Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/09/2019 07:46 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tái cấu hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Những thách thức về mặt pháp lý

      Theo chúng tôi, một trong những điểm đáng chú ý nhất của đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay là đã và đang có sự thay đổi cơ bản của “cái tôn giáo” (le religieux), nói đúng hơn là sự tái cấu hình tôn giáo (reconfiguration religieux) trong đời sống xã hội nói chung và nói riêng trong quan hệ của nó với hệ thống pháp lý.

         Nhập đề:.

Đây là bước tiến quan trọng của sự đổi mới đường lối chính sách tôn giáo, nhưng chính nó đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ trong quan hệ tôn giáo với pháp quyền.

Bài viết này, trên cơ sở làm rõ khái niệm quan trọng tái cấu hình đời sống tôn giáo và một số khái niệm có liên quan như thị trường tôn giáo (marché religieuse), sự phục hồi tôn giáo (reveil religieux), bước đầu nêu ra một số vấn đề có tính hệ luận khi đời sống tôn giáo xuất hiện trạng thái “tái cấu hình” và những suy tư cá nhân góp phần vào việc giải quyết những thách thức mới ấy về mặt pháp lý.

I. “Sự phục hồi tôn giáo” ở Việt Nam hiện nay

Để thấy được những cơ sở tư tưởng, xã hội, tâm lý và tôn giáo của việc tái cấu hình và những biến động của thị trường tôn giáo ở Việt Nam cũng cần nhấn mạnh một số điểm sau đây.

·   Như một hệ quả của sự đổi mới đường lối chính sách tôn giáo từ cuối năm 1990 đến nay, Việt Nam là một quốc gia có sự phục hồi tôn giáo rất đáng kể. Dường như đã có sự kết hợp hai nguồn lực: với những quốc gia đang phát triển thì “sự phục hồi tôn giáo” đi liền với sự hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa. Chính những quốc gia đang phát triển, cùng với sự tăng trưởng của tính hiện đại thì nhu cầu tín ngưỡng tâm linh càng trở nên mạnh mẽ đa dạng. Mặt khác,  sự “phục hồi tôn giáo” ở Việt Nam trong khuôn khổ biến đổi của “thể chế xã hội chủ nghĩa”, khi mà nhu cầu tâm linh, tôn giáo của người dân lần đầu tiên được thừa nhận căn bản hơn trong thực tiễn. Vì thế, “sự quay trở lại của tâm thức tôn giáo” trở nên mạnh mẽ và rõ ràng hơn.

·   Trong nghiên cứu của Phillip Taylor về sự biến đổi đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam thời đổi mới, mà ông gọi nó là “hậu cách mạng”, đã  gợi ra nhiều ý tưởng. Trước hết, theo tác giả, đời sống tôn giáo ở Việt Nam hôm nay là đề tài hấp dẫn vì: thứ nhất, có lý thuyết cho rằng, khi xã hội phát triển, tôn giáo sẽ mất đi tính sống còn của nó. Taylor phân tích, thực chất tôn giáo Việt Nam đang hồi sinh, phát triển với nhiều chiều hướng mới, có nhiều thay đổi từ quan điểm nhà nước, người dân và tín đồ. Thứ hai, trong thời kỳ toàn cầu hóa, phải chăng Việt Nam là một ví dụ bản sắc dân tộc bị đe dọa trong cuộc “tìm kiếm tính hiện đại”. Thứ ba, chủ đề nghiên cứu nổi bật về tôn giáo ở Việt Nam là mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị mà công cuộc “Đổi Mới”chắc chắn đem lại nhiều thay đổi.

Cụ thể, tác giả cho rằng, sự hồi sinh của tôn giáo ở Việt Nam như là sự “phản hồi lại” những chính sách của nhà nước khi chuyển đổi nền kinh tế. Tôn giáo có thể là một phần bồi đắp cũng như đáp ứng một số nhu cầu tâm linh và tâm sinh lý của người dân khi phải đối đầu với sự bấp bênh của kinh tế thị trường; Nhà nước như là người có quyền quyết định hình thức tôn giáo nào nên loại bỏ, và hình thức tôn giáo nào nên nuôi dưỡng, khuyến khích và phát triển…[1]

Thực ra, sự “thức tỉnh tôn giáo” mới chỉ là điều kiện có tính tiền đề của sự tái cấu hình đời sống tôn giáo mà thôi. Tất cả còn tùy thuộc ở điều kiện khác, trực tiếp hơn: sự hình thành “thị trường tôn giáo”.

II. Sự hình thành “thị trường tôn giáo” và tác động của nó

Những năm gần đây khi nghiên cứu sự biến chuyển đời sống tôn giáo ở Trung Quốc, các học giả Trung Quốc và nước ngoài đã đưa ra khái niệm “thị trường tôn giáo” rất đáng chú ý. Bắt đầu từ bài viết của Dương Phượng Cương có tên là Thị trường ba màu sắc của tôn giáo Trung Quốc, trong đó tác giả qua việc nghiên cứu sự điều tiết, quản lý tôn giáo của Nhà nước đã dẫn đến sự cấu thành ba thị trường tôn giáo:

“Thị trường đỏ” gồm các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo “hợp pháp” (khoảng 100 triệu người).

“Thị trường đen” là những cộng đồng tôn giáo, các tổ chức hoạt động trong tư thế “hầm trú”, bí mật, bất hợp pháp… Nhưng cộng đồng này lại đông đảo ước tới khoảng 200 triệu người.

“Thị trường xám” là thị trường tôn giáo có tính cách “mập mờ”, nửa hợp pháp, nửa bất hợp pháp, đặc biệt là những cộng đồng tín ngưỡng dân gian và một số “giáo phái” thuộc nhiều tôn giáo lớn vốn được công nhận. Cộng đồng này cũng rất đông đảo, có thể tới “hàng trăm triệu người”[2].

Dương Phượng Cương nhấn mạnh rằng: nhà nước trong khi có xu hướng muốn hạn chế thị trường đỏ, tất yếu phải khống chế, ngăn chặn thị trường đen và như vậy tất yếu sẽ gia tăng thị trường xám, mà trường hợp Pháp luân công năm 1999-2000 là tiêu biểu. Mặt khác, tác giả cũng cho rằng trong thực tiễn, khi “thị trường tôn giáo bị phân mảnh”, điểm then chốt của chính sách tôn giáo ở Trung Quốc là phải điều tiết được thị trường xám, trong đó cần thiết phải chuyển dần nó sang thị trường đỏ

Rõ ràng điều này có liên quan đến những chính sách cụ thể của quá trình “thiết chế hóa tôn giáo” ở Trung Quốc những thập kỷ gần đây. Nhận xét về điều này, D.A Palmer viết: “Các đoàn thể tôn giáo yêu nước được lập ra dưới sự bảo trợ của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong những năm 1950 đã từng, đối với 5 tôn giáo liên quan, là những hình thái thiết chế hoàn toàn chưa từng có. Chưa bao giờ trong lịch sử mà những người theo Phật giáo, Đạo giáo hay Hồi giáo ở Trung Quốc lại cùng hội tụ lại trong một tổ chức quốc gia duy nhất (đã từng có nhiều ý đồ làm việc này trong thời kỳ cộng hòa (1911-1949) song phần lớn đều đã thất bại). Vô vàn giáo phái và nhóm tín đồ chống đối đã bị buộc phải hợp nhất lại và tách mình ra khỏi các nhà thờ và hội truyền giáo ngoại quốc. Tổ chức Công giáo tuân theo các mệnh lệnh từ Trung Nam Hải chứ không phải từ Vatican[3].

Tác giả cũng phân tích thêm rằng, quá trình thiết chế hóa Phật giáo, Công giáo, Đạo giáo, Hồi giáo và Tin lành ở Trung Quốc đã tạo ra một “cấu trúc hành chính” tương đối đồng nhất giữa truyền thống tổ chức các đơn vị sản xuất xã hội chủ nghĩa (tổ đội – danwei) với các hình thức truyền thống của tổ chức tăng lữ. Đây là những nhận xét đáng chú ý nhưng nó không thuộc phạm vi bài viết này.

Ý kiến đáng chú ý của Dương Phượng Cương về “trị trường tôn giáo ba màu sắc”  đã được Benoit Vermander bình luận và phân tích thêm trong bài viết Sự thức tỉnh tôn giáo và sự thoát ra khỏi tôn giáo ở Trung Quốc hiện nay[4]. Tác giả bài viết không chỉ phân tích sự “thức tỉnh tôn giáo” ở Trung Quốc, xem nó như một đặc điểm có tính khác biệt so với tình hình các xã hội Âu – Mỹ, nơi mà “sự thoát ra khỏi tôn giáo” được coi như chuẩn mực của tính hiện đại (Marcel Gauchet), mà còn đưa ra nhận xét rằng, chính sự đổi mới của Chính phủ Trung Quốc trong chính sách tôn giáo, nhất là cách thức công nhận các tổ chức tôn giáo và bảo trợ nó đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc “thiết chế lại” các tổ chức tôn giáo ở Trung Quốc[5], có những ý kiến chia sẻ với nhận định trên của D.A Palmer.

B. Vermander đặc biệt nhấn mạnh hiện tượng phát triển mạnh mẽ của đạo Tin lành ở Trung Quốc mà ông gọi là “một tôn giáo đang trỗi dậy” (une religion chinoise en émergence), đồng thời coi đây là hiện tượng đáng chú ý nhất trong sự thay đổi của thị trường tôn giáo của Trung Quốc hiện nay. Tác giả viết: “Những khẳng định về con số tín đồ Tin lành ở Trung Quốc dao động từ 20 đến 130 triệu người. Các quan chức Trung Quốc đưa ra những con số cũng không thống nhất với nhau. Lĩnh vực tôn giáo này bao gồm một tập hợp phong phú các nhóm phái và các loại hình quy thuộc (modes d’appartenance), trong một cấu hình mà xét cho cùng không thể không gợi đến cấu hình của các “tinh vân” Đạo giáo và Phật giáo. Đây là điều khiến cho Tin lành thực sự trở thành một tôn giáo Trung Quốc… song sự ước đoán ít nhiều đáng tin cậy về nó lại nằm ngoài tầm với của các nhà điều tra và việc tập hợp các số liệu cũng vậy”[6].

Về mặt địa - tôn giáo cũng như địa – chính trị - tôn giáo, theo chúng tôi Việt Nam rất giống Trung Quốc ở chỗ các quốc gia này thuộc khu vực “thuần nhất về văn hóa nhưng đa nguyên về tôn giáo”, đồng thời là những nước có xu hướng “thế tục” hơn nhiều so với các nước Đông Nam Á “rất tôn giáo”. Trong sự tương thích đều có hiện tượng “thức tỉnh tôn giáo” và sự biến đổi của “thị trường tôn giáo”, nhưng sự tái cấu hình tôn giáo ở hai nước có sự khác biệt lớn.

Theo chúng tôi, nếu “áp dụng lý thuyết” của Dương Phượng Cương thì “thị trường tôn giáo” ở Việt Nam có những điểm tương đồng với Trung Quốc (như vai trò chủ thể của nhà nước trong việc điều tiết, tái cấu trúc “thị trường tôn giáo”) nhưng ở Việt Nam thực tế cùng lắm cũng chỉ có hai thị trường tôn giáo là thị trường đỏthị trường xám (ít nhất từ trước 2005). Lý do, vì Nhà nước Việt Nam không quá can thiệp sâu vào nội bộ các tôn giáo, không tạo ra sự đối lập của “hai giáo hội” đối với mỗi một tôn giáo[7], dù rằng một thời gian dài Nhà nước Việt Nam cũng chỉ công nhận 6 tôn giáo chính.

Cũng cần nói thêm rằng, việc “thiết chế hóa tôn giáo” trong chính sách tôn giáo của một số nước ở Đông Bắc Á nói trên quyết định khá lớn đến sự hình thành và phát triển thị trường tôn giáo ở khu vực này. Tuy vậy, đây cũng không phải là điều dị biệt. Nghiên cứu lịch sử Tin lành Mỹ trong nửa đầu thế kỷ XX, người ta cũng thấy hiện tượng “các Hội thánh bí mật” như thế. Một cuốn sách tra cứu về các hệ phái Tin lành ở Mỹ cho biết: “Một sự sắp xếp khá phổ biến trong các trang báo ở các thành phố lớn có thể giúp ta “phân loại” tình hình các giáo hội bí mật. Chẳng hạn với một mục chính có đầu đề về Methodist hoặc Baptist, có những phụ đề cho thấy các tổ chức ẩn đó. Ví dụ, với mục từ “Methodist” người ta có thể tìm thấy United methodist Church, African Methodist Episcopal Church và Christian Methodist Episcopal Church. African Methodist Episcopal Church và Christian Methodist Episcopal Church thuộc về những giáo đoàn bí mật…”[8]

Trở lại với vấn đề thị trường tôn giáo hiện nay ở khu vực Đông Bắc Á. Thực ra điều này cũng đã diễn ra khá sớm ở Hàn Quốc nơi mà, về cơ bản, vốn là một xã hội đa tôn giáo tương đồng với Trung Quốc hoặc Việt Nam. Nhưng ở nước này, khái niệm “thị trường tôn giáo” đã xuất hiện sớm hơn. Cuốn sách Xã hội Hàn Quốc hiện đại mới xuất bản ra tiếng Việt có nhận xét: “Là một xã hội đa tôn giáo, về cơ bản, Hàn Quốc đảm bảo được ở mức độ nhất định sự tự do tôn giáo. Vì tự do tôn giáo được đảm bảo trong khi có nhiều tôn giáo cùng tồn tại nên mỗi cá nhân có thể lựa chọn tôn giáo mà mình ưng ý trong cái “thị trường tôn giáo” giống như có thể tự do lựa chọn hàng hóa mà mình ưng ý trong siêu thị”[9].

Nói tóm lại, đời sống tôn giáo ở Việt Nam những năm gần đây cũng vậy. Khi người dân đã xuất hiện khả năng tự lựa chọn các hình thức tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo đến một mức độ nào đó thì thị trường tôn giáo sẽ xuất hiện.

III. “Tái cấu hình tôn giáo” (reconfiguration religieux): nét đặc sắc của sự biến chuyển đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

III.1 Khái niệm “tái cấu hình tôn giáo”

Khái niệm mới mẻ này trong nghiên cứu tính hiện đại và đời sống tôn giáo đang được nhiều học giả châu Á vận dụng.

Theo chúng tôi, tái cấu hình tôn giáo có nghĩa là sự tái cấu trúc bên trong (les recompositions) thế giới mỗi tôn giáo và sự biến đổi của cấu trúc cái tôn giáo, dẫn đến sự biến đổi phương thức hiện diện của chúng trong đời sống xã hội và pháp lý; phù hợp với điều kiện thị trường tôn giáo đã thay đổi và bản thân logic của các tôn giáo cũng đã biến đổi.

Đưa ra khái niệm cơ bản này, chúng tôi muốn, trong sự phân tích dưới đây,  cắt nghĩa về mặt xã hội học tôn giáo sự biến đổi căn bản của cái tôn giáo ở Việt Nam hiện nay và những hệ quả pháp lý của nó.

Cần nói thêm rằng, khi xảy ra sự tái cấu hình tôn giáo, cũng có nghĩa là đời sống tôn giáo ở quốc gia ấy đã phải trả lời những vấn đề của tính hiện đại, cũng như lý giải những hệ luận của xu thế đa nguyên hóa. Trong trường hợp đời sống tôn giáo ở Việt Nam, cần nhắc thêm rằng, vai trò chủ thể của nhà nước là hết sức quyết định.

Tái cấu hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay dẫn đến những hệ luận tôn giáo và xã hội như thế nào? Dưới đây chúng tôi sẽ đề cập đến một số biểu hiện cơ bản:

III.2 Tác động thứ nhất: phương diện nhân khẩu học tôn giáo

Đây là hệ quả đầu tiên dễ nhận biết nhất của sự tái cấu hình tôn giáo ở Việt Nam những năm gần đây.

Khi công bố số liệu về tôn giáo năm 2001, với 6 tôn giáo được công nhận, người ta đưa ra một “con số tròn trĩnh”, Việt Nam có 15 triệu tín đồ các tôn giáo. Con số này được thay đổi khá “đột ngột”: vào năm 2003, lần đầu tiên Ban Tôn giáo Chính phủ công bố con số 20 triệu tín đồ các tôn giáo (Phật giáo từ 7 triệu thành 10 triệu; Tin lành 50 vạn; Cao đài 2,4 triệu, Công giáo tương đối ổn định với 5.7 triệu…).

Hai, ba năm nay nhân khẩu học tôn giáo ở Việt Nam thực sự thay đổi đột biến khi Nhà nước đã nâng số tôn giáo được công nhận lên con số 13 với 33 tổ chức tôn giáo.

Dưới đây là số liệu thống kê số liệu các tôn giáo tính đến tháng 2 năm 2011:

Stt

Tên tổ chức tôn giáo

Số tín đồ

Số chức sắc

Số cơ sở thờ tự

Ghi chú

1

Phật giáo

10.000.000

42.000

15.500

Tin lành: 2000 điểm nhóm được đăng ký hoạt động và 10 tổ chức được công nhận; chức sắc chủ yếu tự phong.

2

Công giáo

6.100.000

20.000

6.000

3

Tin lành

1.500.000

3.000

500

4

Cao đài

2.471.000

12.722

1.331

5

Phật giáo Hòa Hảo

1.260.000

2.579

39

6

Hồi giáo

72.732

700

77

7

Baha’i

7.000

 

 

8

Tứ Ân Hiếu Nghĩa

70.000

409

78

9

Bửu Sơn Kỳ Hương

15.000

 

19

10

Tịnh độ Cư sĩ Phật hội

1.500.000

4.800

206

11

Phật đường Minh sư đạo

11.124

300

54

12

Minh lý Tam tông miếu

1.058

72

4

13

Bàlamôn

54.068

158

37

 

(Nguồn: Ban Tôn giáo Chính phủ, 2011)

 

Mấy nhận định:

- Thứ nhất, mặc dù Việt Nam thực sự là một xã hội đa tôn giáo, nhưng đến nay Việt Nam vẫn là một xã hội số đông “không có tôn giáo” (khoảng 70%). Mặc dù, dân số tôn giáo có tăng khá nhanh từ 1999 đến nay (ở thời điểm năm 1999, tỉ lệ này còn ở mức 75%).

- Thứ hai, Tin lành là tôn giáo có sự tăng trưởng đột biến.

- Thứ ba, phương diện nhân khẩu học đã cho thấy một phương diện của tái cấu hình tôn giáo: trên công luận, từ “tôn giáo” vốn chỉ biểu thị 6 thực tại tôn giáo, nay con số đó đã là 13 (không kể đã có 33 tổ chức tôn giáo đã được công nhận).

- Thứ tư, điều tra dân số học tôn giáo ở Việt Nam cũng chưa phản ánh được tính đa dạng của đời sống tôn giáo trong gia đình, tương quan giữa các tôn giáo về mặt địa tôn giáo…

Vấn đề số lượng tín đồ Phật giáo vẫn còn là vấn đề nổi cộm. Có nhiều thông tin khác nhau. Chẳng hạn như website chuyên về du lịch Vietnam Paradise Travel cho rằng, 70% dân số Việt Nam theo đạo Phật hoặc chịu ảnh hưởng sâu đậm những hành sự của Phật giáo (70% Buddhist or strongly influenced by Buddhist practices). Nhiều tài liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, ít nhất ở Việt Nam hiện nay có khoảng 20 triệu tín đồ. Báo chí Việt Nam mới đây đã công bố chủ trương “phát thẻ tín đồ” cho các phật tử trong cả nước…

- Thứ năm, về địa tôn giáo:

Một nhận định quan trọng về địa tôn giáo ở Việt Nam hiện nay qua các số liệu trên: một là, miền Nam Việt Nam là trọng điểm của vấn đề tôn giáo, ít nhất về mặt nhân khẩu học; hai là, với 3 tôn giáo chủ yếu là Phật giáo, Công giáo và Tin lành, khu vực Nam Bộ cũng vẫn là trọng điểm của các tôn giáo này.

Lưu ý rằng, cuộc di cư vào Nam, sau hiệp định Giơnevơ (7-1954) là một dấu mốc đảo lộn địa tôn giáo ở Việt Nam, khi mà gần 80 vạn người Công giáo, nhiều chức sắc Phật giáo và Tin lành đã di cư vào Nam. Những năm gần đây, riêng Tin lành có sự biến động địa tôn giáo cục bộ: Tây Nguyên và một phần Tây Bắc lại trở thành những trung tâm của “Tin lành Việt Nam”, bên cạnh khu vực Đồng Bằng Nam Bộ.

III.3 Tác động thứ hai: tái cấu hình “thị trường tôn giáo”

Nếu như trước năm 2005, cái tôn giáo, nói một cách khác là một hệ thống tôn giáo ở Việt Nam vốn từ lâu được hiểu là sự hiện diện của 6 tôn giáo chính. Với sự công nhận của Nhà nước các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo nói trên, sự tái cấu hình thị trường tôn giáo ở Việt Nam được diễn ra với những đặc tính sau đây:

Thứ nhất, việc công nhận thêm nhiều tôn giáo mới, khiến cho hệ thống tôn giáo ở Việt Nam có sự thay đổi đầu tiên đó là: các tôn giáo bản địa, tôn giáo nhóm nhỏ với tính cách địa phương rõ rệt nay được công nhận về pháp lý như trường hợp: Tứ Ân hiếu nghĩa, Bửu Sơn kì hương, Phật đường Minh Sư đạo, Minh Lý tam tông miếu…

Thứ hai, trong số các tôn giáo mới được công nhận ấy, có những tôn giáo về loại hình được coi là “tôn giáo mới”, theo tiêu chí tôn giáo học, vốn rất khó được công nhận về pháp lý như trường hợp của đạo Baha’i (có thể có một, hai tôn giáo khác cũng thuộc loại này, nhưng chúng tôi không đề cập ở đây, xin dành cho một chủ đề khác).

Thứ ba, hệ thống tôn giáo “được thừa nhận” ở Việt Nam càng làm rõ đặc tính về địa tôn giáo: Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ… là những khu vực đậm đặc về tôn giáo (số lượng và loại hình) nhất ở Việt Nam.

III.4 Tác động thứ ba: tái cấu trúc bên trong mỗi tôn giáo

 Sự thay đổi của tái cấu hình tôn giáo tác động không đều nhau đến cấu trúc của mỗi tôn giáo. Cũng giống như ở Trung Quốc sự thay đổi này đặc biệt quan trọng đối với trường hợp đạo Tin lành.

Đạo Tin lành những năm gần đây cũng là tiêu biểu cho sự tác động vai trò của nhà nước trong việc “thiết chế hóa” tôn giáo, đã tạo nên sự tái cấu trúc bên trong của đạo này rất phong phú, tiêu biểu. Trước năm 2007, khái niệm “đạo Tin lành” với đa số người Việt Nam chỉ là 2 Hội thánh cùng một gốc: Tổng Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) số 2 Ngõ Trạm, Hà Nội, công nhận 1957 và Tổng Liên hội Hội Thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), công nhận 2001, 155 Trần Hưng Đạo, TP Hồ Chí Minh[10].

Tiếp tục chính sách Đổi mới về tôn giáo, trong 3 năm gần đây, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý tôn giáo Việt Nam đã lần lượt công nhận 9 hệ phái nữa:

1. Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam (2007);

2. Hội Thánh liên hữu Cơ đốc (2007);

3. Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam (2008);

4. Tổng hội Báptít Việt Nam (2008);

5. Hội Thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam (2008);

6. Hội Thánh Báp tít Nam phương (2008);

7. Hội Thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam (2009);

8. Hội Thánh Chứng nhân Jehovah (2009);

9. Hội Thánh Menonite Việt Nam (2009).

Nói về sự kiện ấy, tôi đã nhấn mạnh “khái niệm “đạo Tin lành ở Việt Nam” đã có sự thay đổi thực sự. Nói theo ngôn ngữ xã hội học tôn giáo là đã có sự tái cấu hình, phản ánh đúng đắn bản chất đa nguyên của tôn giáo này”.

Về phương diện pháp lý, Chỉ thị 01 (đầu 2005) với chủ trương “công nhận trọn gói”, đã mở ra cho “thế giới Tin lành” ở nước ta một khả năng chưa từng có về tư cách pháp nhân của tất cả các hệ phái, không còn chỉ là câu chuyện của Tin lành C&MA, hệ phái “Tin lành chính thống” đã tròn 100 tuổi.

Như vậy là về đại thể bước đi ngày hiện nay của Tin lành Việt Nam cũng tương đồng với những người anh em của họ thuộc nhiều lục địa, nhiều khu vực. Chúng ta cũng biết rằng những thập kỷ gần đây, trên thế giới đã và đang có sự “tái cấu trúc bên trong thế giới Tin lành” như chữ dùng của J.P Willaime[11]. Tác giả cho rằng, thế giới Tin lành ngày hôm nay đang có chiều hướng tăng dần tầm quan trọng của loại hình Tin lành Phúc âm và Tin lành ngũ tuần. Đồng thời cũng là lúc giảm dần vai trò của Tin lành “được thiết lập” đã trở nên lạc hậu với tiến trình hiện đại hóa. Theo những gợi ý như thế, chúng tôi cũng muốn nói thêm rằng, thế giới Tin lành ở nước ta, chủ yếu thuộc hệ thống Tin lành Phúc âm đã và đang có sự thay đổi căn bản về tái cấu trúc bên trong cũng như sự hiện diện của nó trong đời sống xã hội, trong quan hệ với nhà nước, dân tộc.

Chúng tôi chỉ nêu tác động này đối với đạo Tin lành, phần vì sự biến đổi của tôn giáo này trong khoảng hai thập kỷ gần đây, hoàn toàn có thể coi đó là một trong những hiện tượng tôn giáo nổi bật nhất. Với nhiều tôn giáo khác, trong số các tôn giáo mới được công nhận, ít hoặc nhiều cũng có in dấu của sự tái cấu trúc bên trong. Chẳng hạn, khi được công nhận, nhiều tôn giáo thuộc loại hình “tôn giáo nhóm nhỏ” như Phật đường Minh sư đạo, Minh Lý Tam tông miếu hoặc tôn giáo Baha’i, với số lượng tín đồ ít ỏi, nhưng sự hiện diện xã hội của chúng, hay cái tôn giáo của chúng đã có sự thay đổi lớn, cả về mặt xã hội và pháp lý.

 

IV. Những thách thức về pháp lý

Đây là vấn đề rất thời sự và mới mẻ. Ý kiến của chúng tôi dưới đây có thể chỉ xem như những “giả thiết nghiên cứu”. Sau đây là một số vấn đề cụ thể.

IV.1 Một hệ luận với mô hình nhà nước thế tục

Trong những nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã lựa chọn mô hình (thứ ba), mô hình nhà nước thế tục ưu tiên cho sự đa dạng, về cơ bản là đúng đắn và phù hợp[12]. Chúng tôi cũng đã có nhận xét rằng, trước năm 2005, trong một thời gian dài khi xây dựng mô hình nhà nước thế tục ấy, Việt Nam đã có “một món nợ pháp lý” là, khi công nhận 6 tôn giáo chính, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, đã xem nhẹ vế pháp lý “tôn trọng các tôn giáo còn lại”. Chỉ thị 01 (2005) đã bù đắp cơ bản cho thiếu hụt đó.

Vấn đề ngày hôm nay là, về phương diện pháp lý, các tổ chức tôn giáo được công nhận (với hai cấp độ “có tư cách pháp nhân” và “được đăng ký hoạt động”) sẽ còn biến diễn như thế nào? Số lượng các tôn giáo được thừa nhận nói cho cùng là số n trong số học. Ngay hiện nay cũng đã và đang có những ý kiến tranh luận, 12 (hay 13) các tôn giáo được thừa nhận là nhiều hay là con số thích hợp? Theo chúng tôi, sự “tái cấu hình tôn giáo” đã cho thấy, việc lựa chọn mô hình đa nguyên về tôn giáo khiến Nhà nước rõ ràng phải chấp nhận số n nói trên. Vấn đề là ở chỗ quyền hạn pháp lý, sự hiện diện của các tổ chức tôn giáo ấy cũng như ứng xử với “những tôn giáo còn lại” sao cho phù hợp với mô hình đã lựa chọn mới là những vấn đề có tính quyết định.

IV.2 Về thể thức công nhận các tổ chức tôn giáo

IV.2.1 Mấy kinh nghiệm Âu – Mỹ

Tổng kết những kinh nghiệm công nhận các tổ chức tôn giáo trong các xã hội Âu – Mỹ, E. Caparros và L.Léon Christians, đã khái quát 3 dạng thức cụ thể sau đây:

1. Việc công nhận mang tính hiến định độc lập (La reconnaissance constitutionnelle de l’autonomie) với các tổ chức tôn giáo.

Cái đặc biệt của dạng thức này ở chỗ, nhà nước thực sự không can thiệp vào mọi vấn đề nội bộ của các tôn giáo, tôn trọng tính tự chủ của chúng nhưng giá trị của tư cách pháp nhân lại không giống nhau. Chẳng hạn, với Giáo hội Công giáo, khi thực hiện Luật Phân Ly hoàn toàn giữa Giáo hội và Nhà nước vẫn giữ tư cách pháp nhân của mình theo luật công (droit public) trong khi đó các cộng đồng tôn giáo, tín ngưỡng khác lại hưởng pháp nhân theo quy chế của luật dân sự (droit civil).

2. Việc công nhận bằng con đường của các thoả ước quốc tế

Có thể nói chế độ thoả ước (Concordataire)[13] là một đóng góp quan trọng của luật pháp tôn giáo châu Âu khi giải quyết vấn đề Kitô giáo. Cho đến những thập kỉ gần đây, chế độ này vẫn tỏ ra còn tác dụng với hàng loạt văn bản được kí giữa Tòa thánh Vatican và các nước như Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ba Lan, v.v...

3. Việc công nhận tư cách pháp nhân bằng con đường đăng kí: một dạng thức có tính phổ biến và thích hợp.

Việc công nhận các tổ chức tôn giáo theo phương thức đăng kí xem ra phù hợp trước hết với mọi quốc gia có hệ thống luật phổ thông (droit commun). Tự thân hệ thống luật Anh - Mỹ (Common Law) đã hàm chứa cách thức đạt được tư cách pháp nhân tôn giáo. Phía các tôn giáo, không chỉ có đòi hỏi được đăng kí tức là được hưởng sự giám sát tư pháp (controle Judiciaire) mà còn đòi hỏi sự công quyền hoá (formalisation publique) sự tồn tại của mình.

Tính phức tạp của việc đăng kí, trước hết ở chỗ: tổ chức tôn giáo là những thực thể phức tạp, nhất là các tôn giáo truyền thống, với giáo hội cơ cấu, có khi mang tính toàn cầu hoặc ngược lại, những tôn giáo nhóm nhỏ, đa nguyên về cơ cấu tổ chức.

Một cơ sở nhìn nhận khác, khi thực hiện việc đăng kí, các tổ chức tôn giáo trong các xã hội hiện đại được coi như những tổ chức nhân đạo (đi liền với việc miễn một số khoản thuế, hoặc giảm thuế, hai điều lợi đáng kể cho các tổ chức tôn giáo) dù không phải mọi hoạt động tôn giáo đều không có mục đích sinh lợi[14].

Gần đây hơn, nhà nghiên cứu luật pháp tôn giáo nổi tiếng của Pháp và châu Âu, F.Messner đã “tóm tắt” ba dạng thức công nhận các tổ chức tôn giáo này một cách thuyết phục hơn. Trong đó, F.Messner đã đối chiếu các mô hình nhà nước thế tục với việc vận dụng ba thể thức công nhận các tổ chức tôn giáo nói trên[15]. Ông cũng cho bạn đọc những kinh nghiệm của Cộng đồng châu Âu, với hai “tòa án về tôn giáo” đã đụng độ với những vấn đề pháp lý như thế nào khi thực thi việc công nhận các tổ chức tôn giáo trong thực tiễn đa dạng của các nước thành viên.

IV.2.2 Bây giờ chúng ta hãy xem việc công nhận 13 tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đã diễn ra như thế nào.

Trước hết là sự khác biệt giữa các cấp có thẩm quyền công nhận các tổ chức tôn giáo. Văn bản pháp lý cho thấy, loại tổ chức tôn giáo được công nhận trước 2005 như sau:

1. Thủ tướng Chính phủ công nhận 03 tổ chức:

* Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc): 1958

* Giáo hội Công giáo Việt Nam:    1980

* Giáo hội Phật giáo Việt Nam:     1981

Quyết định số 83/BT ngày 29/12/1981 của Hội đồng Bộ trưởng v/v thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

2. Ban Tôn giáo Chính phủ công nhận các tổ chức tôn giáo (thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ): 09 tổ chức:

* Hội thánh Cao đài Tiên Thiên:   1995

Quyết định số 51/QĐ-TGCP ngày 29/7/1995 v/v công nhận tư cách pháp nhân của Hội thánh Cao đài Tiên Thiên;

* Hội thánh Cao đài Minh Chơn đạo Hậu Giang:     1996

Quyết định số 39 QĐ/TGCP ngày 02/8/1996 v/v công nhận tư cách pháp nhân của Hội thánh Cao đài Minh Chơn đạo Hậu giang;

* Giáo hội Đại đạo Tam kỳ Phổ độ Cao đài Tây Ninh:         1996

Quyết định số 10 QĐ/TGCP ngày 24/9/1996 v/v công nhận tư cách pháp nhân của Giáo hội Đại đạo Tam kỳ Phổ độ Cao đài Tây Ninh;

* Hội thánh Truyền giáo Cao đài: 1996

Quyết định số 40 QĐ/TGCP ngày 24/9/1996 v/v công nhận tư cách pháp nhân của Hội thánh Truyền giáo Cao đài;

* Giáo hội Hội thánh Cao đài Ban Chỉnh đạo:         1997

Quyết định số 26 QĐ/TGCP ngày 08/8/1997 v/v công nhận tư cách pháp nhân của Giáo hội Hội thánh Cao đài Ban Chỉnh đạo;

* Hội thánh Cao đài Chơn lý:        2000

Quyết định số 16/2000/QĐ-TGCP ngày 14/3/2000 v/v công nhận tổ chức và hoạt động của Hội thánh Cao đài Chơn lý;

* Hội thánh Cao đài Cầu Kho – Tam Quan: 2000

Quyết định số 199/2000/QĐ-TGCP ngày 28/4/2000 v/v công nhận tổ chức và hoạt động của Hội thánh Cao đài Cầu Kho – Tam Quan.

* Ban Đại diện Phật giáo Hòa Hảo (nay là Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo):         1999

Quyết định số 21/QĐ/TGCP ngày 11/6/1999 v/v công nhận tổ chức và hoạt động của Ban Đại diện Phật giáo Hòa Hảo.

* Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam):   2001

Quyết định số 15 QĐ/TGCP ngày 16/3/2001 v/v công nhận tư cách pháp nhân của Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam);

3. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận tổ chức tôn giáo: 04 tổ chức:

* Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo thành phố Hồ Chí Minh: 1992

Quyết định số 28/QĐ-UB ngày 07/01/1992 của UBND thành phố v/v công nhận danh sách các thành viên Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo thành phố Hồ Chí Minh;

* Hội thánh Cao đài Chiếu Minh Long Châu:          1996

Quyết định số 1562/QĐ.CT.HC.96 ngày 27/7/1996 của Chủ tịch UBND tỉnh Cần Thơ v/v công nhận tư cách pháp nhân của Hội thánh Cao đài Chiếu Minh Long Châu;

* Hội thánh Bạch y Liên đoàn Chơn lý:     1998

Quyết định số 60/TB-UB ngày 08/7/1998 của UBND tỉnh Kiên Giang v/v công nhận tư cách pháp nhân tổ chức Hội thánh Bạch y Liên đoàn Chơn lý;

* Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang: 2004

Quyết định số 2775/QĐ-CT.UB ngày 17/12/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh An Giang v/v chấp thuận kết quả Đại hội đại biểu Hồi giáo tỉnh An Giang lần I nhiệm kỳ 2004-2007.

Từ khi có Chỉ thị 01/2005 đến nay, việc công nhận các tổ chức tôn giáo diễn ra như sau:

1. Loại tổ chức tôn giáo do Ban Tôn giáo Chính phủ cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động hoặc công nhận về tổ chức, bao gồm:

 * Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, đăng ký ngày 01/9/2006 (Giấy chứng nhận số 146/2006/GCN-TGCP); công nhận ngày 22/10/2007 (Quyết định số 175/QĐ-TGCP);

* Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam, đăng ký ngày 01/9/2006 (Giấy chứng nhận số 147/GCN-TGCP); công nhận ngày 27/11/2007 (Quyết định số 207/QĐ-TGCP);

* Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, đăng ký ngày 18/12/2006 (Giấy chứng nhận số 215/2006/GCN-TGCP); công nhận ngày 04/12/2008 (Quyết định số 235/QĐ-TGCP);

* Tổng hội Báp-tít Việt Nam (Ân điển Nam phương), đăng ký ngày 18/12/2006 (Giấy chứng nhận số 214/2006/GCN-TGCP); công nhận ngày 07/5/2008 (Quyết định số 109/QĐ-TGCP);

* Cộng đồng Baha’i ở Việt Nam, đăng ký ngày 28/2/2007 (Giấy chứng nhận số 105/TGCP); công nhận ngày 14/7/2008 (Quyết định số 150/QĐ-TGCP);

* Giáo hội Phật đường Nam tông Minh sư đạo, đăng ký ngày 17/8/2007 (Giấy chứng nhận số 694/GCN-TGCP); công nhận ngày 01/10/2008 (Quyết định số 196/QĐ-TGCP);

* Minh lý đạo Tam tông miếu, đăng ký ngày 17/8/2007 (Giấy chứng nhận số 693/GCN-TGCP); công nhận ngày 01/10/2008 (Quyết định số 195/QĐ-TGCP);

* Hội thánh Báp-tít Việt Nam (Nam phương), đăng ký ngày 26/9/2007 (Giấy chứng nhận số 810/GCN-TGCP); công nhận ngày 03/10/2008 (Quyết định số 199/QĐ-TGCP);

* Hội thánh Mennonite Việt Nam, đăng ký ngày 26/9/2007 ( Giấy chứng nhận số 811/GCN-TGCP); công nhận ngày 05/02/2009 (Quyết định số 12/2009/QĐ-TGCP);

* Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam, đăng ký ngày 05/10/2007 (Giấy chứng nhận số 843/GCN-TGCP); công nhận ngày 04/12/2008 (Quyết định số 234/QĐ-TGCP);

* Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam, đăng ký ngày 05/10/2007 (Giấy chứng nhận số 844/GCN-TGCP); công nhận ngày 14/6/2010 (Quyết định số 84/2010/QĐ-TGCP);

2. Loại tổ chức tôn giáo do Ủy ban nhân dân, Ban Tôn giáo, Sở Nội Vụ các tỉnh cấp đăng ký hoạt động tôn giáo và công nhận về tổ chức, bao gồm:

* Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, BTG An Giang cấp đăng ký ngày 04/8/2006 (Giấy chứng nhận số 262/GCN-TGT); UBND tỉnh An Giang công nhận ngày 16/6/2010 (Quyết định số 1114/QĐ-UBND);

* Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bàni tỉnh Ninh Thuận, BTG Ninh Thuận chấp thuận thành lập ngày 06/9/2006 (Công văn số 150/BTG-VP); UBND tỉnh Ninh Thuận công nhận ngày 01/10/2007 (Quyết định số 4106/QĐ-UBND);

* Ban Đại diện (lâm thời) cộng đồng Islam tỉnh Tây Ninh, UBND tỉnh Tây Ninh công nhận ngày 30/12/2008 (Công văn số 4400/UBND-VXNV);

* Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương: Chùa Tây an cổ tích, xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Ban Tôn giáo và Dân tộc tỉnh cấp đăng ký ngày 05/9/2007 (Giấy chứng nhận số 01/GCN-TGDT); Sở Nội vụ công nhận ngày 25/3/2009 (Quyết định số 581/QĐ-SNV)…

Qua tư liệu chính thức trên đây của Ban Tôn giáo Chính phủ, có thể nhận xét rằng, việc công nhận các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, trong phạm vi chủ thể công nhận là chưa có sự quy chuẩn thống nhất. Một “tôn giáo mới được công nhận” có khi cấp công nhận lại thấp hơn những hệ phái của một tôn giáo khác, khi những hệ phái đó lại được cấp thẩm quyền cao hơn công nhận. Đồng thời, hai mức độ pháp lý “công nhận tư cách pháp nhân” và “được đăng kí hoạt động” cũng chưa thực sự có quy chuẩn pháp lý chặt chẽ thống nhất.

IV.2.3 Vấn đề “thể nhân” và “pháp nhân” tôn giáo

Đây là một phương diện pháp lý quan trọng đối với các tổ chức cũng như với cá nhân tôn giáo. Điều này cũng có liên quan chặt chẽ với việc công nhận các tổ chức tôn giáo.

Thông thường, luật pháp quốc tế có sự phân biệt rõ ràng giữa các thể nhân (les personnes physiques) và các pháp nhân (les personnes juridique), nghĩa là 2 chủ thể quyền lợi (les subjets de droits) cơ bản thường được nhà nước bảo hộ về quyền lợi cho các cá nhân trong xã hội và các hội đoàn thể - xã hội hay đoàn thể được pháp luật công nhận với đủ tư cách pháp lí để làm chủ thể các quyền lợi.

Hơn thế nữa, các pháp nhân vốn có nhiều loại. Với vấn đề các tổ chức tôn giáo, theo thông lệ, chủ yếu thuộc lĩnh vực pháp nhân tư pháp (les pésonnes morales de droit privé). Các loại pháp nhân chủ yếu trong ngành tư pháp thường gồm: các hội - xã hội (les sociétés) như các hội dân sự, hội buôn...; các hiệp hội (les associations) mà đặc tính chủ yếu là không vụ lợi, hướng vào các mục tiêu văn hoá, tôn giáo, từ thiện...

Trong thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam, nhất là trước năm 2005, nhiều tổ chức tôn giáo, tín đồ các tôn giáo ấy khi chưa được “công nhận” (về cơ bản họ thuộc về thị trường xám mà chúng tôi đã phân tích ở phần trên) thường vận dụng quyền thể nhân tôn giáo, sinh hoạt tại gia đình hoặc cộng đồng với quyền pháp lý hạn chế.

Hiện nay vấn đề lại là, với 13 tổ chức tôn giáo được công nhận đã có sự thống nhất hay chưa giữa quyền thể nhân và quyền pháp nhân? Điều dễ thấy là phần lớn các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam, dù được công nhận cũng chưa thực sự có đầy đủ quyền “tư cách pháp nhân” về tôn giáo. Lý do đơn giản là hiện nay trong hệ thống pháp lý, trong các bộ luật có liên quan đến đời sống tôn giáo (nhất là Luật dân sự) chưa hề có sự quy định chỗ đứng cho các tổ chức tôn giáo. Hoặc trong Luật giáo dục, chỉ cho phép các tổ chức tôn giáo hoạt động trong lĩnh vực “tiền phổ thông”…

Giải quyết mối quan hệ giữa thể nhân và pháp nhân trong luật pháp tôn giáo ở Việt Nam, theo chúng tôi hiện nay là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng nhất.

Trên đây là một số vấn đề đặt ra về phương diện pháp lý đối với đời sống tôn giáo ở Việt Nam khi nó được “tái cấu hình”. Dĩ nhiên còn có những vấn đề khác, nhưng bài viết này không thể đủ khả năng bao chứa.

 

Kết luận

1. Đời sống tôn giáo ở Việt Nam những năm gần đây đã hội đủ những điều kiện để xuất hiện một “thị trường tôn giáo”, tương đồng với nhiều nước trong khu vực. Là một quốc gia mà sự đa dạng về tôn giáo đã và đang thể hiện rõ rệt với nhiều chiều kích. Cùng với việc chuyển đổi nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập cũng như sự đổi mới về đường lối chính sách tôn giáo, sự “thức tỉnh tôn giáo” ở Việt Nam cũng thể hiện rất rõ nét trong đời sống tinh thần, xã hội của cá nhân và cộng đồng. Vì thế sự xuất hiện của “thị trường tôn giáo” là tất yếu, nó cũng tạo ra khả năng để một bộ phận người Việt Nam từ thành thị đến thôn quê, từ vùng đồng bằng ven biển đến vùng cao có thể lựa chọn cho mình nhu cầu tôn giáo cần thiết. Đây cũng là cơ hội xuất hiện hiện tượng cải đạo (convertir) khá rõ nét những năm gần đây.

2. Đổi mới đường lối chính sách tôn giáo, đặc biệt là sự mở rộng việc công nhận các tôn giáo cũng như các tổ chức tôn giáo – về khách quan đã tạo ra một sự “thiết chế hóa tôn giáo” – đã góp phần quyết định tạo nên hiện tượng “tái cấu hình” đời sống tôn giáo. Sự kiện tôn giáo quan trọng này đã mở ra hai chiều kích: thứ nhất, với nhiều tôn giáo đã có sự tái cấu trúc bên trong, thay đổi thế giới của các tôn giáo ấy, tiêu biểu là trường hợp đạo Tin lành; thứ hai, ở tầng vĩ mô, sự “tái cấu hình” đã khiến cho cái tôn giáo cũng thay đổi căn bản.

Khái niệm pháp lý cái tôn giáo được mở rộng, khiến cho sự hiện diện của tôn giáo nói chung trong xã hội cũng như các mối quan hệ chính trị, văn hóa, xã hội… với tôn giáo cũng trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp hơn.

3. Tái cấu hình đời sống tôn giáo cũng dẫn đến những hệ luận mới mẻ, thậm chí có tính thách đố đối với hệ thống pháp lý có liên quan đến vấn đề tôn giáo. Có lẽ đây là thời điểm mà Nhà nước cần tiếp tục có những giải pháp sâu sắc và toàn diện hơn trong nhiều lĩnh vực pháp lý liên quan đến việc tiếp tục hoàn thiện mô hình nhà nước thế tục, phương thức công nhận các tổ chức tôn giáo hay nói chung là cần có một Luật pháp nhân tôn giáo

Dù sao đây cũng là những thách thức của sự phát triển, của sự đổi mới đường lối chính sách tôn giáo đã đi vào chiều sâu và mặt khác cũng đang đứng trước những cơ hội như đường lối, chính sách tôn giáo mà Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI vừa qua đã chỉ rõ./.

 

GS.TS Đỗ Quang Hưng

Đại học Quốc gia Hà Nội

 

 

 

Từ khóa

-      Sự thức tỉnh tôn giáo (reveil religieux):

Thuật ngữ xã hội học tôn giáo mô tả hiện tượng “tâm thức tôn giáo, tín ngưỡng quay trở lại” với nhiều bộ phận dân chúng, cá nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa khi có sự điều chỉnh “hệ tư tưởng vô thần”, tạo một không gian tâm linh, tự do tôn giáo cởi mở hơn.

 

-      Thị trường tôn giáo (marché religieuse):

Thuật ngữ này để chỉ trạng thái dân chúng trong một quốc gia đã xuất hiện khả năng tự lựa chọn các hình thức tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo đến một mức độ khá cao, cũng như khả năng cải đạo đã trở thành phổ biến.

 

-      Tái cấu trúc bên trong (recomposition interne):

Thuật ngữ chỉ sự biến đổi cấu trúc nội tại của một tôn giáo, khiến cho cái thế giới nội tại của nó trở nên khác trước.

 

-      Tái cấu hình đời sống tôn giáo (reconfiguration religieux):

Là một phức thể của “cái tôn giáo” khi có sự tái cấu trúc bên trong thế giới mỗi tôn giáo và sự biến đổi hệ thống tôn giáo được công nhận về mặt pháp lý, dẫn đến sự biến đổi phương thức hiện diện của chúng trong đời sống xã hội cũng như sự thay đổi mối quan hệ của Nhà nước với các Giáo hội, phù hợp với sự biến đổi của thị trường tôn giáo.

- Nhân khẩu học tôn giáo (demographie religieuse)

Một khái niệm xã hội học tôn giáo có tính công cụ, thông qua việc nghiên cứu các loại hình số liệu có liên quan đến hệ thống thông tin của mỗi hệ thống tôn giáo, địa-tôn giáo, cơ cấu mỗi tôn giáo, con người và gia đình tôn giáo, quan hệ nhà nước với tổ chức, cá nhân mỗi tôn giáo,v.v.. để làm rõ một phương diện quan trọng của đời sống tôn giáo.

 

Tài liệu tham khảo

 

1.         Benoit Vermander, nguyên bản tiếng Pháp Réveil religieux et sortie de la religion en Chine contemporaine; Perspertive, No 4/2009, Paris.

2.  B. Basdevant- Gaudemet et Francis Messner. Les origines historigres du Statut des Confessions religieuse dans les pays de l’Union européene, Puf, Paris, 1999.

3.  David A. Palmer, Les danwei religieuses L’institutionalisation de la religion en Chine populaire, tạp chí Perspectives, No 4/2009, Paris.

4.     Dương Phượng Cương (Feng Gang Yang), Thị trường ba màu sắc tôn giáo của Trung Quốc, nguyên bản tiếng Trung được đăng tải trên tạp chí Xã hội học, Bắc Kinh, số 47, 2006.

5. E. Caparros, L. Léon Chistians. La religion en droit comparé à l’ aube du XXIe siècle, ed. Bruylaut, Bruxelles, 2000.

6. Francis Messner, P.H. Prélot, J.M Woehrling, Traité de droit francais des religions.  Ed. Litec, Paris, 2003.

7. J.P Willaime, Les recompositions internes au monde protestant: protestantisme “etabli” et protestantisme “evangélique”, chủ biên J.P Bastian, F.Champion và K. Rousselet, ed. L’Harmattan, Paris, 2001.

8. Phillip Taylor, Modernity and Re-enhantment in Post-revolutionary Vietnam, 2007.

9. Xã hội Hàn Quốc hiện đại, Giáo trình Hàn Quốc học của Đại học Quốc gia Seoul, bản dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008.



[1] Xem Phillip Taylor, Modernity and Re-enhantment in Post-revolutionary Vietnam, 2007, p.7-15.

[2] Xem bài của Dương Phượng Cương (Feng Gang Yang), Thị trường ba màu sắc tôn giáo của Trung Quốc, nguyên bản tiếng Trung được đăng tải trên tạp chí Xã hội học, số 47, 2006, tr.93-122. Trong cuộc hội thảo quốc tế Tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á – tiếp tục thảo luận, của Viện Nghiên cứu Tôn giáo tổ chức tại Hà Nội tháng 11/2007; nhà nghiên cứu Lưu Bành trong bài Các vấn đề tôn giáo của Trung Quốc (nguyên bản tiếng Anh) cũng đã gần như giới thiệu tình hình “thị trường tôn giáo” này theo cách phân tích của Dương Phượng Cương. Đồng thời Lưu Bành cũng phân tích rõ hơn về số liệu tín đồ các tôn giáo thuộc ba thị trường ấy, đồng thời ông nhấn mạnh “sự lưỡng phân: sự cùng tồn tại hai giáo hội” trong nhiều tôn giáo lớn ở Trung Quốc hiện nay, một phần do chính việc Chính phủ Trung Quốc đã nỗ lực và kiên trì chính sách lập các “Giáo hội yêu nước” do Chính phủ trực tiếp bảo trợ…

[3] Xem David A. Palmer, Les danwei religieuses L’institutionalisation de la religion en Chine populaire, (tạm dịch: Các tổ đội tôn giáo. Thiết chế hóa tôn giáo ở nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hiện nay); tạp chí Perspectives, No 4/2009, Paris, p.21-22.

[4] Benoit Vermander, nguyên bản tiếng Pháp Réveil religieux et sortie de la religion en Chine contemporaine; Perspertive, No 4/2009, Paris, p.4-17.

[5] Tương tự như nhận xét trên, trong bài viết Les danwei religieuses: L’institutionnalisation de la religion en Chine populaire của David A. Palmer, Tạp chí Perspective, số đã dẫn, p.19-33, tác giả phân tích sâu sắc hơn sự “hợp pháp hóa” các tổ chức tôn giáo ở Trung Quốc theo chính sách của Chính phủ đã trở thành một công cụ pháp lý quan trọng làm thay đổi cấu hình đời sống tôn giáo ở Trung Quốc và các hệ luận của nó.

[6] Benoit Vermander, Réveil religieux et sortie de la religion en Chine contemporaine; Perspertive, bài đã dẫn, p.10. Chia sẻ nhận định quan trọng này nhiều nhà nghiên cứu về Tin Lành Trung Quốc như Don Snow đã đề xuất phân loại các nhóm địa phương phần lớn thuộc thị trường đen xám gồm 5 loại: a) những Hội thánh địa phương có đăng kí với Tin Lành “tam tự lập”, tự trị và chính thống; b) các giáo đoàn có đăng kí hợp pháp song không tập hợp lại trong một Hội thánh, một nhà thờ cụ thể mà là tồn tại trong những địa điểm và cấu trúc tổ chức khác; c) Các nhóm vẫn giữ nguyên tên Hội thánh nước ngoài (chẳng hạn Evantist Seventh day), hay tự nguyện mang tên gọi Trung Quốc, có đăng kí địa điểm sinh hoạt tôn giáo với cơ quan quản lý địa phương; d) Các “Hội thánh tại gia”, phần lớn tại các thành phố mà họ không cần sự công nhận của Hội thánh Tin lành yêu nước; e) Các nhóm phái Tin lành ở nông thôn, phần lớn không đăng kí, hỗn tạp… Đây cũng là vấn đề Xã hội học tôn giáo Tin lành được nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện nay chú tâm.

[7] Không có ví dụ nào sinh động hơn Sắc lệnh 234 (1955) về tôn giáo của Chính phủ Hồ Chí Minh, trong đó ghi rõ, đối với Công giáo Việt Nam, Chính phủ hoàn toàn tôn trọng quan hệ của họ với Tòa thánh Vatican.

[8] Handbook of Denominations in the United State, Nxb Abingdon, Press, 1995, p.28.

[9] Xem cuốn, Xã hội Hàn Quốc hiện đại, Giáo trình Hàn Quốc học của Đại học Quốc gia Seoul, bản dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, tr.185.

[10] Sau những chuyến đi Việt Nam năm 2005 và 2007, làm việc ở Viện Nghiên cứu Tôn giáo ở Hà Nội, GS J.P Willaime có viết ít nhiều về nhóm Tin lành này (xem: Le Vietnam au défi de la diversité protestante, Sicial Compass, No September, 2010.

[11] Xem J.P Willaime, Les recompositions internes au monde protestant: protestantisme “etabli” et protestantisme “evangélique” (Tái cấu trúc bên trong thế giới Tin Lành: Tin Lành “được thiết lập” và Tin Lành “Phúc âm”), trong cuốn La globalisation du religieux (Toàn cầu hóa tôn giáo), chủ biên J.P Bastian, F.Champion và K. Rousselet, ed. L’Harmattan, Paris, 2001, p.71-182.

[12] Những năm gần đây, sau hơn một trăm năm xây dựng mô hình này, người châu Âu đã “tổng kết” 4 mô hình khả thi (modèle possible) của nhà nước thế tục, cho đến nay là:

1. Mô hình quốc giáo (ethno-religion), cho những nước như Bắc Âu với Tin Lành, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với Công giáo, Hy Lạp với Chính Thống giáo. Với những nước này, Nhà nước công nhận, dựa vào một tôn giáo chủ lưu nhưng vẫn tôn trọng các tôn giáo còn lại.

2. Mô hình tôn giáo dân sự (religion civile) cho những nước thực hiện hòa nhập các giá trị tôn giáo vào xã hội dân sự (tiêu biểu như Mỹ).

3. Mô hình đa nguyên tôn giáo (pluralisme), dành nhiều sự ưu tiên cho sự đa dạng của các tôn giáo cùng có vị trí pháp lý với sự mở rộng ngày càng lớn cho các tôn giáo (Đức, Bỉ, Hà Lan…)

4. Mô hình thể chế thế tục trung lập (laicité), mô hình đặc biệt nhất, tiêu biểu như ở nước Pháp, trong đó nhà nước không “công nhận” bất cứ một tôn giáo nào, mọi tôn giáo lớn nhỏ trước nhà nước đều phải thực hiện luân lý thế tục (moral laique). (J. Bauberot, Tôn giáo và tính hiện đại, thể chế thế tục trung lập và thế tục hóa trong cuộc khủng hoảng của tính hiện đại ở Châu Âu, Paris, nguyên bản tiếng Pháp, 2005).

[13] Đáng lưu ý là, ngày 9-12-1905 khi nước Pháp công bố Bộ luật Phân Ly nổi tiếng (Loi la Séparation des Églises et de l’Etat), đã xoá bỏ chế độ này bằng Điều 44, huỷ bỏ những điều luật được kí giữa Giáo hoàng với Chính phủ Pháp trước đó.

[14] E. Caparros, L. Léon Chistians. La religion en droit comparé à l’ aube du XXIe siècle, ed. Bruylaut, Bruxeelle, 2000. Phần nội dung trên đây là sự tóm tắt bài viết tổng luận cuộc Hội thảo quốc tế về luật pháp tôn giáo châu Âu năm 2000 tại Bỉ.

[15] Xem: B. Basdevant- Gaudemet et Francis Messner. Les origines historigres du Statut des Confessions religieuse dans les pays de l’Union européene, Puf, Paris, 1999. Đặc biệt cuốn: Francis Messner, P.H. Prélot, J.M Woehrling, Traité de droit francais des religions.  Ed. Litec, Paris, 2003.

Tái cấu hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Những thách thức về mặt pháp lýNhập đề: . Đây là bước tiến quan trọng của sự đổi mới đường lối chính sách tôn giáo, nhưng chính nó đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ trong quan hệ tôn giáo với pháp quyền. Bài viết này, trên cơ sở làm rõ khái niệm quan trọng tái cấu hình đời
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam góp phần củng cố khối đoàn kết dân tộc
Vu lan bồn và ngày lễ rằm tháng bẩy
Tìm hiểu về tràng hạt trong Phật giáo
Tư tưởng của Trần Nhân Tông về vấn đề nhân quyền, tôn giáo (P1)
Ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông với đời sống văn hóa đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long
Vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Hàn Quốc, nơi hội tụ của các tôn giáo
Tìm hiểu pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975-1986
Ý nghĩa việc thống nhất Phật giáo và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981
Dấu ấn văn hóa Phật giáo trong đời sống cư dân các bộ tộc Lào
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn