Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 17/10/2019 02:55 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Nho - Phật trong quan điểm trị nước của Đức vua Trần Nhân Tông

       Trần Nhân Tông, vị hoàng đế thứ ba của nhà Trần, vị vua được Phật giáo đồ Việt Nam kính phục gọi là bậc Giác Hoàng Điều Ngự, được nhân dân tôn xưng là Phật hoàng vì những đóng góp to lớn của ông trong sự nghiệp trị nước cũng như trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của đạo Phật trong đời sống xã hội. Vị vua đạo – vua đời này đã có những đóng góp không nhỏ vào nền thịnh trị của nhà Trần, một trong những vương triều được đánh giá là phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

           Ngay khi tiếp nhận vương quyền, vua Trần Nhân Tông đã phát huy và kế thừa những thành tựu trong công cuộc trị nước của hai vị vua trước là Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông, đặc biệt trong đó là những đối sách, chủ trương và những quan điểm tiến bộ về sự hòa hợp giữa đạo Nho và đạo Phật trong chính sách trị nước. Quan điểm đó vừa mang tinh thần từ bi, phá chấp, tính nhập thế tích cực của đạo Phật, vừa thể hiện đầy đủ quan điểm danh, phận của đạo Nho trong trong đời sống xã hội và trong thể chế chính trị. Bằng cách đó, vua Trần Nhân Tông đã làm cho đời sống xã hội, đời sống chính trị cũng như đời sống tinh thần dưới triều đại của mình đạt được những thành công và tiến bộ vượt bậc.

Là người say mê và chuộng đạo Phật nên hạnh nguyện xuất gia trở thành một người con Phật đến với vua Trần Nhân Tông từ rất sớm. Trong sách Tam tổ thực lục còn ghi lại rằng:“Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng thái tử, Trần Nhân Tông đã ba lần cố từ chối, nhường ngôi cho em mà không được, vua bất đắc dĩ phải lên ngôi. Vào một đêm nọ, vua vượt thành trốn ra ngoài, định vào núi Yên Tử, nhưng khi đến chùa Tháp, núi Đông Cứu[1] thì trời vừa sáng, lại vì quá mệt nên phải vào nghỉ trong tháp. Vị tăng chùa ấy thấy vua tướng mạo khác thường, liền đem thức ăn lên mời. Ngày hôm ấy, thái hậu đem chuyện thuật lại đầy đủ với Thánh Tông. Vua liền sai quần thần đi tìm khắp bốn phương, Nhân Tông bất đắc dĩ phải về”. Đức vua Trần Nhân Tông phải về và miễn cưỡng lên ngôi nhưng vẫn để tâm nghiên cứu đạo Phật. Cũng trong Tam tổ thực lục kể lại rằng: “Khi Nhân Tông lên ngôi, tuy ở chốn cửu trùng cao sang mà vua vẫn sống thanh tịnh. Vua thường ngủ trưa ở chùa Tư Phúc trong đại nội. Một hôm mơ thấy trên rốn nở một bông sen vàng lớn như bánh xe, trên hoa có Phật vàng, có người đứng bên cạnh chỉ vua hỏi: Biết người này không? Đức Biến Chiếu Tôn đấy. Giật mình thức dậy, vua đem giấc mộng ấy thuật lại với Thánh Tông. Thánh Tông lấy làm lạ. Do đó, vua thường dùng chay lạt, chẳng dùng thức mặn, khiến long nhan trở nên gầy yếu. Thánh Tông thấy lạ hỏi, vua cứ thực nguyên nhân mà nói. Thánh Tông khóc nói: Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con như vậy thì thịnh nghiệp của tổ tông biết làm thế nào? Vua cũng rơi nước mắt”. Từ đó, vua chuyên tâm về với việc đời. Ở điểm này, Trần Nhân Tông đã có nhiều nét tương đồng với Trần Thái Tông. Nhà vua luôn thể hiện hai con người trong mình, một con người của dân tộc, lĩnh trách nhiệm của người đứng đầu đất nước, làm tròn bổn phận của người làm con, nhưng đồng thời cũng tồn tại một con người của Phật giáo vì đạo pháp, vì tăng đoàn. Nói rộng ra, đây cũng chính là sự gắn bó, hoà hợp của hai thực thể, giữa một bên là phần đời, được ràng buộc bởi thể chế chính trị của Nho gia và một bên là phần đạo với tinh thần từ bi, hỉ xả của đạo Phật. Trần Nhân Tông đã hài hoà gắn kết khéo léo cả hai thực thể này. Khi chưa đủ duyên ngộ để xuất gia đi tu thì nhà vua trở về chăm lo việc đời, nhưng vẫn đêm ngày tham cứu đạo Thiền, không hề sao lãng.

 

         Cả Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đều có mong muốn được xuất gia đứng trong hàng ngũ của tăng đoàn, nhưng chỉ có Trần Nhân Tông là thực hiện được việc này một cách trọn vẹn và toàn diện. Khi đã quyết định về với đời, nhà vua đã đem hết tài năng, trí tuệ và đức độ của mình để phục vụ dân tộc. Và khi quyết chí xuất gia đến với đạo Phật, nhà vua đã dồn hết tâm sức để làm xương minh giáo hội, rạng rỡ tăng đoàn. Sự kiện xuất gia đi tu của vua Trần Nhân Tông đã làm cho Phật giáo thời bấy giờ có những thay đổi đáng kể. Thiền phái Trúc Lâm mà Trần Nhân Tông sáng lập, đã thống nhất sự phân chia của các hệ phái Phật giáo, củng cố lại tăng đoàn, trang nghiêm giáo hội và đưa hoạt động của Phật giáo đi vào nề nếp, ổn định hơn.

Trong Tam Tổ thực lục có chép: "Năm Giáp Thìn, Tổ Trúc Lâm đi dạo trong nhân gian khuyên dân chúng giữ Ngũ giới và tu Thập thiện". Đây là tính tích cực đem Phật giáo vào nhân gian, trước xây dựng con người, cá nhân tốt thì gia đình tốt, gia đình tốt thì quốc gia tốt. Vì bảo vệ sinh mạng con người, khuyên giữ giới không sát sinh; bảo vệ tài sản của người, khuyên giữ giới không trộm cướp; bảo vệ hạnh phúc gia đình, khuyên giữ giới không tà dâm; bảo vệ uy tín và giá trị con người khuyên giữ giới không nói dối; bảo vệ sức khỏe trí tuệ và trật tự xã hội; khuyên giữ giới không uống rượu. Người dân trong nước đều giữ được năm giới thì đất nước thật sự thái bình, dân chúng vui vẻ hát ca, không còn phải lo sợ. Cao hơn, vua khuyên tu mười điều thiện, tức là thân không sát sinh, trộm cướp, tà dâm, miệng không nói dối, nói hai lưỡi, nói hung dữ, nói thêu dệt, ý bớt nóng giận, tham lam và si mê. Người mà thân - miệng - ý khéo tu mười điều lành sẽ trở thành bậc hiền nhân. Người phật tử khéo tu Ngũ giới và Thập thiện là đóng góp một phần cho quốc gia xã hội được tốt đẹp an vui. Được vậy, đạo Phật mới thật sự chuyển cảnh khổ thành cảnh vui, chuyển con người phàm tục thành con người thánh thiện.

         Chính sự vận dụng linh hoạt, khéo léo đó đã đem lại cho vua quan nhà Trần những sức mạnh phi thường và giúp nhà Trần thu phục lòng người một cách hiệu quả. Chính Trần Nhân Tông đã sử dụng tiềm năng của Phật giáo để phục vụ chính trị. Sự kiện xuất gia của nhà vua cũng như những năm hành đạo trong dân gian của nhà vua đã khiến cho phái Phật giáo Trúc Lâm trở nên một lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ cho triều đại. Anh Tông sau khi nhường ngôi cho Minh Tông cũng đã có ý định xuất gia để nối nghiệp của Nhân Tông nhưng chưa làm được thì mất. Một điều nên ghi nhận là những ông vua ấy tuy muốn sử dụng tiềm lực Phật giáo để liên kết nhân tâm nhưng không phải vì vậy mà họ giả danh là nhà tu hành. Họ là những phật tử chân chính có ý nguyện phụng sự đạo Phật với sự phụng sự quốc gia và triều đại của họ.

Thấy được những mặt tích cực của tôn giáo để hành xử trong xã hội, vua Trần Nhân Tông đã làm cho lòng người trong thiên hạ nhất tâm quy thuận mà không sinh lòng phản trắc. Hướng con người đến với những giá trị chân, thiện, mỹ của Phật giáo nhưng cũng không quên việc trị quốc dựa trên nền tảng Nho gia. Con người dù có tốt đẹp đến mấy nhưng không được trọng dụng, không được phát huy tài năng phục vụ cho quốc gia, dân tộc thì cũng là sự uổng phí mà thôi. Do đó, việc giáo dục cần phải song song ở cả hai phương diện: Tinh thần phá chấp, từ bi hỉ xả của Phật giáo cũng như tư tưởng danh, phận của Nho gia.

Trong Tam Tổ thực lục chép rằng: "Năm Mậu Thân, sư vâng lệnh làm trụ trì nối dòng pháp ở chùa Siêu Loại[2]. Để khai đường và làm lễ trao truyền, vua cho đặt bài vị của liệt tổ, cho tấu đại nhạc, đốt hương thơm, Điều Ngự dẫn sư lên lễ tổ đường xong. Sau khi ăn cháo, sai tấu nhạc, đánh trống pháp, tập hợp đại chúng lên pháp đường. Bấy giờ Anh Tông xa giá đến chùa. Sau khi đặt ngôi chủ khách xong, vua Anh Tông vì là Đại thí chủ của Phật pháp đứng vào ngôi khách ở pháp đường, Thượng tể đem bá quan đứng ở dưới sân. Điều Ngự lên toà thuyết pháp. Giảng xong bèn đi xuống, đỡ sư lên toà. Điều Ngự đứng đối diện chắp tay hỏi han. Sư đáp lễ xong nhận pháp y mặc vào, Điều Ngự bèn bước sang một bên, ngồi trên ghế khúc lục nghe sư thuyết pháp. Đem chùa Siêu Loại của sơn môn Yên Tử sai sư kế thế trụ trì làm đời thứ hai của dòng Trúc Lâm. Lại đem ngoại thư kinh sử 100 hộp và Đại tạng 20 hộp nhỏ chép bằng máu chích ra để mở rộng việc học nội và ngoại điển".

Chỉ qua việc trao truyền đạo pháp của Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông cho Đệ nhị Tổ Trúc Lâm Pháp Loa này thôi, ta cũng đã thấy được tinh thần cốt lõi và lí tưởng về mẫu người xã hội dưới thời Trần mà Trần Nhân Tông đã đề cập. Việc trao truyền cho Pháp Loa 100 hộp kinh sử ngoại thư cùng với 20 hộp kinh Đại tạng chép bằng máu và dặn dò Pháp Loa phải mở rộng cái học bên trong và bên ngoài đã chứng tỏ, học Phật giáo không có nghĩa là loại bỏ những cái học bên ngoài Phật giáo và học những môn bên ngoài Phật giáo không có nghĩa là loại bỏ những cái học Phật giáo. Điều đó không chỉ thể hiện quan điểm giáo dục của vua Trần Nhân Tông và của Phật giáo đồ Việt Nam mà còn thể hiện rất rõ chủ trương "giáo lí của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời"[3] của vua Trần Thái Tông. Mẫu người lí tưởng này, như vậy, phải là mẫu người được giáo dục toàn diện. Không phải là học kinh nhà Phật rồi chối bỏ kinh điển nhà Nho, không phải là học kinh nhà Nho rồi phủ nhận hoàn toàn kinh điển nhà Phật. Việc đó phải luôn luôn được tiến hành song song và coi đó là hai nguồn tri thức bổ trợ, tương hỗ lẫn nhau và việc thực hiện giáo lý của tôn giáo nào cũng phải vì mục tiêu xây dựng và phát triển xã hội. Học Nho, học Phật không chỉ phục vụ cho những việc bên trong nhà Nho, nhà Phật mà còn cho cả những lợi ích bên ngoài của Nho hay của Phật. Trần Nhân Tông muốn xây dựng một hình mẫu con người, mà ở đó, bao trọn cả tinh thần, tinh hoa của Phật giáo và Nho giáo, bởi nếu chỉ quan tâm đến phần đạo thì Đệ Nhất Tổ Trúc Lâm đâu cần truyền kinh sử ngoại thư để làm gì? Nếu chỉ mong muốn có một bậc kế thừa khư khư giữ lấy tư cách của một nhà tu hành chỉ biết thiền định và giảng kinh khô khan thì đâu cần phải dặn dò mở rộng cái học bên trong và bên ngoài? Điều mà Trần Nhân Tông quan tâm và mong mỏi đó chính là, cho dù có là người tu hành theo đạo, thì cũng phải có đủ kiến thức và hiểu biết cả những điều bên trong và bên ngoài giáo lý của tôn giáo mình. Đó cũng chính là hình mẫu con người lý tưởng mà Trần Nhân Tông muốn và đã nêu ra.

Thể hiện sự nhập thế, nhằm đưa Phật giáo đến với quảng đại quần chúng nhân dân, phát huy những yếu tố tích cực của Phật giáo trong xã hội, làm cho con người sống tốt hơn, ý nghĩa hơn chính là mục tiêu mà Trần Nhân Tông đưa ra, đó vừa là để trợ giúp điều hành quốc gia, vừa là để “tác Như Lai sứ, hành Như lai sự” của một người con Phật.

         Khi đạo Phật được vua chúa quý trọng thì các nhà quyền quý và trăm họ đều hướng vào, chùa chiền càng nhiều thì nếp sống thanh quy khó có thể bảo đảm được. Tăng chúng càng đông thì càng có nhiều phần tử bất hảo làm hại thanh danh tăng đoàn, sự kính trọng càng nhiều thì niềm kiêu hãnh càng thêm cao, sự cúng dường càng hậu thì sự ỷ lại càng tăng. Thực ra, ngay từ thời Trần Thái Tông, những vấn đề về tăng đoàn đã đặt ra cho nhà nước nhiều bức xúc cần giải quyết, Thái Tông đã từng nêu lên những tình trạng này của Phật giáo dưới triều đại của mình. Như trong bài Sám hối nhãn căn tội (Khoá Hư lục), vua đã chỉ ra rằng:“Khi thấy Tam bảo, khi tới chùa chiền, gần Phật gần kinh mắt không thèm ngó. Phòng tăng điện Phật, gặp gỡ gái trai, cuối mắt đầu mày, ham mê sắc dục, không sợ hộ pháp, không sợ Long thần, trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi”. Thậm chí là hơn thế nữa: “Chẳng riêng người tục, đến cả thầy tăng, kinh luận tranh giành, cùng nhau công kích. Chê cả sư trưởng, nhiếc cả mẹ cha”. Đến thời Trần Nhân Tông, những việc bài xích Phật giáo còn diễn ra trầm trọng hơn, đến mức mà:

Miệng như bồn máu chê bai Phật

Răng như cây gươm bổ vào rừng thiền

Một sớm kia chết phải sa vào đại ngục

Thật đáng cười khi cứ niệm Nam mô Quan Thế Âm.

                                                         (Sư đệ vấn đáp)

Trong thời thịnh đạt của Phật giáo Trúc Lâm, được xuất gia làm một nhà tu hành trong tăng đoàn là một vinh hạnh không nhỏ, tăng sĩ có độ điệp của giáo hội nên đi đâu cũng được. Nơi cư trú cho đến việc học Phật và tu Phật của người tăng sĩ đều được nhiều tổ chức lo lắng chu toàn. Vì vậy, mà số lượng tăng sỹ đã tăng lên nhanh chóng.                      

         Đức vua Trần Nhân Tông lớn lên được giáo dục trong môi trường văn hoá của vương triều, được tắm mình trong không khí của thiền gia, do vậy, trước các hiện tượng suy thoái của xã hội, của tôn giáo, là người đứng đầu quốc gia, tất nhiên, đức vua sẽ phải trăn trở để tìm ra hướng giải quyết cho vấn đề này, làm sao phải đưa ra được một giải pháp vừa có lợi cho dân, vừa có ích cho đạo. Và đức vua Trần Nhân Tông đã tìm ra một cách thức rất khoan hòa và nhân ái. Nhà vua không dùng biện pháp sa thải tăng đạo như cách làm của Trần Thuận Tông: “Năm Bính Tý, mùa xuân, tháng Giêng, Trần Thuận Tông xuống chiếu sa thải các tăng đạo dưới năm mươi tuổi, bắt phải hoàn tục. Lại tổ chức thi cho những người thông hiểu kinh giáo, ai đỗ thì cho làm Đường đầu thủ, tri cung, tri quan, trị tự còn lại thì giáng xuống cho làm người hầu của người tu hành”. Trần Nhân Tông cũng không dùng chính sách cực đoan như sau này các vị vua nhà Lê đã làm, đó là: “Năm 1429, vua Lê Thái Tông xuống chiếu bắt tất cả các tăng sĩ Phật giáo và đạo sĩ Lão giáo đều phải đến trình diện và kiểm xét khảo thí. Ai thi đậu thì cho làm tăng sĩ và đạo sĩ, còn ai thi hỏng thì bắt hoàn tục”. Đây là hành động đầu tiên của chính quyền Nho giáo để kiểm soát Phật giáo và Lão giáo.

Trần Nhân Tông đã dùng những cách thức rất Phật giáo, một mặt nhà vua với vai trò là một thiền sư đã tích cực đi hành hóa trong dân gian, mặt khác, cũng tiến hành các bước cải tổ giáo hội, trong Tam Tổ thực lục cho biết là số người xin xuất gia đông quá, khiến Đệ Nhị tổ Pháp Loa thực hành việc kiểm tra tự viện và sổ tăng tịch, Pháp Loa cũng phải giới hạn việc tổ chức giới đàn, ba năm mới tổ chức một lần để hạn chế số người xuất gia.

Trong cách ứng xử của Trần Nhân Tông với đạo Nho và đạo Phật, tinh thần cư trần lạc đạohòa quang đồng trần đã được phát huy một cách triệt để:

Ở trần vui đạo hãy tuỳ duyên

Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền

Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm

Vô tâm trước cảnh hỏi chi Thiền.

                                 (Cư trần lạc đạo phú)

         Tinh thần “cư trần lạc đạo” của Trần Nhân Tông đã trở thành kim chỉ nam định hướng trong việc thực thi các chính sách dưới thời Trần. Đây đồng thời cũng là sự thể hiện tinh thần phá chấp của Phật giáo trong sự nhập thế tích cực. Sự gắn bó giữa đạo và đời càng được cụ thể hoá khi Trần Nhân Tông cũng thống nhất quan điểm “sơn bản vô Phật, duy tồn hồ tâm” (trong núi vốn không có Phật, Phật ở chính trong tâm) của Trần Thái Tông khi khẳng định:

“Bụt ở trong nhà

Chẳng phải tìm xa

Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt

Đến cốc hay chỉn Bụt là ta”

(Cư trần lạc đạo phú)

         Điều đó khẳng định con người cần gạt bỏ cái tâm mê muội để tìm đến chính giác. Tính Phật luôn có sẵn trong mỗi con người mà không cần phải nhọc công tìm kiếm nơi đâu, điều quan trọng là con người có biết tìm đến với tâm Phật sẵn có hay không. Do đó, sự giác ngộ có thể đến ở bất cứ đâu, đặc biệt là giữa cuộc đời đầy hệ luỵ mà con người vẫn đạt được bến bờ giác ngộ thì giá trị càng tăng lên gấp bội. Bởi vì bất cứ một đất nước nào cũng là một cộng đồng dân tộc với nhiều trách nhiệm và nghĩa vụ, không ai có thể tồn tại bên ngoài xã hội. Do vậy, vua Trần Nhân Tông đã ca ngợi và quý trọng sự giác ngộ ở giữa cuộc đời đầy dẫy phiền luỵ và liên đới, chính nhà vua cũng là một thí dụ điển hình:

 Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc

Sơn lâm chẳng cốc, hoạ kia thực cả đồ công.

(Cư trần lạc đạo phú)

         Sự kết hợp con người đạo đời càng thể hiện cụ thể và rõ ràng hơn khi Trần Nhân Tông, khẳng định vai trò của đạo - tức Phật giáo và đời tức Nho giáo, trong một mối tương quan. Sự kết hợp này là cần thiết và thực sự đem lại hiệu quả cũng như ý nghĩa cho công cuộc trị nước:

“Sách Dịch xem chơi, yêu tính sáng hơn yêu châu báu

Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim”

                              (Cư trần lạc đạo phú)

Như thế, đạo và đời đâu có xa rời nhau, mà ngược lại đạo và đời còn gắn bó, bổ sung cho nhau. Ở đây, đạo chính là sự biểu hiện của Phật giáo và đời chính là sự biểu hiện của Nho giáo. Vua Trần Nhân Tông đã lĩnh hội và phát huy được tinh thần trong tư tưởng về sự phân công Nho - Phật của vua Trần Thái Tông. Sống đời mà vui đạo theo vua Trần Nhân Tông là một cuộc sống thiền, có thể dùng các phương pháp thiền khác nhau nhưng có chung một mục đích là giác ngộ, làm cho con người sống tốt đẹp hơn, nhân ái hơn, đoàn kết hơn.

         Sự kết hợp Nho – Phật trong một xã hội với những mối tương quan khăng khít chính là để thoả mãn cho sự đòi hỏi bức thiết của một giai đoạn Phật giáo mới trong xã hội, giai đoạn người phật tử phải thực hiện nhiệm vụ dân tộc của mình, đồng thời phải tạo cho Phật giáo một sức sống mới, bằng cách đưa giáo lý vào trong việc thực hiện nhiệm vụ dân tộc, mà bản thân vua Trần Nhân Tông là một điển hình nổi bật.

Những biện pháp, những chủ trương mà Trần Nhân Tông cũng như các vị vua nhà Trần đã sử dụng đều nhằm mục đích chấn hưng và ổn định lại Phật giáo, bởi vì những tác động và ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội là rất lớn. Chính sách điều chỉnh này cũng nhằm tiễu trừ những hành vi lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tăng đoàn để làm những điều gây ảnh hưởng đến uy tín và vai trò của tôn giáo. Một lần nữa chúng ta lại thấy ở đây tầm nhìn và việc thực thi chính sách hết sức đúng đắn, phù hợp và xác đáng của vua Trần Nhân Tông. Nhìn nhận từ khách quan, thực tế để có thể đưa ra những quyết sách gắn với khách quan và thực tế đó chứ không chỉ có cái nhìn phiến diện, một chiều. Và đồng thời chúng ta lại càng thấy khâm phục các vị vua nhà Trần, những con người đã sống cách nay 6,7 thế kỷ mà đã có những tư tưởng hết sức mới mẻ và mang tính thời đại.

Với những chính sách đúng đắn đó, vua Trần Nhân Tông đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình khi giữ vững bờ cõi, giữ vững nền độc lập tự chủ dân tộc. Sức mạnh để làm nên những điều đó không gì khác chính là sức mạnh của tinh thần đoàn kết và cố kết nhân tâm, thông qua những triết lí, những đạo đức, những điều gần gũi và bình dị của tôn giáo để thu phục, xây dựng lòng người nhất tâm đồng thuận. Và không ai khác, chính những vị vua nhà Trần, trong đó một đại diện xuất sắc là Trần Nhân Tông, đã đề ra và thực hiện điều này một cách triệt để và hiệu quả nhất.

Dưới thời Trần, tôn giáo không chỉ là nhu cầu tinh thần, không chỉ là chỗ dựa để gửi gắm tâm tư, tình cảm mà hơn thế tôn giáo đã gánh vác trên vai trọng trách của mình trong việc đoàn kết nhân tâm, thu phục lòng người. Và do đó tôn giáo đã có được một chỗ đứng đặc biệt trong xã hội nhà Trần. Các tôn giáo dưới thời Trần không chỉ được đề cao, tôn trọng mà còn được tạo mọi điều kiện tốt nhất để phát triển, được dành cho những chính sách tốt nhất để phát huy được những giá trị tích cực của mình. Và ngược lại, các tôn giáo cũng đã có những tác động, ảnh hưởng lên đường lối trị quốc của những người đứng đầu nhà nước đời Trần nhằm ổn định và phát triển xã hội, giữ gìn bờ cõi và đất nước phồn vinh.

Nhà Trần tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển bắt nguồn từ sự thấm nhuần tinh thần và tư tưởng phù hợp của tôn giáo đối với xã hội. Không thể phủ nhận một điều rằng nhà Trần đã ưu ái với Phật giáo, tạo điều kiện cho Phật giáo được tự do phát triển, và ngược lại Phật giáo cũng góp phần vào việc hòa bình, ổn định và thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Nhưng không vì thế mà những chính sách của nhà Trần, đối với Phật giáo nói riêng, cũng như đối với tôn giáo nói chung, chỉ mang tính phiến diện, một chiều. Khi tôn giáo được sùng chuộng quá mức sẽ không tránh khỏi sự lạm dụng tôn giáo để làm những điều gây hại đến uy danh của tu sỹ, của giáo hội, làm thay đổi bản chất tốt đẹp của tôn giáo. Và vì thế, tuy rất sùng bái Phật giáo, vua Trần Nhân Tông cũng không quên việc định hướng phát triển đạo Phật, hạn chế sự lợi dụng Phật giáo vào những mục đích không phù hợp. Để cho các tôn giáo phát triển đồng đều trong hoàn cảnh thực tế của lịch sử. Quan điểm đó, tinh thần đó đã được Trần Nhân Tông thấu hiểu và áp dụng thành công vào công nghiệp trị nước. Điều đó là nhân quả cho sự thái bình thịnh trị của nhà Trần trong suốt hàng trăm năm./.

Nguyễn Phúc Nguyên - Vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ

Ảnh Minh Phúc st

 

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Đỗ Văn Hỷ, Trần Thị Băng Thanh, Phạm Tú Châu, Thơ văn Lý - Trần, Tập 2, Nhà Xuất bản Khoa học – Xã hội, 1988.

2. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nhà Xuất bản Văn học, 2000.

3. Hoàng Văn Lâu: dịch và chú thích; Hà Văn Tấn: hiệu đính, Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Viện Khoa học – Xã hội Việt Nam, Nhà Xuất bản Khoa học - Xã hội, 1998.

4. Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 2006.

5. Ngô Đức Thọ: dịch và chú thích; Hà Văn Tấn: hiệu đính, Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Viện Khoa học - Xã hội Việt Nam, Nhà Xuất bản Khoa học - Xã hội, 1998.

6. Viện Sử học, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 1, Nhà Xuất bản Giáo dục, 1998.

7. Yên Tử sơn Trần triều thiền tông chỉ nam truyền tâm quốc ngữ hành Bản in chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang, năm Bảo Đại thứ 7.

8. Tam Tổ thực lục, kí hiệu A786, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.



[1] Nay là xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

[2] Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng từ thời Lý gắn liền với sự tích người con gái hương Thổ Lỗi nên duyên cùng vua Lý Thánh Tông, sau này trở thành Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Sau sự biến bức tử Dương Thái Hậu cùng 76 cung nữ (1073), Hoàng Thái Hậu hối lại “dựng chùa thờ Phật, trước sau hơn trăm sở để sám hối và sửa oan”, trong đó có chùa Báo Ân trên quê hương Bà. Hương Thổ Lỗi năm 1068 đổi thành hương Siêu Loại, do đó chùa còn có tên gọi là chùa Siêu Loại.

[3] Trần Thái Tông – Thiền tông chỉ nam tự.

 

Nho - Phật trong quan điểm trị nước của Đức vua Trần Nhân TôngNgay khi tiếp nhận vương quyền, vua Trần Nhân Tông đã phát huy và kế thừa những thành tựu trong công cuộc trị nước của hai vị vua trước là Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông, đặc biệt trong đó là những đối sách, chủ trương và những quan
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Ba giá trị Phật giáo song hành cùng đất nước
Tìm hiểu về các Vương cung thánh đường ở Việt Nam
Các tôn hiệu của Đức Phật Thích ca mâu ni
Nội dung cơ bản về tôn giáo trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Thế giới tâm linh
Đại lão Hoà thượng Kim Cương Tử với Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 - 2001)
Biến động ở các nước Hồi giáo Bắc Phi, Trung Đông và những ảnh hưởng của nó tới các nước và Việt Nam
Đôi điều về phương thức đấu tranh bất bạo động của Phật giáo
Đôi nét về lịch sử Phật giáo Hàn Quốc
Khái quát về chính sách tôn giáo của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam (1858-1954)
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền trên vách thủy tinh - 'kỳ quan nhân tạo' độc đáo Thái Lan
Lễ Sene Đolta của đồng bào Khmer
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn