Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 22/11/2019 03:44 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Hàn Quốc, nơi hội tụ của các tôn giáo

Lịch sử tôn giáo ở Hàn Quốc có thể được coi như điểm hội tụ của các tôn giáo khác nhau tràn vào bán đảo này trong suốt quá trình lịch sử của đất nước. Có thể nói: dòng Saman giáo là tôn giáo đầu tiên, dòng Phật giáo là tôn giáo uyên thâm nhất, dòng Khổng giáo là phổ biến nhất, và ra đời muộn nhất là dòng Kitô giáo, nhưng đây lại là dòng tôn giáo sôi nổi nhất. Trong thời kì hiện đại cũng xuất hiện thêm nhiều tôn giáo khác. Tuy vậy, các tôn giáo này cùng chung sống hoà bình, chi phối lẫn nhau, trau dồi cho nhau, và cùng góp phần tạo nên đời sống tôn giáo phong phú ở Hàn Quốc.

Niềm tin tôn giáo buổi ban sơ

Trước khi có sự xuất hiện của Phật giáo ở Hàn Quốc vào thế kỉ thứ IV, đời sống tôn giáo nơi đây trội hơn về chủ nghĩa duy linh. Con người tin vào các linh hồn tồn tại trong tự nhiên như hồn núi, hồn sông, hồn của thiên đàng và sao sáng, hồn của mặt trời và mặt trăng. Do vậy, họ thường xuyên tổ chức các lễ hội theo từng mùa để phục vụ cho hoạt động nông nghiệp. Hơn nữa, con người cũng thờ phụng tổ tiên và sáng tác những câu chuyện thần thoại về thời kì nguyên thuỷ của các cộng đồng bộ tộc xa xưa. Tiêu biểu như thần thoại kể về sự ra đời của Triều đại Joseon cổ (Gojoseon), sáng lập ra triều đại này là Dan’ gun, người sinh ra từ Hwanung, con trai của chúa trời Hwanin, và một con gấu mà trước đó đã mang hình hài người phụ nữ. Câu chuyện này tượng trưng cho sự hoà hợp giữa trời và đất, một chủ đề xuyên suốt hầu hết các tác phẩm thần thoại đầu tiên của những nhà nước cổ như Puyeo (100-494 CN), Goguryeo (37 TCN-668 CN) và Silla (57 TCN-935 CN).

Tất cả các nghi lễ thờ cúng thần linh quan trọng đều do pháp sư chủ tọa. Khi một nhóm người đặc biệt được các thần linh đến thăm thì pháp sư đóng vai trò là người trung gian. Họ xoa dịu những linh hồn giận dữ và hàn gắn nỗi đau bằng việc xua đuổi linh hồn quỷ dữ. Họ cũng là những nhà tiên tri có thể đoán trước thời vận của từng cá nhân tín đồ cũng như của toàn thể cộng đồng. Nguồn tư liệu về lịch sử Hàn Quốc cổ cho thấy một số pháp sư phụng sự là cố vấn hoàng gia, giải thích ý nghĩa của các sự kiện tự nhiên bất thường nào đó và nói cho triều thần biết những việc cần làm để tránh thiên tai. Vai trò của pháp sư như người hàn gắn, nhà tiên tri, trung gian tâm linh vẫn được giữ nguyên không thay đổi trong suốt các giai đoạn lịch sử đất nước Hàn Quốc cho tới ngày nay.

Saman giáo, tôn giáo của tầng lớp bình dân

 

Saman giáo tại Hàn Quốc, có nguồn gốc từ Saman giáo Xiberi, phát triển dưới ảnh hưởng của các tôn giáo khác như Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo. Saman giáo cũng thờ nhiều vị thần Phật giáo, Lão giáo, trong khi giáo huấn đạo đức và quan điểm chung của Saman giáo về cuộc sống lại bị ảnh hưởng nặng nề bởi đạo lý và Khổng giáo. Cùng với tôn giáo dân gian, Saman giáo lần lượt chi phối Phật giáo và Kitô giáo ở Hàn Quốc. Bất kì vị khách nào tới thăm các đền, chùa Phật giáo ở Hàn Quốc, như Thánh địa Phật giáo, có thể thấy rất nhiều ngôi đền nhỏ của các vị thần và thần linh dân gian được tín đồ Phật giáo cũng như những người không theo đạo Phật thờ cúng.

Cũng cần lưu ý rằng ở Hàn Quốc, đạo Tin lành bị ảnh hưởng mạnh mẽ từ tinh thần và thông lệ của Saman giáo. Những sinh hoạt đạo mang tính chất “Saman giáo” có trong đạo Tin lành ở Hàn Quốc như kinh cầu nguyện tự phát tha thiết của các mục sư và nữ mục sư Hàn Quốc, bầu không khí đầy tinh thần trách nhiệm tại các nghi lễ thờ tự, và các quan niệm thế tục phần lớn như vậy về kinh tạ ơn thần thánh.

Tuy sự nghiệp chính trị xã hội của Saman giáo bị lệ thuộc vào những biến đổi quyết liệt trong suốt chiều dài lịch sử đất nước Hàn Quốc, và một số học giả thường phóng đại tầm quan trọng của Saman giáo trong đời sống tôn giáo nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, Saman giáo luôn là tôn giáo của những người dân lao động, luôn gần gũi với tinh thần cũng như cuộc sống thường ngày của họ. Những người theo đạo Saman giáo thể hiện những đau khổ buồn tủi của cuộc sống trong chính con người họ, và lòng tin đạo ấy tìm thấy được sự cộng hưởng từ con người. Tầng lớp thượng lưu Khổng giáo theo “chủ nghĩa duy lí” cai trị nhà nước Joseon, đàn áp Saman giáo và Phật giáo. Tuy nhiên, nhờ vào đức tin của những người dân thường mà tính ảnh hưởng của Saman giáo chưa bao giờ bị mất đi, và trong thời đại khoa học công nghệ hiện nay, Saman giáo vẫn hưng thịnh tại Hàn Quốc.

 Phật giáo, tôn giáo khơi nguồn của những tư tưởng văn hóa

 

Sự du nhập Phật giáo từ Trung Quốc đã mang lại một sự chuyển biến lớn trong đời sống tôn giáo của người dân Hàn Quốc cũng như trong nhiều lĩnh vực khác của văn hoá. Các tăng sỹ không chỉ đơn thuần đem đến một đức tin mới mà còn mang lại nền văn hoá tiên tiến của lục địa Trung Quốc. Tăng sỹ là chuyên gia về kiến trúc, chữ viết, thủ công, y dược và thậm chí về những vấn đề chính trị, ngoại giao. Xã hội Hàn Quốc có sự thay đổi khi thành lập Giáo hội Phật giáo, nhóm tăng ni độc thân theo đuổi những mục đích sống cao cả, do vậy họ hoàn toàn khác biệt với những người khác. Phật giáo đã đánh dấu bước khởi đầu của tôn giáo như một thể chế độc lập ở Hàn Quốc.

Quan trọng hơn, với nhiều khu thánh địa thờ cúng có các tượng Đức Phật và Bồ tát bằng vàng, Phật giáo đã mang đến cho dân chúng tâm điểm sùng bái rõ ràng. Phật giáo cũng đưa ra một cách nhìn thế giới mới, một kho tàng vũ trụ học Ấn Độ khổng lồ. Học thuyết về những đau khổ và tính không vĩnh cửu của cuộc sống, niềm tin vào quy luật nghiệp chướng, vòng sinh tử luân hồi trong đạo Phật đã thêm một chiều hướng mới vào sự am hiểu về đời sống cũng như sự tồn tại loài người trong mỗi người dân Hàn Quốc. Trên tất cả, mục đích tín ngưỡng cao quý của cõi niết bàn, một thế giới hoà bình tuyệt đối vượt lên trên cuộc sống hỗn độn, hay ảo mộng đến cõi cực lạc sau khi chết đã bắt đầu chiếm giữ trái tim người dân Hàn.

Tất cả những nguyên lý này đều ảnh hưởng sâu sắc đến toàn thể nhân dân Hàn Quốc nói chung, chứ không chỉ riêng những tín đồ Phật giáo. Cuộc sống là không vĩnh cửu, là bể khổ - đó là quan điểm đã quá quen thuộc, đức tin vào sự trừng phạt đạo đức đầy nghiệp chướng từ lâu đã trở thành một phần trong tinh thần người dân Hàn, ảnh hưởng đến đời sống đạo đức cũng như đức tin truyền thống của họ. Tư tưởng Phật giáo về quá trình bồi dưỡng và hoàn thiện tâm hồn tiếp tục thu hút những người trẻ tuổi đến với cuộc sống tu viện cho tới ngày nay. Trong suốt 1600 năm, Phật giáo là chỗ dựa tinh thần của số người theo tín ngưỡng tôn giáo này, khiến cho họ có khả năng đương đầu với thực tế cuộc sống khắc nghiệt bằng chính sự dũng cảm và bình tĩnh của mình.

Bất kì vị khách nào đến thăm đất nước Hàn Quốc có thể dễ dàng thấy rằng đất nước sẽ chỉ còn một nửa trống rỗng nếu thiếu đi thánh địa và những đồ thờ cúng Phật giáo. Hiếm thấy một người dân Hàn nào không đi lễ Phật, không bị ảnh hưởng sâu sắc bởi bầu không khí thanh bình của đạo Phật. Những ngôi đền thờ Phật nổi tiếng, hầu hết nằm trên những vùng núi tuyệt đẹp, thu hút rất nhiều khách du lịch đến thăm viếng trong năm, và ngày Phật Đản - Quốc lễ - là ngày tổ chức lễ hội trên toàn thể đất nước Hàn Quốc.

 Khổng giáo, hệ tư tưởng chính thống của tầng lớp phong kiến

 

Người ta không biết chính xác thời điểm đạo Khổng từ Trung Quốc du nhập vào Hàn Quốc. Nguyên nhân là do có một số vấn đề với đặc điểm riêng của Khổng giáo. Không giống với Phật giáo thường tập trung quanh cộng đồng của tu viện, nếu Phật giáo là tôn giáo thu hút được nhiều sự chú ý, thì Khổng giáo lại đặc trưng bởi giáo huấn đạo đức xã hội với tư tưởng tôn gia nên được xem là tôn giáo phổ biến. Như các học giả phương Tây theo Khổng giáo đánh giá, đây là một tôn giáo vừa mang tính thế tục nhưng lại thiêng liêng. Chúng ta không thể thấy bất kì một người truyền giáo nào hay những hình tượng trong Khổng giáo được thờ chính. Tất cả những điều này làm cho sự xuất hiện của Khổng giáo không có gì đáng chú ý đặc biệt. Nói chung, chúng ta chỉ có thể phỏng đoán rằng Khổng giáo du nhập vào Hàn Quốc cùng với ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc. Tuy nhiên, một điều chắc chắn rằng người dân Hàn đã biết đến những tư tưởng và các bộ kinh cơ bản của Khổng giáo muộn nhất là vào thế kỉ thứ tư sau công nguyên. Năm 372 là thời điểm Phật giáo chính thức được lưu vào sử sách là đã du nhập vào Hàn Quốc, và cũng là năm Hoàng đế triều đại Goguryeo (37 TCN – 668) đã thành lập học viện Khổng giáo.

Trải qua thời gian, với chế độ độc tài kèm theo bộ máy nhà nước quan liêu, tầm quan trọng của Khổng giáo được nâng cao. Do vậy, vào thời kì Silla hợp nhất (668-935) và Vương triều Goryeo (918-1392), Hàn Quốc đã trở thành nhà nước hoàn toàn quan liêu do các uỷ viên giáo hội được dạy dỗ rèn luyện trong tư tưởng và triết học chính trị Khổng giáo điều hành. Sự phát triển công cuộc Khổng giáo hoá trong xã hội Hàn Quốc đã đạt đến đỉnh điểm vào triều đại Yi của Vương triều Joseon (1392-1910), một triều đại được xây dựng rõ ràng trên hệ tư tưởng Khổng giáo. Trong suốt thời kì này, Khổng giáo dần được thiết lập vững chắc trong xã hội nước Hàn, ảnh hưởng tới mọi khía cạnh đời sống từ gia đình đến nhà nước, từ dân thường đến tầng lớp thượng lưu cầm quyền.

Ngược lại với sự hiểu lầm thông thường, Khổng giáo không chỉ là bài học đạo đức hay chính trị. Nó đã ăn sâu vào đức tin đối với Thượng đế và đường lối của Ngài, có lòng tin cơ bản đối với điều tốt đẹp của tạo hoá mà Thượng đế ban tặng. Để diễn tả và nhận thức đầy đủ về tạo hoá toàn nhân loại, một mặt con người cần phải không ngừng tu dưỡng đạo đức tinh thần, mặt khác phải xây dựng trật tự xã hội theo đường lối của Thượng đế. Hầu hết nhân dân Hàn Quốc vẫn hoàn toàn cùng chia sẻ niềm tin vào vạn vật và nhân loại. Vô số những phong tục và đức tính tốt của người dân Hàn Quốc như lòng hiếu thảo, kính trọng bề trên, quan điểm đạo đức và lòng hăng hái học tập đều xuất phát từ đạo Khổng, trong khi đó một số những mặt tiêu cực khác cũng là sự kế thừa đạo Khổng như chủ nghĩa tuân thủ xã hội, chủ nghĩa độc tài, sự phân biệt đối xử về giới và tuổi tác.

Công giáo, nơi hướng đến của những tri thức cấp tiến

 

Đạo Công giáo ở Hàn Quốc vô cùng tự hào vì trên thực tế, đạo Công giáo được những người truyền giáo nước ngoài truyền bá nhưng bắt đầu như một phong trào do chính những người dân Hàn Quốc khởi xướng. Khi được thức tỉnh với thực trạng chính trị xã hội Hàn Quốc cuối thế kỉ 18 và thế kỉ 19, những nhà trí thức đã giành thế chủ động tự nguyện đi theo đức tin mới. Trong xã hội Khổng giáo hoá toàn diện được quản lí bởi những đạo lý tôn ti khắt khe, những người sớm thay đổi tín ngưỡng sang đức tin Công giáo, đi theo lối sống mới dựa trên mối quan hệ con người thuộc chủ nghĩa quân bình phải hứng chịu hình thức ngược đãi dã man của chính quyền. Cuộc xung đột này trở nên không thể hoà giải khi một số người sớm theo đạo Công giáo đã táo bạo cự tuyệt truyền thống đạo Khổng lâu đời trong việc làm những đồ cúng bái tổ tiên, và coi đó như là một hình thức mê tín.

Sự ngược đãi đàn áp dã man, sự đau đớn tột cùng của những người theo đạo Công giáo là cái giá đắt mà Hàn Quốc phải trả cho sự chuyển dịch sang một xã hội đa nguyên hiện đại, ở đó tự do tín ngưỡng được đảm bảo là quyền công dân. Do bị đàn áp dữ dội, đạo Công giáo thuở ban đầu phải hoạt động bí mật trong gần một trăm năm cho đến khi giành được quyền tự do tôn giáo vào cuối thế kỉ 19. Sau đó, Giáo hội Công giáo lớn mạnh vững chắc, ngày nay có khoảng 4 triệu tín đồ. Tuy Giáo hội Công giáo vẫn còn khá bị động và cẩn trọng trong việc tiếp cận các vấn đề xã hội, chủ yếu là do đã từng bị đàn áp, nhưng đạo Công giáo đã thúc đẩy giáo dục hiện đại và các hoạt động khác liên quan đến thanh niên và phụ nữ trong suốt giai đoạn Nhật Bản chiếm đóng. Trong những năm 60 và 80 của thế kỷ XX, Giáo hội Công giáo Hàn Quốc đã trở thành lực lượng chủ yếu trong công cuộc bảo vệ nhân quyền và thúc đẩy công bằng xã hội.

Đạo Tin lành, luồng gió mới từ phương Tây hiện đại

 

Khác với đạo Công giáo, đạo Tin lành chủ yếu là do người truyền giáo nước ngoài, nổi trội là người Bắc Mĩ, truyền bá vào Hàn Quốc, lan rộng khắp cả nước và không bị đàn áp. Những người truyền giáo ban đầu không chỉ tham gia vào các hoạt động truyền giáo mà còn tham gia vào hoạt động giáo dục và y tế. Họ xây dựng nhiều trường học và bệnh viện hiện đại, đưa vào Hàn Quốc một loạt các hoạt động văn hoá hiện đại như âm nhạc, thể thao, tạp chí phương Tây. Sau 1500 năm, khi đạo Phật là phương tiện mang nền văn hoá uyên thâm Trung Quốc đến Hàn Quốc thì đạo Tin lành nơi đây mới giữ vai trò quan trọng trong việc giới thiệu và truyền bá văn hoá hiện đại phương Tây.

Đạo Tin lành đã có đóng góp to lớn trong việc truyền bá chữ viết cho nhân dân Hàn Quốc thông qua bản dịch Kinh thánh bằng tiếng Hàn và tầm quan trọng của chữ viết khi nghiên cứu kinh thánh. Việc khuyến khích sự tham gia của những người không theo tôn giáo vào Giáo hội Tin lành đã trở thành vùng đất màu mỡ sản sinh ra những con người mới, không còn nữa sự trung thành đối với nhà vua, mà là những công dân thực sự không chỉ trở thành những người đứng đầu giáo hội mà còn đi đầu trong rất nhiều phong trào và tổ chức xã hội. Nhiều người trong số họ trở thành nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thoát khỏi sự thống trị của Nhật Bản. Ở Hàn Quốc, không giống những quốc gia là thuộc địa của cường quốc phương Tây, Tin lành và chủ nghĩa dân tộc có thể song hành. Đây là một trong những lý do giải thích tại sao Tin lành lại phát triển mạnh mẽ ở Hàn Quốc, chứ không như ở các quốc gia châu Á khác.

Trong và sau chiến tranh Hàn Quốc, Giáo hội Tin lành lớn mạnh không ngừng. Vào những năm 1960 và 1980, khi xã hội Hàn Quốc biến đổi nhanh chóng qua công cuộc công nghiệp hoá, đô thị hoá, các giáo hội ở thành thị trở thành ngôi nhà của nhiều người đã rời bỏ quê hương lên các thành phố lớn tìm kế sinh nhai. Một số tín đồ Tin lành đã trở thành người đứng đầu trong phong trào lao động cũng như phong trào đòi dân chủ và nhân quyền. Ngày nay, Giáo hội Tin lành Hàn Quốc hầu như là giáo hội Tin lành sôi nổi nhất trên thế giới, và gửi người truyền giáo tới mọi lục địa.

Một số tôn giáo bản địa mới

 

Nhiều trong số những tôn giáo bản địa mới của Hàn Quốc như Chondogyo, Viên Phật giáo, Jeungsan-gyo, Daejonggyo tồn tại không lâu trước và trong thời kì bị Nhật Bản cai trị. Chứng kiến sự sụp đổ của triều đại cuối cùng và sự xuất hiện của các cường quốc phương Tây cùng với Kitô giáo, những người sáng lập các tôn giáo mới ở Hàn Quốc đã thấu hiểu ảnh hưởng nghiêm trọng của sự khủng hoảng quốc gia. Tất cả họ kêu gọi một niềm tin mới, một trật tự xã hội mới, những người dân thường thoát khỏi sự thống trị và khai thác của nước ngoài. Tuy không thể so sánh với các tôn giáo chính về số lượng tín đồ nhưng những tôn giáo bản địa mới này là lực lượng mạnh mẽ hăng hái trong đời sống tôn giáo Hàn Quốc ngày nay.

Ở Hàn Quốc, cũng có những người theo Hồi giáo. Hồi giáo du nhập vào Hàn Quốc bởi quân đội Thổ Nhĩ Kì, quân đội này tham gia vào chiến tranh Hàn Quốc (1950-1953) với tư cách là một bộ phận của Bộ Tư Lệnh Liên hợp quốc. Hiện nay, ở Hàn Quốc có 7 nhà thờ Hồi giáo và khoảng 40.000 tín đồ Hồi giáo.

Tôn giáo là cách thức con người hiểu và đáp lại cuộc sống và thế giới từ viễn cảnh về quy luật ưu việt của thực tế. Vì những người tham gia vào các dòng tôn giáo khác nhau cùng hòa trong mảnh đất Hàn Quốc tạo nên một luồng sức mạnh nên những người dân Hàn luôn luôn sống với viễn cảnh siêu việt, phân tích ý nghĩa và đối phó những thử thách của cuộc sống theo quan niệm đó. Mặc dù người ta thường cho rằng đàn ông và phụ nữ hiện đại đang sống trong thời đại mà đức tin và sự siêu việt đều biến mất nhưng đối với người dân Hàn ý kiến này không đúng. Về cơ bản, gần một nửa dân số Hàn Quốc vẫn tham gia các hoạt động tôn giáo, và hầu như tất cả nhân dân Hàn, bất kể sự sáp nhập tôn giáo nào, đều bị ảnh hưởng của truyền thống kế thừa Khổng giáo, cùng nhau chia sẻ những giá trị tinh thần trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, các tôn giáo đã và vẫn đang hưng thịnh tồn tại ở đất nước Hàn Quốc./.

 Tuyết Lan – Yên Sơn

Hàn Quốc, nơi hội tụ của các tôn giáoNormal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 Niềm tin tôn giáo buổi ban sơ Trước khi có sự xuất hiện của Phật giáo ở Hàn Quốc vào thế kỉ thứ IV, đời sống tôn giáo nơi đây trội hơn
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tìm hiểu pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975-1986
Ý nghĩa việc thống nhất Phật giáo và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981
Dấu ấn văn hóa Phật giáo trong đời sống cư dân các bộ tộc Lào
Chủ nghĩa khủng bố Islam giáo cực đoan thời hậu Bin laden
Vấn đề tôn giáo từ Đại hội đến Đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Nho - Phật trong quan điểm trị nước của Đức vua Trần Nhân Tông
Ba giá trị Phật giáo song hành cùng đất nước
Tìm hiểu về các Vương cung thánh đường ở Việt Nam
Các tôn hiệu của Đức Phật Thích ca mâu ni
Nội dung cơ bản về tôn giáo trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hình ảnh khai mạc Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XVII
Hàng chục ngàn người tham dự Lễ hội dừa Bến Tre 2019
Tái hiện Nghi lễ “Lẩu Then” của đồng bào dân tộc Tày
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn