến khắp chúng sinh, không sát hại sinh vật để thoả mãn nhu cầu của riêng mình.
        Hoà mình với đạo lí truyền thống của dân tộc, đức hiếu hạnh trong đạo Phật hướng con người về tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Thực hiện đức hiếu hạnh là đáp đền “Tứ trọng ân đức” và như thế tâm hồn con người được nuôi dưỡng trong sự thánh thiện, mà người người được hưởng an lạc, nhà nhà trong cảnh thái bình, thập loại chúng sinh được dẫn dắt, được nương nhờ nơi cửa Phật từ bi. Âu cũng là sự giữ gìn và phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc trong thời đại mới, như Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra./.
 
Phúc Nguyên
 
 
Hiếu đạo trong Nho giáo và Phật giáoTrong chúng ta ai từng lớn lên mà không một lần được nghe câu ca dao đó, ai từng lớn lên mà không một lần được chìm đắm trong lời ru con ngọt ngào đó. Công lao cha mẹ sinh thành dưỡng dục, đạo làm con sao có thể quên. Hiếu đạo vốn là truyền thống quý báu tốt
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tôn giáo và chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Kiến trúc Phật giáo ở Thái Bình nét đặc trưng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
Bàn về đối tượng thờ phụng trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc
Những dấu ấn tâm linh Chămpa ở Thăng Long
Cách mạng Tháng Tám với các Giám mục người Việt
Tái cấu hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Những thách thức về mặt pháp lý
Thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam góp phần củng cố khối đoàn kết dân tộc
Vu lan bồn và ngày lễ rằm tháng bẩy
Tìm hiểu về tràng hạt trong Phật giáo
Tư tưởng của Trần Nhân Tông về vấn đề nhân quyền, tôn giáo (P1)
Tìm kiếm
Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Tin tức Video
Tín ngưỡng thờ Mẫu - Giá trị văn hóa dân tộc
Cao đài trong lòng dân tộc
Những tấm lòng nhân ái
Hình ảnh
Cách đón Giáng sinh của các nước châu Á
Rực rỡ không khí Giáng Sinh trên toàn thế giới
Truyền giảng Giáng sinh tại các Hội thánh Tin lành.
Âm thanh
Phỏng vấn HT. Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hà Nội về công tác Phật sự của Phật giáo Thủ đô
Phỏng vấn TS. Thượng tọa Thích Nhật Từ, Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó Ban Giáo dục Tăng Ni TƯ, Ban Hoằng pháp TƯ và Ban Phật giáo Quốc tế GHPGVN những thông tin chính về Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2014 tại Việt Nam
Nam Định thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo



Người chịu trách nhiệm chính:
Ông Dương Ngọc Tấn
Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Email: ttttbantongiao@chinhphu.vn
 

BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 763 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

 

LIÊN KẾT WEBSITE KHÁC