Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 19/08/2019 08:30 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Vấn đề tôn giáo từ Đại hội đến Đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới

Đại hội VI (1986) là Đại hội ghi dấu mốc lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam- Thời kỳ đổi mới đất nước.

         Về lĩnh vực tôn giáo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI có ghi: “Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, thực hành chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng. Lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào theo tôn giáo đoàn kết xây dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc. Cảnh giác, kiên quyết và kịp thời chống lại âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc và phản động chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo, giữa đồng bào theo đạo này với đồng bào theo đạo khác” [1]. Như vậy, tinh thần đổi mới tư duy về tôn giáo chưa thể hiện rõ ở Đại hội VI .

      Nhận thức và chính sách tôn giáo chỉ thực sự đổi mới  sau Đại hội VI bốn năm, tức là vào năm 1990 với Nghị quyết của Bộ Chính trị số 24/NQ-TW ngày 16/10/1990. Tất nhiên, đổi mới là một quá trình không có sự vật , hiện tượng nào lại xuất hiện từ con số không, nhưng Nghị quyết số 24/NQ-TW được coi như dấu mốc lịch sử của tư duy mới của Đảng về tôn giáo. Trải nghiệm qua thực tiễn 21 năm qua càng thấy giá trị của nghị quyết này.

     Quả thật từ Nghị quyết của Ban Bí thư số 40/NQ/TW ngày 01/10/1981 đến Nghị quyết của Bộ Chính trị số 24/NQ-TW, chưa đầy một thập kỷ mà vấn đề tôn giáo được nhận thức lại gần như hoàn toàn mới. Điều này thể hiện ở 3 điểm về phương diện nhận thức:

       Một là, dự báo tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài.

       Hai là, khẳng định tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.

        Ba là, thừa nhận đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới.

   Đồng thời đưa ra ba quan điểm chỉ đạo:

       Một là, công tác tôn giáo phải vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng.

     Hai là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.

       Ba là, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo.

Những nhận thức và quan điểm cơ bản trong Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị  tiếp tục khẳng định và bổ sung thêm ở Chỉ thị 37-CT/TW của Bộ Chính trị năm 1998 và sau đó được ghi chính thức trong văn kiện của Đại hội VII.

Tư duy mới về tôn giáo của Đảng bước đầu được ghi trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991). Trong Báo cáo Chính trị có nêu: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân (NĐL nhấn mạnh). Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng; đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”[2]. Tư duy mới trên lĩnh vực tôn giáo nêu trong Nghị quyết 24, tiếp tục được thể hiện ở các kỳ Đại hội tiếp theo.

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996): "Về tôn giáo, thi hành nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

         Bảo đảm cho sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Nhà nước. Nghiêm cấm việc xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước. Nhà nước chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giúp đỡ đồng bào có đạo xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, tham gia các công việc xã hội, từ thiện.

         Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống "tốt đời, đẹp đạo"[3].

Chúng tôi cho rằng, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần này có 3 điểm về tôn giáo đáng lưu ý:

Một là, để toàn dân trong đó có đồng bào các tôn giáo sống và làm việc theo pháp luật, Đại hội VIII nhấn mạnh các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Bảo đảm cho sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Nhà nước.

Hai là, chú ý chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giúp đỡ đồng bào có đạo xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, tham gia các công việc xã hội, từ thiện.

Ba là, động viên đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống "tốt đời, đẹp đạo".

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo. Chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống của đồng bào. Đồng bào theo đạo và chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời đẹp đạo”, phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá và đạo đức của tôn giáo. Từng bước hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo.

   Nghiêm cấm lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ các dân tộc, xâm phạm an ninh quốc gia”[4].

Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đưa ra 8 quan điểm cơ bản về tôn giáo, trong đó có điểm tái khẳng định, nhưng cũng có điểm mới so với các kỳ Đại hội trước đó. Ví dụ: phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá và đạo đức của tôn giáo. Từng bước hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo. Hoặc nghiêm cấm lợi dụng vấn đề dân tộc, kích động chia rẽ các dân tộc, xâm phạm an ninh quốc gia.

         Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng, phần tôn giáo được đề cập trong mục X: “Phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể nhân dân”, trong đó khẳng định: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống "tốt đời, đẹp đạo". Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế -xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của đồng bào các tôn giáo. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dữơng cán bộ làm công tác tôn giáo. Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của nhân dân"[5].

   Vậy là, về tôn giáo và công tác tôn giáo, trong Văn kiện Đại hội X, Đảng ta nêu lên chín quan điểm cơ bản sau:

 Trước hết, Đảng ta coi: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc".

    Hai là, Đảng ta khẳng định: "Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật".

      Ba là, nêu cao tinh thần: "Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo".

 Bốn là, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo

 Năm là, động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống "tốt đời, đẹp đạo".

 Sáu là, các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ.

Bảy là, thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế -xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của đồng bào các tôn giáo .

       Tám là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo .

      Chín là, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của nhân dân.

   Vấn đề bài trừ mê tín dị đoan đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên và quan điểm này cũng được đề cập ở nhiều chỉ thị, nghị quyết, thông tư của các ngành (nhất là ngành văn hóa), các cấp. Trong Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương năm 2003 cũng đã ghi: "Nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan"[6], nhưng cả 9 kỳ Đại hội chưa thấy vấn đề này được ghi chính thức trong Báo cáo Chính trị. Vì vậy, có thể coi đây là điểm mới trong Báo cáo Chính trị của Đại hội X có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.

     Đại hội XI, vấn đề tôn giáo được đề cập ở hai văn kiện quan trọng, đó là: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển 2011) và Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI.

    Cương lĩnh ghi: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân"[7]. Còn trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương , điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc”[8].

       Như vậy, về tôn giáo và công tác tôn giáo, trong các văn kiện Đại hội XI, Đảng ta nêu lên một số quan điểm cơ bản sau:

          Một là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật.

       Hai là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngữơng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

   Ba là, tôn trọng và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo.

      Bốn là, động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

  Năm là, quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật.

  Sáu là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước.  

 Đại hội XI, tiếp tục khẳng định quan điểm đã nêu ở các kỳ Đại hội trước, nhưng cũng có những điểm mới nhất định được bổ sung, phát triển và làm rõ thêm.  Tác giả khép lại bài viết này ở đây và tiếp tục nêu những điểm mới trong Văn kiện Đại hội XI trên lĩnh vực tôn giáo ở bài sau./.

 

PGS, TS Nguyễn Đức Lữ

 

 Chú thích

[1].Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb ST, H.,1987, tr.117

2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb ST, H.,1991, tr.78

3.Đảng Cộng sản Việt Nam . Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, H.,1996 tr.126

4. Đảng Cộng sản Việt Nam .Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb CTQG, H., 2001, tr.128

5.Xem Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2006

6. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy BCHTƯ Khóa IX, Nxb CTQG, H., 2003, tr. 49.

7.Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, H., 2011, tr. 81

8.Sđd, tr. 245.

Vấn đề tôn giáo từ Đại hội đến Đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mớiVề lĩnh vực tôn giáo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI có ghi: “Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, thực hành chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng. Lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào theo tôn giáo đoàn kết xây dựng cuộc sống mới và hăng hái tham
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Nho - Phật trong quan điểm trị nước của Đức vua Trần Nhân Tông
Ba giá trị Phật giáo song hành cùng đất nước
Tìm hiểu về các Vương cung thánh đường ở Việt Nam
Các tôn hiệu của Đức Phật Thích ca mâu ni
Nội dung cơ bản về tôn giáo trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Thế giới tâm linh
Đại lão Hoà thượng Kim Cương Tử với Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 - 2001)
Biến động ở các nước Hồi giáo Bắc Phi, Trung Đông và những ảnh hưởng của nó tới các nước và Việt Nam
Đôi điều về phương thức đấu tranh bất bạo động của Phật giáo
Đôi nét về lịch sử Phật giáo Hàn Quốc
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh các hoạt động của chức sắc, chức việc tham dự cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ tại Đà Nẵng
Lễ hội Obon – Lễ Vu Lan của người Nhật Bản
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn