Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 16/06/2019 05:31 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 4/2019
Nghi lễ lên đồng – Lịch sử và giá trị
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 3/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Vu lan bồn và ngày lễ rằm tháng bẩy

Trong tâm thức người Việt, ngày lễ rằm tháng Bẩy, hay còn gọi là lễ Vu lan, là ngày xá tội vong nhân, ngày thể hiện lòng hiếu hạnh của những người con, những người còn sống với cha mẹ, tổ tiên, và rộng ra là với tất cả những người đã khuất bất kể thân, sơ vì lòng từ mẫn theo lời răn dạy của đức Phật. Tuy nhiên, cần phải hiểu rõ nguồn cội của nghi lễ này và ý nghĩa thực sự của nó mới giúp việc thực hành thêm ý nghĩa và công đức trọn vẹn.

Những sai lầm đáng tiếc

Trước khi tìm hiểu nội dung chính, chúng ta cần thống nhất một số vấn đề thuộc về công cụ, đó là ngôn ngữ. Theo lý thuyết ngôn ngữ học, ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là cái vỏ của tư duy, nhưng ngôn ngữ là khái niệm trừu xuất, vô hình. Người ta chỉ “nhìn thấy” ngôn ngữ qua lời nói và qua chữ viết. Còn không thể nhận biết ngôn ngữ bằng những hình thù cụ thể. Qua lời nói, ta nhận biết, bằng tai, được ngữ âm và lĩnh hội được ý nghĩa thông qua vỏ ngữ âm mà người nói thể hiện. Qua chữ viết, ta nhận biết bằng mắt, được dạng thức thể hiện bằng ký tự và lĩnh hội được ý nghĩa của người viết thông qua cái vỏ ký tự đó. Diễn giải rườm rà trên đây là muốn nói, ngôn ngữ có dạng thức thể hiện ý nghĩa thông tin là ngữ âm (nói) và ký tự (viết). Khi chuyển dịch từ ngôn ngữ nọ sang ngôn ngữ kia, người ta có hai cách: 1 - phiêm âm (chuyển dịch âm đọc tương tương giữa hai ngôn ngữ mà không đề cập đến ý nghĩa) và 2 - dịch nghĩa (chuyển nghĩa tương đương trong hai ngôn ngữ mà không đề cập đến vỏ ngữ âm hoặc ký tự chữ viết). Chính trong quá trình chuyển ngữ này dễ dẫn đến sự nhầm lẫn.

Với trường hợp của Vu lan bồn, các nhà nghiên cứu Phật học trên thế giới và Việt Nam đều thống nhất cho rằng, đây là dạng thức người Hán phiên âm (chứ không phải dịch nghĩa) từ gốc từ trong Phạn ngữ của Ấn Độ là Ullambana sang Hán ngữ. Cùng đó, nó cũng còn được phiên âm thành Ô lam bà noa. Như vậy, Vu lan bồn (hay Ô lam bà noa) là cách người Trung Quốc đọc, âm đọc tương tự từ Ullambana, và chúng chỉ liên quan đến nhau về âm đọc mà không hề nói về ý nghĩa của từ Ullambana.

Ta có thể thấy ví dụ điển hình ở trường hợp từ Phật Đà, nguyên nghĩa trong Pali ngữ là Buddha, người Trung Quốc phiên âm là Phật Đà đọc tắt là Phật, người Việt ta đọc là Bụt; còn ý nghĩa của Buddha lại là người giác ngộ. Và như vậy, ta không thể lấy âm Phật Đà rồi cho đó là ý nghĩa của Buddha được.

Trở lại với trường hợp của Ullambana, không thể lấy âm Vu lan bồn hay Ô lam bà noa cho đó là nghĩa của Ullambana. Đó là một sự lầm lẫn đáng tiếc mà nhiều người học Phật mắc phải, vì thực tế nó chỉ là âm đọc (chệch) của người Hán thôi. Lại nữa, giải thích Vu lan bồn là bồn vu lan, là cái chậu (hay bát) đựng thức ăn, hay đựng nước tinh khiết rắc hoa thơm để dâng cúng Phật, là sai lầm tiếp của sai lầm.

 

Hơn nữa, từ thế kỷ thứ VII, trong tác phẩm Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa, ngài Huyền Ứng, người Trung Quốc, đã cho rằng, Vu lan bồn là lối phiên âm sai và cách phiên âm đúng phải là Ô lam bà noa, nghĩa là treo ngược. Ngài Huyền Ứng còn cho rằng, nếu hiểu Vu lan bồn là vật chứa thức ăn thì đó là một sự lầm lẫn.

Về từ Ullambana, các nhà nghiên cứu vẫn cho là, nó có nguồn gốc trong Phạn ngữ. Tuy nhiên, các học giả lại không tìm thấy thuật ngữ này trong Phạn ngữ hay các bộ từ điển Pali. Các học giả phương Tây căn cứ vào cuốn từ điển Pali của Childer, Rhys Davids và William Stede, tìm ra từ ullambita có gốc động từ lamb (có nghĩa là treo) kết hợp với tiền tố ud (nghĩa là trên cao) để hình thành từ ullambita có nghĩa là bị treo lơ lửng hay bồng bềnh. Hai từ khác là olam-ba (vật đang bị treo) và olambo (treo ngược) cũng có nghĩa tương tự với từ ullambita. Những từ này đều có âm đọc gần với Vu lan bồn hay Ô lam bà noa trong tiếng Hán, nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy từ ullambana trong tác phẩm này.

Học giả Nhật Bản J.Takakusu thì cho rằng, Vu lan bồn là phiên âm của chữ ullumpana trong tiếng Pali. Và ullumpana là một danh từ phát sinh từ ullumpati. Ullumpana có nghĩa là cứu độ hay từ ái. Khi được giới thiệu đến xứ Tây Vực, thuật ngữ ullumpana bị hiểu lầm là ullambana. Và như thế từ gốc của Vu lan bồn không phải là ullambana mà là ullumpana. Giả thuyết này được coi là có cơ sở thuyết phục hơn cả.

Nói tóm lại, căn cứ vào các nghiên cứu của các học giả và lời giải thích của các vị thánh tăng, từ Vu lan bồn hay Ô lam bà noa được hiểu là cách phiên âm từ nguyên gốc trong Phạn ngữ hoặc Pali ngữ là ullambana hoặc ullumpana. Còn nghĩa của nó được xác lập dựa trên nội dung kinh Vu lan bồn do đức Phật thuyết khi còn tại thế và bộ Luận giải Trường Bộ kinh (Sumagalavilāsini) của ngài Phật Âm cùng bộ Luận giải Ngạ Quỉ sự (Paramatthadīpanī) của ngài Pháp Hộ. Theo đó, Vu lan bồn cần được hiểu là treo ngược, hay nghĩa đầy đủ hơn là lòng từ bi của đức Phật để giải tội treo ngược.

Nguồn gốc của lễ vu lan

 

Phát khởi lòng hiếu hạnh và thực hành tâm từ bi cứu vớt chúng sinh trong sáu cõi (trời, người, ngạ quỷ, atula, súc sinh, địa ngục) là chủ trương của Phật giáo, mà người khởi xướng không ai khác chính là đức Phật Thích Ca. Tuy nhiên, khi nhắc đến lễ Vu lan những người con Phật luôn nhớ đến đại hạnh hiếu thuận của Tôn giả Mục Kiền Liên. Trong 10 vị đại đồ đệ của đức Phật Thích Ca, Tôn giả Mục Kiền Liên được tôn xưng là thần thông đệ nhất. Ngài được chính đức Phật ấn chứng và cho phép sử dụng thần thông trong việc du hóa và hoằng pháp tế độ chúng sinh. Sách Phật kể rằng, một ngày kia, trong lúc đang dùng thiên nhãn để nhìn vào địa ngục xem các loài quỷ thực hiện hình phạt, Tôn giả Mục Kiền Liên bỗng nhớ tới mẹ. Ngài liền đưa mắt tìm kiếm trong ngục sâu tối nhất thì thấy thân mẫu bị trói treo ngược, thân hình tiều tụy, gầy như bộ xương, mệt và đói lả. Ngài dùng thần thông đưa một bình bát đầy cơm đến dâng mẹ. Nhưng khi bà vừa định ăn thì cơm ấy biến thành than đỏ rực. Tôn giả đau xót rơi lệ, đến bạch xin với Phật để cầu thỉnh đức Thích Ca chỉ bày cho cách giải thoát mẹ. Đức Phật nói với Mục Kiền Liên rằng, tấm lòng hiếu thảo của thầy thật đáng khen, nhưng khi còn sinh tiền, mẹ của thầy không sợ nhân quả, tham sân si đều có đủ, lại còn dối gạt nhiều người. Tội ấy không thể dùng sức của một cá nhân mà cứu được, thầy hãy nương oai thần của chư tăng mà giúp mẹ. Vào ngày lễ tự tứ của chư tăng sau kỳ an cư kiết hạ, hãy thiết lễ cúng dường trai tăng và nhờ vào công hạnh của chư tăng để chú nguyện, hộ niệm cho cửu huyền thất tổ và mẹ thầy. Tôn giả Mục Kiền Liên làm theo lời Phật dạy, và nhờ vậy, sau ngày lễ tự tứ năm đó thân mẫu ngài thoát nạn. Cảm ân Phật và thấy diệu dụng từ những lời chỉ bày của Thế Tôn, Tôn giả Mục Kiền Liên khuyết khích người thế gian hằng năm tổ chức lễ Vu lan, báo hiếu với cha mẹ và những người thân thích.

Cuốn Luận giải bộ Ngạ Quỷ sự (Paramatthadīpanī) của ngài Pháp Hộ đề cập ở trên có thuật câu chuyện một peta (nữ quỷ) thưa với một trưởng lão rằng: “... vốn là vợ của một người chồng chịu nhiều đau khổ trong một ngôi làng nọ. Vì bản tính hay ghen tuông và cũng vì tạo nghiệp bất thiện nên con bị đọa trong cảnh ngạ quỷ. Cầu xin ngài hãy đến nhà con để chồng con được cúng dường ngài. Xin ngài hãy hoan hỷ nhận phần cúng dường đó và chú nguyện để con sớm thoát cảnh ngạ quỷ này.” Khi nghe những lời cầu thỉnh như thế, vì thương tưởng cho nữ quỷ và vì lòng bi mẫn vô biên, các vị trưởng lão bèn đến nhà người chồng khất thực. Vừa lúc thấy những vị trưởng lão đến nhà mình, người chồng mừng rỡ ra đón và sau khi các vị ấy an tọa, anh ta bèn dâng cúng những món ăn đượm vị. Sau khi thọ trai, các vị trưởng lão bèn kể cho người chồng những gì họ đã nghe và thành tâm chú nguyện cho nữ quỷ. Ngay lúc ấy, nữ quỷ kia liền thoát khỏi cảnh khổ, được thân xinh đẹp và đêm đó nàng về báo tin cho chồng mình.

Trong Phật giáo, danh từ preta (Phạn) hay peta (Pali) thường được dùng để chỉ cho những người quá cố, vong hồn của những người đã khuất, các loài ma hay hương hồn tổ tiên trong nhiều đời. Đoạn văn trong Luận giải bộ Ngạ Quỷ sự trên đây cho ta thấy, truyền thống cúng dường chư tăng hầu cầu đảo cho những người quá cố, đã được nói đến ngay trong các văn bản Phật giáo Nguyên thủy và Vu lan bồn là một lễ hội Phật giáo thuần túy chứ không phải là một sự kết hợp giữa lễ Dīpālī của Ấn giáo thường diễn ra vào ngày 25 tháng 10 dương lịch và lễ tự tứ trong Phật giáo như một số học giả đã từng suy diễn.

Từ các trích dẫn trên và những ghi chép trong kinh Vu Lan Bồn do ngài Trúc Pháp Hộ dịch lần đầu tiên vào đời Tây Tấn ở Trung Hoa, ta có thể thấy rằng, lễ Vu lan hay Vu lan bồn là nghi lễ được phát sinh từ Phật giáo, khởi nguyên từ Ấn Độ rồi lan truyền qua kinh sách đến Trung Hoa và các nước có ảnh hưởng của Phật giáo như Nhật Bản, Việt Nam v.v. Thâm ý của lễ Vu lan là nhắc nhở việc nuôi dưỡng và thi hành lòng hiếu thuận của người con đối với ân thâm dưỡng dục đầy từ ái của cha mẹ, người thân và rộng hơn là lòng từ bi cứu giúp chúng sinh muôn loài. Chúng sinh nhiều tội nghiệp, sau khi quá vãng sẽ bị đọa vào địa ngục phải chịu nhưng hình phạt khổ cực. Nhưng những tội nghiệp ấy có thể được giải thoát nhờ vào lòng hiếu thuận và từ mẫn của những người đang sống và sự gia hộ, chú nguyện của chư tăng với oai đức và công hạnh sâu dầy qua thời gian tu tập tinh tấn của mùa an cư kiết hạ.

Thời điểm của lễ Vu lan

 

Theo như lời đức Phật chỉ dạy ngài Mục Kiền Liên, thì thời gian mà Tôn giả Mục Kiền Liên thiết lễ cúng dàng trai tăng và cầu nguyện cho thân mẫu của ngài được giải thoát nhằm vào ngày cuối của kỳ an cư, chính ngày hoặc sau ngày tự tứ của chư tăng. Như đã nói ở trên, việc coi lễ Vu lan là một phần hoặc dung hợp trong nghi thức tự tứ của chư tăng là điều không đúng. Bởi vì, lễ tự tứ có trước lễ Vu lan và là một nghi thức thuần túy hoạt động tôn giáo liên quan đến việc thực hiện, hành trì giới luật do đức Phật chế định. Tự tứ là một quy định bắt buộc trong tăng đoàn, nó được Phật chế định từ khi Ngài còn tại thế và được chư tăng duy trì cho đến ngày nay. Nghi thức này được thực hiện vào cuối kỳ an cư, ở đó chư tăng tự kiểm điểm những lỗi lầm mình đã phạm phải về thân, khẩu, ý trong thời gian qua hoặc những điều chưa nghiêm chỉnh thực hiện theo Phật chế, sau đó phải ra trước chúng tăng để thành khẩn tác bạch, sám hối và hứa sẽ tinh tấn sửa chữa và không tái phạm. Ngày đó, chư Phật và chúng tăng hoan hỷ, cùng sách tấn lẫn nhau tăng trưởng trên đường đạo. Chính vì tam nghiệp (thân, khẩu, ý) được thúc liễm, trau dồi và thanh tịnh qua mùa an cư và qua nghi thức tự tứ nên công hạnh và giới đức được tăng trưởng. Đó là năng lực thù thắng để chư tăng có thể chú nguyện cứu vớt chúng sinh. Vì vậy, nếu nương nhờ vào oai đức của chư tăng để chú nguyện cho những người đã quá vàng thì không khi nào hợp thời hơn là cuối kỳ an cư và ngày chư tăng thực hiện nghi thức tự tứ.

Đức Phật chế định, tùy vào thời gian và không gian và đặc trưng khí hậu nơi chúng tăng du hóa và sinh hoạt mà có thể tiến hành an cư kiết hạ sớm hoặc muộn tính theo mùa mưa. Luật Phật gọi đó là tiền an cưhậu an cư. Tiền an cư thường được tổ chức đối với Phật giáo theo hệ Bắc tông, diễn ra từ ngày rằm tháng 4 âm lịch đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, như truyền thống của Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Trong khi đó, Phật giáo theo hệ Nam truyền thường thực hiện hậu an cư vào thời gian từ rằm tháng 5 đến rằm tháng 8, hay có sự dịch chuyển trước hoặc sau đó một thời gian. Ngày diễn ra lễ tự tứ, vào cuối kỳ an cư, khi chư tăng tán hạ, cũng có sai khác giữa các hệ phái liên quan đến truyền thống tiền và hậu an cư này. Như vậy, lễ Vu lan, nếu đúng theo chỉ dạy của đức Phật được tiến hành vào cuối kỳ an cư nhằm ngày tự tứ của chư tăng, sẽ không được cử hành cùng một thời điểm ở các hệ phái Phật giáo khác nhau. Nghĩa là lễ Vu lan không nhất định được tổ chức vào ngày rằm tháng 7 âm lịch.

Tuy nhiên, ở Trung Hoa và Việt Nam, ngày lễ Vu lan và ngày cử hành nghi thức tự tứ của chư tăng lại xảy ra đúng vào tiết Trung nguyên, ngày rằm tháng 7 âm lịch.

Sự dung nhập của văn hóa dân gian và nghi thức tôn giáo

Đi ra từ Phật giáo, vì lợi ích của chúng sinh, ban đầu chỉ được thực hiện trong gia đình với những người đệ tử Phật, lễ Vu lan đã trở thành một nghi lễ quan trọng, gắn với đạo hiếu, thuần phong mỹ tục và những giá trị nhân bản cao cả. Vượt qua lễ hội thuần túy Phật giáo, với những giá trị cao đẹp và khế hợp của nó, lễ Vu lan đã gắn bó hài hòa với tư tưởng tôn thờ tổ tiên, uống nước nhớ nguồn, cứu giúp người trong cảnh khốn khó, bất kể là ruột thịt hay xa lạ, bất kể là sinh tiền hay quá vãng với lòng bi mẫn và tình nhân ái cao cả của con người.

Vu lan nhắc nhở chúng ta về hiếu hạnh, phẩm chất cơ bản để xây dựng một nhân cách. Và tạo nên mối liên thông trong gia đình, và trong xã hội. Một người con hiếu đễ, một gia đình hòa thuận, luôn có sự đùm bọc và nâng đỡ với tình thương yêu chính là phương thuốc căn bản để chữa lành các vết thương trong đời sống xã hội.

Từ khuôn khổ tâm linh tôn giáo, lễ Vu lan đã được phổ biến trong tâm thế xã hội. Trong thời đại phong kiến ở nước ta, hàng năm cứ đến ngày rằm tháng 7, đích thân các vị quân vương tham dự hoặc làm chủ lễ để cử hành lễ Vu lan trang trọng với mong muốn cầu siêu cho các vị tiên vương, mẫu hậu, các vị thánh nhân, công thần, các anh hùng đã hy sinh vì nước và cầu cho quốc thái dân an, xã tắc được vững bền cường thịnh. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn thư, kỷ nhà Lý, Châu bản triều Nguyễn, và sử liệu Phật giáo qua các triều đại nhà Nguyễn đều ghi lại việc này.

 

Từ một nghi lễ Phật giáo, qua quá trình gắn bó với văn hóa dân tộc, nhất là sau hai cuộc chiến tranh giành độc lập, lễ Vu lan - rằm tháng 7 cùng với tinh thần của ngày 27/7, đã đi vào cuộc sống của người dân Việt để tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc, để kết nối người sống và người đã khuất trong đạo lý uống nước nhớ nguồn, để kéo gần mỗi cá nhân xích lại trong ngôi nhà chung xã hội. Đó là nét đẹp văn hóa giàu tính nhân văn của nhân dân Việt Nam.

Ngày nay, không chỉ đối với những người có tín ngưỡng đạo Phật, mà trong tâm thế của mọi người dân Việt Nam, lễ Vu lan - rằm tháng 7, vừa là ngày kết thúc 3 tháng an cư kiết hạ của tăng ni theo truyền thống Bắc tông, vừa là ngày mọi người con nương nhờ oai đức của tăng ni chú nguyện để cầu cho cha mẹ hiện tiền được bình an, sức khỏe, không yếu đau, cầu cho cha mẹ đã khuất cùng cha mẹ và người thân trong nhiều kiếp được thoát khỏi mọi khổ nạn, thác sinh lên cảnh giới an lạc, lại vừa là dịp để dung dưỡng và thực hiện lòng từ ái với hết thảy chúng sinh, với mong cầu mọi loài đều được bình an, hạnh phúc./.

Yên Sơn

Vu lan bồn và ngày lễ rằm tháng bẩyNhững sai lầm đáng tiếc Trước khi tìm hiểu nội dung chính, chúng ta cần thống nhất một số vấn đề thuộc về công cụ, đó là ngôn ngữ. Theo lý thuyết ngôn ngữ học, ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là cái vỏ của tư duy, nhưng ngôn ngữ là khái niệm trừu xuất,
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tìm hiểu về tràng hạt trong Phật giáo
Tư tưởng của Trần Nhân Tông về vấn đề nhân quyền, tôn giáo (P1)
Ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông với đời sống văn hóa đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long
Vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Hàn Quốc, nơi hội tụ của các tôn giáo
Tìm hiểu pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975-1986
Ý nghĩa việc thống nhất Phật giáo và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981
Dấu ấn văn hóa Phật giáo trong đời sống cư dân các bộ tộc Lào
Chủ nghĩa khủng bố Islam giáo cực đoan thời hậu Bin laden
Vấn đề tôn giáo từ Đại hội đến Đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Video
Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ: Đại lễ Vesak Liên hợp quốc 2019 kết nối tinh thần Phật giáo
Người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền 600 năm tuổi thờ 8 vị Vua triều Trần
Kiến trúc độc đáo của những ngôi chùa nổi tiếng ở Lào
Linh thông cổ tự - ngôi chùa có nhiều chuyện huyền tích linh thiêng
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn