Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/11/2018 03:06 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2018
Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài
Tìm hiểu Tín ngưỡng thờ cá Ông ở xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2018
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tư tưởng của Trần Nhân Tông về vấn đề nhân quyền, tôn giáo (P1)

      Nhiều tham luận của các nhà khoa học đã nêu bật công lao đóng góp của Vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc, đối với đất nước và nhất là đối với vấn đề nhân quyền.

          Các đề tài đã nhấn mạnh một cách sâu sắc thể hiện qua nhiều lĩnh vực, ở nhiều hội thảo về Người như Hội thảo lần thứ  nhất vào năm 2000 do TT UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam tổ chức; Lần thứ 2 vào năm 2001 do Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam phối hợp UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hóa Thông tin và UBND thị xã Uông Bí tổ chức; Lần thứ 3 kỷ niệm 700 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông cũng tại tỉnh Quảng Ninh vào tháng 11 năm 2009.

      Ở đây, chúng tôi xin đề cập đến tư tưởng coi trọng nhân quyền của vua Trần Nhân Tông trong đánh giặc giữ nước, trong xây dựng và phát triển Phật giáo.

          Ngày nay, trên các phương tiện thông tin, các diễn đàn trong khu vực và thế giới, vấn đề nhân quyền luôn được nhắc đến. Chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển về khoa học và kü thuật nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải kế thừa và phát huy giá trị nhân bản về quyền của con người. Ở nước ta, khái niệm về “quyền con người” ngày càng được sử dụng rộng rãi trong tất cả mọi lĩnh vực, đời sống xã hội. Nội dung về quyền con người ở nước ta được đặt ra từ rất sớm và tồn tại suốt quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, mà điển hình là Phật hoàng Trần Nhân Tông. 

Đương thời, Trần Nhân Tông là ông vua minh triết trong lãnh đạo, dũng cảm, kiên quyết trong đánh giặc và ân tình, sâu sắc trong tu hành. Với tình thương và tâm từ bi rộng lớn, tấm lòng yêu nước và thương dân kết hợp với khuynh hướng chính trị nhạy bén của Trần Nhân Tông, «ng đã tiếp tục biên khảo bộ Hình Luật chú trọng nhiều hơn đến quyền con người của mỗi người dân. Hội nghị Diên Hồng Và hội nghị Bình Than dưới sự dẫn dắt của Trần Thánh tông và Trần Nhân tông đã nói lên điều đó. Đối diện với vận mệnh của đất nước đang lâm nguy trước giặc ngoại xâm, ông đã kêu gọi tiếng nói và sự đồng lòng của vua tôi, quần thần và nhân dân trong việc bảo vệ đất nước. Hành động đó đã thể hiện rõ chủ quyền của mỗi công dân và quyền con người rất được tôn trọng.       

Đây cũng là nhân cách lớn mà nhân dân thường tôn vinh «ng là bậc Thánh, bậc Phật. Chỉ tính cuộc đời của ông hưởng dương có 51 tuổi – kể cả tuổi mụ (1258 – 1308), làm vua được 14 năm, Thái thượng hoàng 5 năm và đi tu 9 năm. Trong 14 năm làm vua ông không chỉ đã tổ chức toàn dân và toàn quân 2 lần đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược (1285 – 1287 – 1288), rồi củng cố đất nước phát triển tôn giáo Phật sau thời hậu chiến mà 5 năm ngự ghế Thái thượng hoàng ông đã chuẩn bị một quyết định quan trọng là “XUỐNG ÁO ĐI TU”, điều khác biệt của ông dù ở cương vị nào thì Phật Hoàng Nhân Tông cũng tôn trọng nhân quyền của dân, của quan và của người tu hành một cách đặc biệt: Hai lần đánh giặc, ông cùng vua cha (lúc đó đã nhường ngôi cho ông) đã tổ chức hai cuộc gặp mặt mang ý nghĩa lớn trong lịch sử, đó là Hội nghị Bình Than (10/1282) trước khi quân Nguyên sang xâm lược Đại Việt lần thứ 2 (1285), Hội nghị này chủ trương kêu gọi binh tướng và hoàng thân quyết chí đánh giặc, muốn thế thì phải đoàn kết, phải tôn trọng quyền riêng, quyền chung của nhau. Hội nghị này các ý chí và quyết tâm của tướng sĩ đã đạt mức cao độ của lòng dũng cảm chiến đấu và chiến thắng. Tháng Chạp năm 1284, nghe tin quân giặc đã tiến vào bờ cõi, Thánh Tông và Nhân Tông lại tiếp tục triệu tập cuộc họp lớn mang tên Hội nghị Diên Hồng, tập trung các bô lão đến Thăng Long hỏi và xin ý kiến, «ng nói: “Thế giặc mạnh lắm, ta thương nhân dân quá khổ, tướng sĩ quá vất vả, cơ lực không mạnh bằng giặc, nay mời các bô lão đến đây chỉ để hỏi ta nên đánh hay nên hòa ?”. Không chút do dự, các bô lão đồng thanh cất lên tiếng hô: “ĐÁNH”. Sau hội nghị này, các bô lão đã động viên con cháu xung quân, tất cả tướng sĩ Đại Việt cùng khắc chữ trên cánh tay phải của mình hai chữ “sát thát” (giết giặc Nguyên). Sử sách còn nhắc lại và đánh giá đây là hội nghị DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN đầu tiên của nhà nước Đại Việt có tầm tôn vinh khí phách anh hùng ca của cả nước và đã đại thắng giặc Nguyên.

Trần Nhân Tông, một vị vua ảnh hưởng quyền con ngư­ời ở Việt Nam không phải chỉ đ­ược quy định trong luật pháp mà còn trong rất nhiều quy ư­ớc, thông lệ, tập tục, chuẩn mực đạo đức, giáo lý…nói lên tính “yếu ớt” của luật pháp trong quá trình điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Cách giải quyết các mối quan hệ giữa con ng­ười với con người ở xã hội Việt Nam truyền thống phổ biến là tới “thấu tình, đạt lý” nói lên sức mạnh của triết lý sống bằng tình giữ vai trò quan trọng của ngư­ời Việt Nam truyền thống và thấm nhuần tư tưởng giáo lý của nhà Phật quan niệm rằng đời là bể khổ, bao gồm: sinh, lão, bệnh, tử. Nguyên nhân của sự khổ đó là do tham, sân, si, tức là mờ đắm những thú vui trần tục cho nên diệt dục, từ bỏ mọi sự mê đắm đó là con đư­ờng thoát khổ, nó khuyến khích con ng­ười “tự giác” để “giác tha” mỗi người hãy tự cứu lấy mình, chớ tìm nơi trú ẩn ở chỗ khác.  

     Tính nhân bản về quyền con người còn được thể hiện rõ qua hành động đoái thương thân xác của các quân giặc tử trận và khoan dung tha bổng cho các tù binh bị bắt giữ. Ngoài tấm lòng yêu nước và thương dân, hành động này còn thể hiện sự nhân nghĩa sáng ngời của một nhà chính trị. Điều này đã nói lên tiếng nói của quyền được sống và quyền con người của tất cả nhân loại.

    Cuộc đời của Người có một vị trí lịch sử đặc biệt trong trường kỳ lịch sử của dân tộc ta đã nói lên khát vọng hòa bình, tự do và bình đẳng, Người sống không phải vì tham vọng chính trị, mà chọn cho mình lối sống thanh cao và thoát tục. Lòng từ bi của Người đã chuyển hóa thành tình thương thông qua đạo đức nhân bản, để từ đó quyền con người được trân quý và phát huy. Ngài không chỉ là một nhà chính trị lỗi lạc mà còn là một nhà văn hóa vĩ đại của dân tộc. Khi Ng­êi đi tu, dù chỉ tu được 9 năm thì viên tịch (mất), nhưng 9 năm ấy là cả quá trình của một người đa tài, đa năng mới có thể làm được cái năng suất công việc vừa nghiên cứu Phật học chuyên sâu, vừa đào tạo tăng đoàn chuyên trách, vừa tổ chức xây cất và trùng tu hàng trăm ngôi tam bảo, thiền viện, giáo đường và cho ấn loát nhiều bộ kinh lớn, trong đó có bộ Đại Tạng Kinh gồm 5000 quyển tập hợp đủ các chước tác của Phật và của Trúc Lâm để đào tạo truyền thống. Sách Tam Tổ Thực Lục có ghi: “Điều Ngự Giác Hoàng (Nhân Tông) rất thương yêu, tôn trọng phật tử và những người xung quanh, cả cuộc đời đi tu, Ngài luôn hành hương thuyết pháp, giảng kinh, không chịu ở yên đâu đến một năm. Ngay cả khi Ngài sắp mất đã về chùa Báo Ân, Gia Lâm tổ chức lễ truyền ngôi Nhị Tổ cho Pháp Loa, xong về Yên Tử chưa đầy một tháng thì mất.

Ngài không chỉ là bậc Hoàng đế anh minh lỗi lạc, là một nhà sư đạt quả vị Phật mà còn là một nhà văn hóa vĩ đại của dân tộc. Trong con người và sự nghiệp của Ngài, chúng ta thấy tư tưởng “Cư trần lạc đạo” Đời và Đạo không phân chia, lấy Đạo hướng dẫn con người, và lấy việc làm thực tiễn chân chính ở Đời cũng để phục vụ con người. Tấm gương và hình ảnh của Ngài là một minh chứng sâu sắc và hùng hồn cho truyền thống kiên cường, thông minh, nhân văn hằng nghìn năm của dân tộc ta từ thời Hùng Vương cho đến thời đại Hồ Chí Minh ngày nay được thể hiện dưới các thời gian trị vì của các vị vua đầu triều đại nhà Trần truyền đến Ngài, văn hóa dân tộc đã được phục hưng qua nhiều thành tựu mà sử sách đã ghi nhận, và chính nền văn hóa đầy sức mạnh nhưng cũng không kém đi tính lấp lánh nhân văn đã tạo nên cơ sở vững chắc cho công cuộc giữ nước đầy gian lao trước một kẻ thù không có địch thủ trên thế giới đương thời là quân đội Mông Nguyên. Trong những thành tố xây dựng nên nền văn hóa Đại Việt lúc đó không thể không nhắc đến vị trí và vai trò của đạo Phật, một đạo Phật chủ trương hài hòa xã hội, hài hòa tư tưởng, lấy thực tiễn vì lợi ích của người dân làm thước đo cho mọi chính sách và hành động của con người, nhưng cũng là tiêu chuẩn thành tựu cho con người tu tập trên con đường giác ngộ hoàn toàn. Đó chính là đạo Phật Việt Nam do vua Trần Nhân Tông chủ trương. Sức mạnh tinh thần của nhân dân Đại Việt nằm ở sự hòa hợp vua tôi - cha con - vợ chồng, cũng tức là sự hòa hợp ở cấp độ gia đình, cộng đồng và quốc gia.

  Hoàng Thị Tình

Tài liệu tham khảo:

- Hồ  Chí Minh nhắc lại câu nói trong bản  “tuyên ngôn nhân quyền và  dân quyền” của cách mạng Pháp 1789.

-        Sách tham khảo: Triết học chính trị về  quyền con người NXB chính trị  Quốc Gia.

-        Trần Nhân Tông – con người và tác phẩm NXB  tổng hợp TP. HCM

-        Trần Nhân Tông và tư tưởng giải phóng nội lực. Nguyễn Huệ  Chi – Trần Thị Băng Thanh

-        Tư  tưởng Hồ Chí Minh về  tôn giáo và công tác tôn giáo. NXB  tôn giáo

-        Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo. NXB tôn giáo

-        Các văn bản về  nhân quyền của nước ta và  thế giới

-        Lịch sử  Việt Nam.

Tư tưởng của Trần Nhân Tông về vấn đề nhân quyền, tôn giáo (P1)Các đề tài đã nhấn mạnh một cách sâu sắc thể hiện qua nhiều lĩnh vực, ở nhiều hội thảo về Người như Hội thảo lần thứ  nhất vào năm 2000 do TT UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam tổ chức Lần thứ 2 vào năm 2001 do Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông với đời sống văn hóa đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long
Vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Hàn Quốc, nơi hội tụ của các tôn giáo
Tìm hiểu pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975-1986
Ý nghĩa việc thống nhất Phật giáo và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981
Dấu ấn văn hóa Phật giáo trong đời sống cư dân các bộ tộc Lào
Chủ nghĩa khủng bố Islam giáo cực đoan thời hậu Bin laden
Vấn đề tôn giáo từ Đại hội đến Đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Nho - Phật trong quan điểm trị nước của Đức vua Trần Nhân Tông
Ba giá trị Phật giáo song hành cùng đất nước
Video
Giao lưu văn nghệ nhân kỷ niệm 63 năm Ngày thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ Ngày truyền thống ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo(2/8/1955-2/8/2018)
Hành trình về nguồn đong đầy ý nghĩa
Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trả lời Truyền hình VTC về “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”
Hình ảnh
Một số hình ảnh ngôi đền cổ đại khắc từ một khối đá duy nhất
Tái hiện Lễ mừng lúa mới dân tộc Xơ Đăng tỉnh Kon Tum
Ngôi chùa hơn nửa thế kỷ “không nhang khói”...
Audio
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương
Ủy ban Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước vận dụng những kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo của Việt Nam
Một số điểm mới của Luật tín ngưỡng, tôn giáo


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: Ông Dương Ngọc Tấn 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ
Email:  ttttbantongiao@chinhphu.vn