Ấn phẩm sách
Sách khảo cứu diện mạo 100 ngôi đình Việt Nam tái bản lần ba
Hạnh phúc tùy cách nhìn
Lời Phật dạy đối nhân xử thế
Từ điển tôn giáo
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?













Chọn    Xem KQ
Vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam

    Năm 1990, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 24 về công tác tôn giáo, xác định “Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”, khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ.

 Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[1] . Điều đó mở ra trang sử mới trong chính sách tôn giáo của Việt Nam. Từ đó đến nay, các cơ quan đoàn thể, chính quyền dần dần nhận thức được vai trò văn hóa tôn giáo và nhiều lĩnh vực khác, những lĩnh vực mà tôn giáo, tín ngưỡng từng có vai trò to lớn trong lịch sử Việt Nam.

Những nhận thức đó tạo điều kiện cho các tôn giáo tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. trong đó, cần phải nói tới vai trò của tôn giáo trong bảo vệ môi trường, vấn đề được thế giới quan tâm từ nhiều thập kỷ nay, nhưng còn mới mẻ ở Việt Nam, nơi hầu như chưa có những công trình nghiên cứu về vấn đề này. Bài viết này mới chỉ là những nét phác họa bước đầu.

 

I. Thuyết giảng của các chức sắc tôn giáo về vấn đề bảo vệ môi trường

 

Một thực tế là dường như ngược lại với sự phát triển kinh tế, với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa từ hơn hai thập kỷ qua cùng với sự cải thiện mức sống của người dân là thực trạng ô nhiễm môi trường ở cả thành thị và nông thôn Việt Nam đang ngày càng trầm trọng. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta nói tới những ‘làng ung thư’[2], tới vụ xì căng đan Vedan đối với nông dân một số tỉnh phía nam, vv... Đó là chưa kể hiệu ứng của quá trình biến đổi khí hậu trên quy mô toàn cầu mà, theo nhận định của các chuyên gia, Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Vấn đề môi trường có được nêu trong Pháp lệnh tín ngưỡng Tôn giáo: “Điều 14. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải đảm bảo an toàn, tiết kiệm, phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn, bảo vệ môi trường. Điều 15. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bị đình chỉ nếu thuộc một trong các trường hợp sau: 1. Xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng hoặc môi trường”[3]. Nhưng vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường hiện còn ít được các cơ quan công quyền lưu tâm. Trong khi đó, từ nhiều năm nay các chức sắc Phật giáo, Công giáo và nhiều tôn giáo khác đã có những thuyết giảng, khuyên tín đồ có trách nhiệm trước thực trạng ô nhiễm môi trường. Trên các Nguyệt san như Công giáo và Dân tộc,vv… cũng đã có những bài viết về chủ đề này[4].

Không ít người hẳn có những băn khoăn vấn đề liệu các tôn giáo có liên quan gì tới vấn đề môi trường khi mà vấn đề môi trường mới chỉ thực sự đặt ra từ thời kỳ công nghiệp hóa, trở thành bức thiết từ vài thập kỷ gần đây, trong khi các tôn giáo lớn thì đều đã có bề dày hàng ngàn năm lịch sử. Các chức sắc Phật giáo đã luận chứng về vai trò của tôn giáo trong xã hội hiện đại, giải tỏa những thắc mắc trên của nhiều người. “Mới nghe chủ đề này [Phật giáo và vấn đề bảo vệ môi trường – NQH], nhiều người cảm thấy hơi lạ và thắc mắc rằng trong kinh điển Phật giáo có đề cập đến vấn đề này hay không. Đức Phật hiện hữu trên cuộc đời này cách xa chúng ta hơn 2.500 năm, nhưng lời dạy của Ngài về cách sống tốt đẹp cho người xuất gia cũng như cho toàn nhân loại vẫn còn thích hợp với thời đại chúng ta ngày nay. Vì vậy, có thể khẳng định rằng khi triển khai tinh ba lời Phật dạy ở lĩnh vực nào của xã hội, chúng ta cũng thấy đều nằm trong Phật pháp. Vì vậy, đối với vấn đề bảo vệ môi trường ngày nay loài người mới đặt ra, trong khi đó Đức Phật đã quy định cách sống để bảo vệ môi trường từ hơn hai ngàn năm trước”[5].

Bảo vệ môi trường là một nội dung thuộc triết lý sống của nhà Phật trong xã hội hiện đại. HT Thích Trí Quảng chỉ ra sự khác biệt giữa triết lý sống của Phật giáo với triết học Tây phương. “Triết học Tây phương nhằm hướng dẫn con người chinh phục thiên nhiên và xã hội, tất cả những nghiên cứu của phương Tây dẫn nên khoa học hiện đại ngày nay đều nhằm mục tiêu khám phá thiên nhiên để chinh phục vũ trụ. Nhưng trên thực tế thì thân phận con người quá nhỏ bé. Đức Phật dạy rằng con người mang tham vọng chinh phục xã hội và thiên nhiên, nhưng sau cùng người ta lại bị xã hội và thiên nhiên đánh ngã. Tuy nhiên, theo Phật, chúng ta vẫn có thể chinh phục ngoại giới và nội giới, nếu thực hành đúng giáo pháp của Ngài. Việc chinh phục con người được Đức Phật giảng rõ trong tất cả kinh điển và chinh phục được thiên nhiên ở đỉnh cao được Phật dạy trong kinh Hoa Nghiêm. Con người sinh ra trong trời đất nhưng chinh phục được trời đất”.[6]

Các chức sắc Phật giáo lý giải nhu cầu bảo vệ môi trường xuất phát từ quan niệm về nghiệp (karma) và báo ứng, nhấn mạnh mối liên hệ nhân quả trong vũ trụ quan Phật giáo với vòng tuần hoàn sinh thái. Thế giới là một chỉnh thể thống nhất. Mất cân bằng hệ sinh thái tức là phá vỡ tính thống nhất trên của vạn vật là điều mà Phật giáo lên án. “Trong thân thể chúng ta nếu có một phần bị thương thì chúng ta sẽ bị đau toàn thân và đau cả tâm hồn. Cũng vậy, ngũ ấm thân có mối liên kết chặt chẽ với vũ trụ. Chính vì mối tương quan cộng tồn rất mật thiết giữa muôn sự, muôn vật, giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên, vũ trụ, mà Phật dạy rằng “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt”, cho nên một cái mất thăng bằng sẽ ảnh hưởng xấu đến những cái khác. Nhận thức như vậy, chúng ta phải bảo tồn các loài khác, người khác, bảo tồn xã hội, bảo tồn thiên nhiên thì đó là bảo tồn chính chúng ta. Làm chúng sinh đau khổ, làm xã hội mất thăng bằng không phải là đệ tử Phật.”[7]

Bảo vệ môi trường cũng xuất phát từ quan niệm coi giới tự nhiên như một “cơ thể vô cơ” của con người. “Quốc độ là gì? Quốc độ là thế giới, là chỗ cho chúng sinh nương tựa, tồn tại. Từ ngũ uẩn hiện ra quốc độ, cho nên Phật coi quốc độ và ngũ uẩn đều là thân của Phật. Hiểu như vậy, chúng ta coi sơn là đại địa là thân của chúng ta. Cho nên, bảo vệ môi trường sống cũng là bảo vệ Phật, vì môi trường sống chính là sinh mệnh của Phật và sinh mệnh của chúng ta cũng nhờ đây mà tồn tại”[8]. Vị Hòa thượng tiếp tục với những luận cứ vừa mang tính khoa học, vừa đảm bảo tinh thần triết lý của Phật giáo. “Bảo vệ quốc độ hay bảo vệ trái đất này là bảo vệ sự tồn tại của tất cả chúng sinh. Loài người do vô minh không nhận thấy lý này, nhưng ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học đã mở ra cho chúng ta thấy sự cân bằng thiết yếu này của môi sinh. Nếu trong hư không, chúng ta xả những chất độc hại vào, chúng ta sẽ chết vì thiếu không khí trong lành. Trong nước cũng vậy, nếu làm ô nhiễm dòng nước, bệnh tật và tử vong sẽ đến với con người. Vì vậy, bảo vệ tất cả các loài sống trên mặt đất, sống trong không khí, sống trong nước là bảo vệ sự sống của chính con người”[9].

Dưới con mắt của các chức sắc Phật giáo, bảo vệ môi trường không chỉ là vấn đề lương tâm đạo đức mà có cơ sở trong vũ trụ quan Phật giáo. Khác với các tôn giáo độc thần như Kitô giáo, Do thái giáo hay Islam giáo, Phật giáo không lý giải nguồn gốc của vũ trụ, bỏ qua một bên vấn đề thế giới này do đâu mà có. Để tạo lập cơ sở thuyết giảng các tín đồ Phật tử bảo vệ môi trường, các nhà thần học Phật giáo tìm cách lý giải hiện tượng ô nhiễm môi trường từ góc độ bản thể luận Phật giáo. Hòa thượng Thích Tâm Pháp cho rằng: “Trong lịch sử của nhân loại, chưa bao giờ con người thành công rực rỡ trong việc chinh phục thiên nhiên, nhưng cũng chưa bao giờ con người gánh chịu nhiều thiên tai, hiểm họa như ngày nay. Đây là một tiến trình xảy ra tương ứng theo lý duyên khởi của Phật giáo”[10]. Vị Hòa thượng luận chứng việc bảo vệ môi trường là một việc được đạo pháp nhà Phật khuyến khích: “Đức Phật ra đời và thành đạo không gì hơn là vì lòng thương tưởng đến chúng sanh đang khổ đau do ba độc tham, sân, si hoành hành. Do lòng tham muốn thỏa mãn nhu cầu vật chất, con người phải chịu nhiều thảm họa khổ đau. Muốn chấm dứt đau khổ, con người phải sống đúng theo chánh pháp, tức sống theo quy luật tự nhiên hay luật nhân duyên sanh khởi. Theo quy luật này, con người, loài vật, cỏ cây cùng tồn tại trong mối liên hệ hỗ tương và tùy thuộc lẫn nhau. Thiên nhiên cung cấp môi trường sống cho loài người và động vật. Ngược lại, loài người phải có ý thức bảo vệ thiên nhiên để giữ môi trường trong sạch và cân bằng sinh thái”[11].

Hòa thượng Thích Tâm Pháp khơi dậy tinh thần hướng thiện của Phật giáo, quy vấn đề bảo vệ môi trường còn là một vấn đề đạo đức. “Cách đây trên 2500 năm, thấm nhuần tiến trình nhân duyên sanh diệt, người Phật tử đã ý thức được nhu cầu cần thiết trong việc gìn giữ và bảo vệ thiên nhiên. Sau khi chứng ngộ, Đức Phật cùng chư đệ tử vẫn thích sống nơi núi non và cư trú dưới những cội cây. Ngài khuyên chư đệ tử không nên đốn phá cây cối, cho dù là chặt cành hay bẻ lá. Điều này được chứng minh rất rõ trong một đoạn kinh như sau: “Cây xanh cho chúng ta bóng mát trong lành, giúp chúng ta có nơi ngủ nghỉ qua đêm hay ngồi thiền định. Chặt cành hay bẻ lá của cây đều là hành vi phi đạo đức”[12].

Trên cơ sở đó, các chức sắc Phật giáo chỉ dẫn tín đồ bảo vệ môi trường bằng những công việc cụ thể, bắt đầu từ những công việc, việc làm đơn giản nhất nhưng lại thiết thực nhất. “Đức Phật còn chế giới không được ném bỏ rác rưởi hay khạc nhổ trên nước, vì sẽ làm ô nhiễm môi trường. Điểm nổi bật và vô cùng quan trọng nữa nhằm nói lên tính nhân đạo của Đức Phật là vào mùa mưa, Ngài dạy tăng đoàn tìm chỗ an cư thích hợp để tránh việc đi ra đường dẫm đạp lên cỏ non và giết hại côn trùng. Điều này, chẳng những chứng tỏ thái độ tôn trọng sự sống muôn loài vạn vật của Đức Phật mà còn biểu hiện lòng từ mẫn vô biên của Ngài đối với tất cả chúng hữu tình!!!” [13].

Bảo vệ môi trường có thể từ những việc làm hàng ngày đơn giản nhất, nhưng rất thiết thực. HT Thích Tâm Pháp kêu gọi “Thực hiện lời Phật dạy, người Phật tử chúng ta nên bắt tay vào việc trồng cây xanh tạo thêm bóng mát để kích thích xã hội làm sạch môi trường. Mỗi người một tay, mỗi người một câu, mỗi chùa một khuôn viên xanh nhỏ thì lo gì không có những vườn cây xanh tươi mát cho thế hệ ngày mai![14].

Bảo vệ môi trường cũng là một trong những nội dung chính trong các thuyết giảng của các vị chủ chăn Công giáo. Giới chức sắc Công giáo ở những nước phát triển đi tiên phong trong vấn đề này. Giáo hoàng Gioan Phaolô II rất có ý thức đến các vấn đề môi trường sinh thái khi tôn phong thánh Phanxicô Assisi làm bổn mạng các nhà sinh thái học. Giám mục Giampaolo Crepaldi, thư ký Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, đã đưa ra 10 nguyên tắc, mà người Kitô hữu vẫn gọi là 10 điều răn về môi trường, cụ thể như sau: “1/ Con người, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, được đặt trên tất cả các thụ tạo khác trên thế giới. Tuy nhiên, các thụ tạo đó phải được sử dụng và chăm sóc một cách có trách nhiệm. 2/Thiên nhiên không được giảm thiểu đi trở thành một đối tượng bị khai thác quá mức, cũng không được tuyệt đối hóa hoặc đặt trên phẩm giá con người; 3/ Trách nhiệm sinh thái có liên quan đến toàn bộ hành tinh trong một nhiệm vụ chung phải tôn trọng một tập thể hài hòa, cho các thế hệ hiện tại và tương lai; 4/ Trong việc xử lý các vấn đề môi trường, đạo đức và phẩm giá con người phải được đặt trước công nghệ; 5/ Thiên nhiên không phải là một thực tại linh thiêng hoặc thần linh, được đặt ra khỏi sự can thiệp của con người. Vì vậy, sự can thiệp của con người làm thay đổi một số đặc điểm của các sinh vật không phải là sai lầm, với điều kiện là con người biết tôn trọng vị trí của chúng trong hệ sinh thái; 6/ Chính sách phát triển phải được phối hợp hài hòa với chính sách sinh thái, và mọi chi phí bảo vệ môi trường trong các dự án phát triển phải được cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng; 7/ Vấn đề xóa đói giảm nghèo toàn cầu có liên quan đến vấn đề môi trường, xin nhớ rằng của cải trên trái đất phải được chia sẻ bình đẳng; 8/ Quyền có một môi trường an toàn và sạch cần phải được bảo vệ thông qua hợp tác và các điều ước quốc tế; 9/ Việc bảo vệ môi trường đòi hỏi phải có sự thay đổi trong phong cách sống, phản ánh sự tự chế và tự chủ, trên phạm vi cá nhân và xã hội. Điều đó có nghĩa là bỏ đi cái logic của chủ nghĩa tiêu thụ; 10/ Các vấn đề môi trường cũng đòi hỏi phải có một sự đáp trả tâm linh và một nhận thức lớn hơn rằng thế giới được tạo dựng là một món quà của Thiên Chúa”[15]. 

Vấn đề môi trường cũng là một chủ đề quan trọng trong các thuyết giảng của các chức sắc Công giáo Việt Nam đối với đàn chiên. Nhân sự kiện báo chí mới phanh phui về những thiệt hại do công ty Vedan đối với sông Thị Vải và nông dân trong vùng và kỳ họp Quốc hội tháng 5/2009 dự kiến đưa vấn đề vào chương trình nghị sự, Hồng y Phạm Minh Mẫn đã có Lá thư mục tử Tổng giáo phận TP Hồ Chí Minh, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc cơ bản của người Kitô hữu trong vấn đề này như sau: “Môi trường thiên nhiên là quà tặng của Đấng Tạo Hóa và là tài nguyên thiên nhiên dành cho hết mọi người. Quà tặng và tài nguyên thiên nhiên này được dành cho tất cả mọi người, chứ không chỉ dành riêng cho một ai hoặc một thiểu số nào, cũng không chỉ dành riêng cho thế hệ hiện tại mà còn cho cả thế hệ tương lai. Do đó, mọi người đều có trách nhiệm và nghĩa vụ phải tôn trọng, gìn giữ và bảo vệ môi trường sống của mình và cũng là của mọi người trong cộng đồng dân tộc cùng thế giới hôm nay”[16]. Trên cơ sở đó, Hồng y Phạm Minh Mẫn gợi ý những hành động cụ thể và thiết thực của mỗi người Kitô hữu. “Trước hết, bổn phận của người Kitô hữu là cầu nguyện cho nhà cầm quyền cũng như giới hữu trách được khôn ngoan sáng suốt trong việc đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến lực phúc lợi của người dân và rủi ro của môi trường thiên nhiên. Giáo hội Công giáo đề nghị rằng trong những trạng huống mà các dữ kiện khoa học mâu thuẫn nhau, giới hữu trách nên hành động theo nguyên lý dự phòng, nghĩa là chỉ đưa ra những quyết định tạm thời”[17].

Vị Hồng y nhấn mạnh: “Bổn phận người Kitô hữu còn là tôn trọng, gìn giữ và bảo vệ môi trường. Nếu anh chị em là những người đầu tư vào công việc sản xuất, anh chị em cần quan tâm đến tác động của việc sản xuất đối với môi trường. Mỗi người đều phải biết bảo vệ và gìn giữ môi trường sống của mình và của mọi người, không xả rác nơi công cộng, không làm mất vệ sinh trong khu xóm”[18]. Vị Hồng y kết luận Lá thư mục tử như sau: “Thánh kinh kể lại rằng khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã trao cho con người trách nhiệm chăm sóc, trông coi công trình tạo dựng của Ngài (St, 1, 28). Vì thế, đối với các Kitô hữu, gìn giữ, bảo vệ môi trường thiên nhiên không chỉ là một trách nhiệm xã hội mà còn là đòi hỏi của niềm tin, là một một nghĩa vụ cao cả, vì lẽ ta được cộng tác với Thiên Chúa trong công trình tạo dựng. Chúng ta hãy tích cực góp phần vào công trình đó để tất cả nên lời tôn vinh Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Cha yêu thương hết mọi người”[19].

Như vậy, trong khi các cơ quan công quyền còn chưa hoàn thiện hệ thống luật pháp, ngay việc tổ chức tuyên truyền cho người dân về vấn đề môi trường cũng chưa làm được bao nhiêu, thì các tổ chức tôn giáo đã đi trước một bước trong vấn đề này. Thứ nhất, chức sắc của hầu hết các tôn giáo đều đã đưa vấn đề môi trường trở thành một trong những nội dung chính trong các thuyết giảng của mình, làm cho vấn đề gần gũi với thần học hiện đại. Vấn đề môi trường rõ ràng là một trong những vấn đề mà các tôn giáo đi tiên phong trong việc thể hiện vai trò của mình trong xã hội hôm nay. Thứ hai, việc luận giải vấn đề bảo vệ môi trường, một vấn đề thuần túy của xã hội hiện đại xuất phát từ các cơ sở triết học và thần học từ trong kinh sách cho thấy, khả năng diễn giải giáo lý cho phù hợp với hoàn cảnh hiện nay. Đây cũng là một nội dung cho thấy khả năng thích nghi của các tôn giáo đối với bối cảnh xã hội hiện đại. Thứ ba, các tôn giáo, bằng các phương tiện đại chúng, dễ quảng bá, đi vào lòng người, giáo dục cho người dân có ý thức bảo vệ môi trường từ những hành động cụ thể nhất, thiết thực nhất, khơi dậy trách nhiệm xã hội cho mỗi người dân. Do vậy, những kết quả đạt được cũng thường là những cứ liệu thực chứng cả về định lượng và định tính.

II. Vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường một số địa phương

Để có thể đánh giá vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường một cách đầy đủ, cần có những nghiên cứu điền dã cụ thể. Qua những cảm quan của mình, chúng ta thấy rất rõ là các tôn giáo đã tận dụng khuôn viên và không gian của hầu hết các cơ sở thờ tự của mình cho việc trồng cây xanh. Ít có ngôi chùa, mái đình hay nhà thờ nào mà lại vắng bóng cây xanh. Tín ngưỡng bái vật giáo Việt Nam (animism) thờ nhiều cây cổ thụ, cây lâu năm. Cây đa đầu làng cũng thường trở thành một trong những điểm thờ tự của dân gian. Với quan niệm “thần cây đa, ma cây gạo” – nhiều cây cổ thụ, cây lâu năm được nhân dân tôn thờ và gìn giữ. Câu nói dân gian “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” cho thấy chùa chiền và các cơ sở thờ tự không chỉ là nơi đáp ứng nhu cầu văn hóa-tâm linh mà còn là một trong những điểm để dân chúng vãn cảnh với nhiều cây cổ thụ, cây lâu năm như bồ đề, đa, si gắn với cảnh quan thiên nhiên núi non một cách hài hòa là điều dễ thấy ở những chùa chiền, từ đô thị cho tới những vùng thôn quê hẻo lánh. Trước các ngôi đình chùa thường có ao hồ rộng rãi, hài hòa phong thủy, không khí trong lành hấp dẫn khách tứ phương. Trong bối cảnh quá trình đô thị hóa và bùng nổ dân số, vị trí của các ao hồ thuộc các cơ sở thờ tự đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ một không gian và quần thể kiến trúc đình chùa. “Cây đa, giếng nước, mái đình” thường đi với nhau tạo thành một quần thể kiến trúc tâm linh và phong cảnh của một làng quê Việt Nam truyền thống đã đi vào trong văn học từ nhiều đời nay. Dưới đây, xin điểm một số cơ sở thờ tự và địa phương trong đó để lại những dấu ấn về vai trò của tôn giáo đối với môi trường.

Đền Và ở Sơn Tây thờ thánh Tản Viên ở thôn Vân Gia, xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, Hà Nội, còn gọi là Đông Cung trong hệ thống tứ cung của xứ Đoài (Bắc Cung thuộc xã Tam Hồng, Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc; Nam Cung thuộc xã Tản Lĩnh, Ba Vì, Tây Cung thuộc xã Minh Quang, Ba Vì, Hà Nội). Ngôi đền được xây dựng cuối thế kỷ XVIII, được tu tạo lần đầu tiên năm 1829 và từ đó đến nay đã trải qua nhiều lần tu tạo[20]. Đền Và nằm giữa một đồi cây có diện tích khoảng 17.500 m2 trồng nhiều lim và các cây cổ thụ khác. Theo phong thủy, khu đồi có hình dáng con rùa (Thần Kim Quy) đang bơi về phía mặt trời mọc. Điều đáng nói là vì sự lưu truyền dân gian rằng ngôi đền rất thiêng nên không ai dám tự ý đốn các cây cổ thụ ở đồi Đền Và. Dường như Đền Và, ngoài việc phục vụ nhu cầu tâm linh của dân chúng, còn đảm đương cả chức năng tựa như một “đội kiểm lâm” hoàn hảo trông coi cảnh quan của đồi cây cổ thụ. Điều tương tự chúng ta cũng thấy đối với những quả đồi có xây dựng cơ sở thờ tự như Tây Thiên Thiền Viện ở Vĩnh Phúc, hay Học Viện Phật giáo ở Sóc Sơn (Hà Nội), vv... Nạn chặt phá rừng ở những nơi này giảm thiểu đáng kể từ khi các cơ sở thờ tự trên được xây mới, tu bổ.

Sự linh thiêng của một tôn giáo, tín ngưỡng nào đó giúp hạn chế nạn phá rừng người ta cũng thấy đối với trường hợp rừng cấm ở Hà Giang hay rừng Y Tý ở Lào Cai. Dân nơi đây tôn vinh thần rừng và có tục lệ cúng thần rừng. Những cánh rừng nguyên sinh được gọi là “rừng cấm” hoặc “rừng thiêng” được bảo vệ không phải bằng các quy định của pháp luật nhà nước mà bằng các luật tục mang tính thần bí và thiêng liêng của từng cộng đồng. Tuy không có biển “cấm chặt phá”, nhưng không ai dám xâm phạm. Người Pu Péo ở Phố Là, Đồng Văn, Hà Giang cũng có tục thờ cúng tổ tiên. Nhưng con cháu chỉ cúng giỗ các cụ tổ tiên từ 5 đời. Còn các cụ tổ tiên trước 5 đời thì không ở với con cháu nữa mà trú ngụ trong rừng. Do vậy, “rừng là nhà của tổ tiên”, nên có thể vào rừng, nhưng không được chặt phá. Với tín ngưỡng trên, người dân Pu Péo còn tự giác không được vệ sinh, phóng uế trong rừng. Những người vi phạm những luật tục bị phạt rất nặng như bị phạt phải nộp trâu, nộp phải mua dê hay nộp tiền. Phá rừng như vậy còn là một điều trái với đạo đức, là đắc tội với tổ tiên. Ngay cả việc lấy củi trong rừng cũng chỉ được phép một cách hạn chế[21].

Qua khảo sát làng Phùng Khoang, một làng Công giáo ở Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, nơi chung sống của hai cộng đồng người Công giáo và người ngoài Công giáo, chúng tôi cũng nhận thấy có sự khác biệt nhất định giữa hai cộng đồng này về phương diện bảo vệ môi trường. Là một làng được hình thành khoảng thế kỷ XVII, vốn là một làng nông nghiệp truyền thống, nhưng cách trung tâm Hà Nội chưa đầy chục km, hiện nay Phùng Khoang đang đứng trước quá trình đô thị hóa với nhiều công trình xây dựng ngổn ngang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thêm vào đó, cùng với việc quá tải về dân số, tình trạng dân ngụ cư còn nhiều hơn cả dân gốc trong làng đã gây ra nhiều vấn đề an ninh và trật tự xã hội như ma túy, mại dâm...

Qua khảo sát, chúng tôi tập trung vào đối tượng nghiên cứu ở đây chủ yếu là dân gốc. Dân trong làng chia thành 2 giáp gồm ‘giáp giáo’ và ‘giáp lương’ tương đối biệt lập nhau. Đối lại với thực trạng cuộc sống ồn ào, bụi bặm gần các đường quốc lộ, nhiều gia đình cả bên ‘giáp giáo’ và ‘giáp lương’ có vườn cây cảnh, vừa thỏa mãn thú vui của chủ nhà, vừa như để cải thiện môi trường. Có một sự tương phản. Trong khi bên giáp giáo tương đối yên tĩnh thì bên giáp lương là cả một thế giới ồn ào náo nhiệt. Khu ‘giáp giáo’ sạch sẽ hơn so với phần còn lại của làng. Việc xây cất nhà ở và các công trình dân sinh ở bên phía giáp giáo dường như cũng có quy hoạch bài bản hơn phần còn lại. Ngay cái nghĩa trang của người Công giáo vốn được gọi là “vườn thánh” cũng được xây cất cẩn thận hơn, có xây tường bao quanh với người thường xuyên coi giữ, hoàn toàn tương phản với cái bãi tha ma của người ngoài Công giáo ngay bên cạnh. Đương nhiên, một trong những lý do mà bên phía ‘giáp lương’ lộn xộn hơn bởi vì, một phần do địa thế, phần khác, hầu như các công trình công cộng, trong đó có công trình ảnh hưởng đến môi trường như chợ, lò mổ, vv… đều được chính quyền địa phương ‘ưu tiên’ xây bên phía giáp lương. Dầu vậy, người ta không thể phủ nhận được là tôn giáo có một vai trò nào đó trong vấn đề bảo vệ môi trường của làng. Cách đây mấy năm, người dân còn chứng kiến một cái ao trước cửa nhà thờ Phùng Khoang gây ô nhiễm bởi các hàng quán xung quanh. Đôi năm trở lại đây, vị cha xứ đã cho lấp cái ao này lại và trồng cây, biến đó thành một công viên nho nhỏ, tạo thêm diện tích cây xanh cho một cái làng ven đô mà mật độ diện tích cây xanh không hơn trung tâm Hà Nội bao nhiêu. Không chỉ ở Phùng Khoang mà nói chung, xứ đạo nào mà vị chủ chăn chú ý tới vấn đề bảo vệ môi trường, thường xuyên chỉ bảo dân chúng thì ở đó tình hình sẽ được cải thiện.

Và thực tế, chúng ta thấy thông thường ở những cơ sở thờ tự tôn giáo được dân chúng coi là “linh thiêng”, thì ở đó ít khi tài sản của các cơ sở thờ tự đó bị xâm phạm. Tất cả cây cối, quần thể kiến trúc, cảnh quan ở những cơ sở thờ tự tôn giáo, tín ngưỡng không chỉ có ý nghĩa về môi trường mà còn nằm trong một không gian văn hóa và tâm linh. Chính điều đó cho thấy các yếu tố nhu cầu tâm linh và bảo vệ môi trường không tách dời nhau.

Tương tự như vậy đối với trường hợp Kitô giáo. Từ cách đây hàng thế kỷ, các nhà thần học Công giáo đã coi giáo hội như thân thể của Đức Giêsu Kitô. Để vận động tín đồ bảo vệ môi trường, các chức sắc Kitô giáo đã có những diễn giải thần học mới, phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Bảo vệ môi trường xuất phát từ nền tảng thần học coi giới tự nhiên là thụ tạo của Thiên Chúa. Bảo vệ môi trường như vậy là thể hiện sự trân trọng đối với những gì Thiên Chúa ban cho con người là điều hoàn toàn logic. “Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất” (St, 1, 28).

Trên đây mới chỉ là những phác thảo về vai trò của tôn giáo trong vấn đề bảo vệ môi trường cho thấy, thứ nhất, bảo vệ môi trường không chỉ là công việc của các nhà hoạch định chính sách hay các nhà khoa học mà là công việc của toàn dân, của tất cả các tổ chức xã hội, trong đó có các tổ chức tôn giáo. Trong vấn đề này, các tôn giáo là một trong những lực lượng tiên phong trong việc vận động quần chúng tín đồ là một thực tế không thể phủ nhận. Thứ hai, nếu như bảo vệ môi trường đối với xã hội dân sự được coi như một bổn phận và trách nhiệm, một số quốc gia đã đưa vào luật pháp cho người dân, thì ở Việt Nam, các tôn giáo khác nhau đã luận chứng các cơ sở thần học và giáo lý cho việc bảo vệ môi trường. Hầu hết các tôn giáo xem bảo vệ môi trường là một phần giáo lý và nghi lễ thờ cúng của mình, như trường hợp phóng sinh đối với Phật giáo hay thờ thần cây, thần rừng, thần núi, vv… của một số tín ngưỡng bản địa. Đối với những tôn giáo, tín ngưỡng này thì vấn đề bảo vệ môi trường đã có căn nguyên thần học nằm trong nền tảng giáo lý.

Thứ ba, để phát huy vai trò của mình trong việc bảo vệ môi trường, các tôn giáo không đơn thuần dựa vào những nội dung giáo lý hay thần học liên quan tới vấn đề. Vai trò của các chức sắc tôn giáo và tổ chức Giáo hội là vô cùng quan trọng. Đối với những tôn giáo, tín ngưỡng mà không có tổ chức giáo hội, việc bảo vệ môi trường đơn thuần trông cậy vào tín ngưỡng và sự tự giác của các tín đồ. Đó là trường hợp tín ngưỡng mẫu và các tín ngưỡng bản địa Việt Nam. Khi đó, bảo vệ môi trường mang tính tự phát, xuất phát đơn thuần từ tín ngưỡng của người dân thờ thần cây, thần rừng, vv… Ngược lại, những tôn giáo mà có tổ chức giáo hội chặt chẽ, thì bên cạnh giáo lý thần học, vai trò của các vị chức sắc vô cùng quan trọng. Cơ sở thờ tự nào mà vị chức sắc quan tâm, sốt sắng thì vấn đề môi trường ở đó sẽ được cải thiện đáng kể. Thứ tư, trong thời kỳ trước Đổi mới vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, nhiều cơ sở thờ tự bị phá hủy, xuống cấp nghiêm trọng, thậm chí trở thành phế tích. Hiện nay, nhiều địa phương đang có xu hướng muốn khôi phục lại các cơ sở thờ tự đó cùng với cảnh quan, khuôn viên vốn có của các cơ sở thờ tự này. Tuy điều này đang gây cho chính quyền nhiều địa phương không ít khó khăn về thủ tục pháp lý, giải quyết tranh chấp dân sự, đền bù tài sản, vv…, nhưng nhìn chung đó là một nhu cầu chính đáng, đáp ứng với nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cũng như cải thiện môi trường hiện nay ở những địa phương đó.

Dĩ nhiên, bên cạnh vai trò tích cực của tôn giáo, tín ngưỡng trong việc bảo vệ môi trường, ta cũng thấy không ít những hiện tượng tiêu cực đối với môi trường liên quan tới cách hành xử của người dân trong khi thực hiện một số sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng như nạn đốt vàng mã, phóng sinh cả những động vật có hại như trường hợp rùa tai đỏ ở nhiều hồ ao Hà Nội, vv… Vấn đề ô nhiễm môi trường trở thành bức xúc ở nhiều lễ hội lớn tại các cơ sở thờ tự tôn giáo như Lễ hội chùa Hương, Yên Tử, Đền Bà Chúa Kho, vv... mà các phương tiện thông tin đại chúng từ lâu đã cảnh báo. Tuy nhiên, đó không phải là lỗi tại bản thân các tôn giáo, tín ngưỡng mà tại những người dân tham gia lễ hội hay những người hành nghề tôn giáo. Những người này, hoặc là do thiếu hiểu biết hoặc là cố tình lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng vì những động cơ khác nhau. Chúng ta cần phân biệt giáo lý, bản thân các tôn giáo, tín ngưỡng nào đó với những người hành nghề tôn giáo, tín ngưỡng đó. Chúng tôi chia sẻ với nhận xét của GS. Ngô Đức Thịnh: “Không có tôn giáo nào dạy con người ta làm điều ác, chỉ có con người lợi dụng nó để làm điều ác”[22].

III. Kết luận

Các tôn giáo có vai trò to lớn trong việc bảo vệ môi trường là điều hiển nhiên, không thể phủ nhận. Xuất phát từ hệ thống giáo lý, thần học đạo đức hướng thiện, các tôn giáo không gặp nhiều khó khăn trong việc giáo dục và kêu gọi tín đồ tuân thủ. Trên đây mới chỉ là những phác thảo về vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường, vấn đề cần được các cơ quan hữu trách và giới nghiên cứu quan tâm trong thời gian tới. Điều hiển nhiên là vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường trước hết đối với môi trường ở những khu vực thờ tự, những địa phương có đồng bào các tôn giáo và đối với tín đồ các tôn giáo vốn chiếm gần 1/3 dân số cả nước. Ngoài ra, do tôn giáo Việt Nam là nhiều tôn giáo có tính dung thông, đan xen với những tín ngưỡng bản địa, nên vai trò của tôn giáo hoàn toàn có thể lan tỏa tới từng gia đình, mái nhà, người dân nếu các tôn giáo thực sự phát huy được vai trò của mình. Để làm được điều này cần tới những nỗ lực từ các tổ chức giáo hội, các chức sắc tôn giáo cũng như các cơ quan chính quyền, tạo điều kiện về pháp lý và nhân lực cho các tôn giáo. Có như vậy thì vai trò của tôn giáo trong bảo vệ môi trường mới phát huy được hiệu quả./.

PGS, TS Nguyễn Quang Hưng

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Khóa IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003

Ủy ban thường vụ Quốc hội. Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2004

Lê Anh Dũng, Đạo đức học môi trường từ góc nhìn văn hóa tôn giáo. Trong: Công giáo và Dân tộc, Số 126, tháng 6/2005, tr. 80-89

Xuân Huy, Dự án bô xít: cây muốn lặng và gió chẳng dừng! Trong: Công giáo và Dân tộc, số 190, tháng 10/2010, tr. 93-98.

HT Thích Trí Quảng. Phật giáo và môi trường. Phần I. Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 68 tại chùa Phổ Quang ngày 7/6/2009. Trong: Giác ngộ.Online. Webside: http://www.giacngo.vn/phathoc/2010/04/13/52741A

Thích Tâm Pháp. Phật giáo và môi trường. Trong: Tuyển tập. Phật thành đạo. Nhiều tác giả. Phần III: Phật giáo và các vấn đề thời đại. Phỏng viết theo tài liệu "Môi Trường và Phật giáo" trong Bộ Bách Khoa Tự Điển về Sinh Thái, Môi Trường và Ô Nhiễm Môi Trường, tập 3, M. C. Chitakara (ed.), APH Publishing Corporation, 1998. Webside: http://www.quangduc.com/DucPhat/40td-tamphap.html

Giampaolo Crepaldi, Mười điều răn về môi trường. Đàn Quang Tâm dịch, Website:www.sinhvienconggiao.com

Phạm Minh Mẫn, Trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường sống – Lá thư Mục tử Tổng giáo phận Sài gòn, 28/5/2009. Đăng trong Liên đoàn công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Webside: liendoanconggiao.net/index

Ngô Đức Thịnh, Lên đồng” có phải là mê tín, dị đoan? Trả lời phỏng vấn trên Tuần Việt Nam net (tuanvietnamnet) ngày 3/7/2010

Người lao động, Báo số ra ngày 13/2/2011



[1] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Khóa IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 45-46.

[2] Trường hợp làng ung thư ở xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao, Phú Thọ là một ví dụ. Xem: Báo Người lao động, số ra ngày 13/2/2011.

[3] Ủy ban thường vụ Quốc hội. Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2004.

[4] Xem: Lê Anh Dũng, Đạo đức học môi trường từ góc nhìn văn hóa tôn giáo. Trong: Công giáo và Dân tộc, Số 126, tháng 6/2005, tr. 80-89; Xuân Huy, Dự án bô xít: cây muốn lặng và gió chẳng dừng! Trong: Công giáo và Dân tộc, số 190, tháng 10/2010, tr. 93-98.

[5] HT Thích Trí Quảng. Phật giáo và môi trường. Phần I. Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 68 tại chùa Phổ Quang ngày 7/6/2009. Trong: Giác ngộ.Online. Webside: http://www.giacngo.vn/phathoc/2010/04/13/52741A

[6] HT Thích Trí Quảng. Phật giáo và môi trường. Như trên.

[7] HT Thích Trí Quảng. Phật giáo và môi trường. Phần I. Như trên.

[8] HT Thích Trí Quảng. Phật giáo và môi trường. Phần I, Như trên.

 

[9] HT Thích Trí Quảng. Phật giáo và môi trường. Phần I. Như trên.

[10] Thích Tâm Pháp. Phật giáo và môi trường. Trong: Tuyển tập. Phật thành đạo. Nhiều tác giả. Phần III: Phật giáo và các vấn đề thời đại. Phỏng viết theo tài liệu "Môi Trường và Phật giáo" trong Bộ Bách Khoa Tự Điển về Sinh Thái, Môi Trường và Ô Nhiễm Môi Trường, tập 3, M. C. Chitakara (ed.), APH Publishing Corporation, 1998. Webside: http://www.quangduc.com/DucPhat/40td-tamphap.html

[11] Thích Tâm Pháp. Phật giáo và môi trường. Như trên.

[12] Thích Tâm Pháp. Phật giáo và môi trường. Như trên.

[13] Thích Tâm Pháp. Phật giáo và môi trường. Như trên.

[14] Thích Tâm Pháp. Phật giáo và môi trường. Như trên.

[15] Giampaolo Crepaldi, Mười điều răn về môi trường. Đàn Quang Tâm dịch. Website: www.sinhvienconggiao.com

[16] Hồng y Phạm Minh Mẫn, Trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường sống – Lá thư Mục tử Tổng giáo phận Sài gòn, 28/5/2009. Đăng trong Liên đoàn công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Webside: liendoanconggiao.net/index

[17] Hồng y Phạm Minh Mẫn, Trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường sống – Lá thư Mục tử Tổng giáo phận Sài gòn, 28/5/2009. Như trên.

[18] Hồng y Phạm Minh Mẫn, Trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường sống – Lá thư Mục tử Tổng giáo phận Sài gòn, 28/5/2009. Như trên.

[19] Hồng y Phạm Minh Mẫn, Trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường sống – Lá thư Mục tử Tổng giáo phận Sài gòn, 28/5/2009. Như trên.

[20] Cũng có ý kiến cho rằng ngôi đền đã được xây dựng từ thời nhà Đường bên Trung Quốc, tức thời Bắc thuộc, nhưng khi đó chỉ là một ngôi miếu nhỏ.

[21] Cho đến nay, người già Pu Péo vẫn truyền lại cho con cháu chuyện một gia đình kia lén lút vào rừng cấm chặt về làm nhà. Chẳng bao lâu, ngôi nhà ấy bị đá lăn làm sập. Rồi ngay trong xã có hai người vào rừng cấm chặt cây, thế là về bị ốm thập tử nhất sinh. Người Pu Péo còn nhắc nhở phải giữ cho khu rừng thiêng ấy sạch sẽ, trong lành, vào đến đấy, không ai được tiểu tiện, thậm chí không được khạc nhổ. Sở dĩ có quan niệm như vậy thì theo quan niệm của người Pu Péo thì khu rừng cấm là nơi trú ngụ của các thần Rừng, thần Núi, thần Đất, thần Trời cho nên không được làm bất cứ điều gì khiến cho các thần nổi giận.

[22] Ngô Đức Thịnh, Lên đồng” có phải là mê tín, dị đoan? Trả lời phỏng vấn trên Tuần Việt Nam net (tuanvietnamnet) ngày 3/7/2010

 

Vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt NamĐồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [1] . Điều đó mở ra trang sử mới trong chính sách tôn giáo của Việt Nam. Từ đó đến nay, các cơ quan đoàn thể, chính quyền dần dần nhận thức được vai trò văn
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Hàn Quốc, nơi hội tụ của các tôn giáo
Tìm hiểu pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975-1986
Ý nghĩa việc thống nhất Phật giáo và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981
Dấu ấn văn hóa Phật giáo trong đời sống cư dân các bộ tộc Lào
Chủ nghĩa khủng bố Islam giáo cực đoan thời hậu Bin laden
Vấn đề tôn giáo từ Đại hội đến Đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Nho - Phật trong quan điểm trị nước của Đức vua Trần Nhân Tông
Ba giá trị Phật giáo song hành cùng đất nước
Tìm hiểu về các Vương cung thánh đường ở Việt Nam
Các tôn hiệu của Đức Phật Thích ca mâu ni
Tìm kiếm
Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Tin tức Video
Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2014: Hòa bình - Tử bi - An lạc
Tôn giáo Bahai'I 60 năm hình thành và phát triển ở Việt Nam
Kết quả thực hiện chỉ thị 01 về Đạo Tin lành
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng 10 địa danh linh thiêng đẹp nhất thế giới
Ban Tôn giáo Chính phủ thanh tra chuyên ngành tại Bà Rịa Vũng Tàu
Người Việt trên thế giới tổ chức Đại lễ Vu Lan Phât lịch 2558, dương lịch 2014
Âm thanh
Phỏng vấn TS. Thượng tọa Thích Nhật Từ, Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó Ban Giáo dục Tăng Ni TƯ, Ban Hoằng pháp TƯ và Ban Phật giáo Quốc tế GHPGVN những thông tin chính về Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2014 tại Việt Nam
Nam Định thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo
Phật giáo Việt Nam trong xu hướng vận động của Phật giáo thế giới



Người chịu trách nhiệm chính:
Ông Dương Ngọc Tấn
Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Email: ttttbantongiao@chinhphu.vn
 

BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 763 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

 

LIÊN KẾT WEBSITE KHÁC