Ấn phẩm sách
Giới thiệu sách: Văn hóa Tín ngưỡng và thực hành Tôn giáo người Việt
Giới thiệu sách: Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam
Giới Thiệu Bản Dịch Kinh Thánh Việt Ngữ 2011
Giới thiệu sách - Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền chùa, miếu phủ
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?













Chọn    Xem KQ
Nội dung cơ bản về tôn giáo trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng

Sự đổi mới nhận thức về tôn giáo của Đảng ta được đánh dấu bằng Nghị quyết  24-NQ/TW  của Bộ Chính trị năm 1990.

            Đến Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) lần đầu tiên quan điểm mới ấy đã chính thức được ghi nhận trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng, khi khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng; đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”[1].

Tiếp đến Đại hội VIII, IX và X , những quan điểm mới về tôn giáo đựợc bổ sung dần và từng bước hoàn thiện. Lộ trình đổi mới trên lĩnh vực này được tiếp tục trong các kỳ Đại hội XI vừa qua.
 
      Một điều dễ nhận thấy là, trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa thời kỳ nào mà Đảng, Nhà nước ta lại xây dựng được hệ thống quan điểm chủ trương, chính sách và pháp luật tôn giáo đầy đủ và hoàn thiện như ngày nay.
 
       Vừa qua toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó có bà con là tín đồ các tôn giáo theo dõi và gửi gắm niềm tin vào sự kiện chính trị trọng đại nhất của năm 2011, đó là Đại hội Đảng lần thứ XI.
 
       Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 12-1-2011 đến ngày 19-1-2011, tại thủ đô Hà Nội. Những văn kiện quan trọng của Đại hội lần này đã phản ánh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đống thời cũng là thành quả của quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và phát triển lý luận sau 20 năm đổi mới đất nước, trong đó có đổi mới tư duy về tôn giáo.
 
Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI một số văn kiện quan trọng thể hiện quan điểm của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo, đó là:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển 2011) khái quát: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân "[2].
- Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, về vấn đề tôn giáo được nêu chi tiết nhất: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc[3] .
 
         Như vậy, về tôn giáo và công tác tôn giáo, trong các văn kiện Đại hội XI, Đảng ta nêu lên một số quan điểm cơ bản sau:
 
          Một là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, được nêu ra và tái khẳng định nhiều lần qua các kỳ Đại hội Đảng. Ngaytừ khi mới thành lập, trong Chỉ thị của Thường vụ Trung ương về thành lập Hội Phản đế đồng minh, ngày 18/11/1930, Đảng ta đã khẳng định: "Tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do đi lại trong và ngoài nước, tự do tín ngưỡng (NĐL nhấn mạnh), tự do khai hóa"[4] . Đến  Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng vào tháng 2-1951 cũng ghi: “Đối với tôn giáo. Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng (NĐL nhấn mạnh)"[5]. Cho đến nay, Đảng ta đã trải qua 11 kỳ Đại hội, trong đó có 6 kỳ Đại hội của thời Đổi mới, thì quan điểm trên không hề có sự thay đổi.
 
         Hai là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc.
 
    Theo Hồ Chí Minh, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng không chỉ là quyền con người mà còn là thành quả của cuộc đấu tranh vì dân chủ của nhân loại.
 
 Đảng ta cũng từng nhắc nhở: “Cần làm cho cán bộ và nhân dân nắm được tinh thần của chính sách bảo đảm tự do tín ngưỡng, phân biệt vấn đề tín ngưỡng của nhân dân với việc đế quốc lợi dụng tôn giáo, phân biệt tín đồ tôn giáo với bọn phản động đội lốt tôn giáo. Cần đề phòng tư tưởng lệch lạc như: chỉ thấy phải bảo đảm tự do tín ngưỡng của nhân dân mà không thấy cần phải ngăn ngừa và trừng trị bọn lợi dụng tôn giáo để phá hoại. Hoặc trái lại, chỉ thấy phải trừng trị bọn phản động mà không chú ý đến tín ngưỡng của quần chúng, sợ quần chúng vạch sai lầm của cán bộ, không muốn phổ biến rộng rãi bản Sắc lệnh hoặc giải thích sai lệch đi”[6].
 
 Mọi thời kỳ lịch sử và ở tất cả các quốc gia dù có chế độ chính trị thế nào thì nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vẫn luôn song hành với nhau.
 
  Có tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng mới có thể chống được âm mưu lợi dụng tôn giáo, ngược lại có chống việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo mới có thể làm cho đồng bào có đạo có được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thực sự. Trong Báo cáo Chính trị Đại hội XI nêu: “Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc”. Thiết nghĩ việc “Chủ động phòng ngừa… với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc” là điểm mới ở Đại hội lần này.
 
    Ba là,tôn trọng và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo.
 
Trong Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1990, lần đầu tiên Đảng ta thừa nhận đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Đến Chỉ thị 37-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1998, công nhận: “Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy".Đến Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khoá VIII còn nêu cả mục 8 về “chính sách văn hoá đối với tôn giáo”. Và Đại hội IX, Đảng ta chính thức khẳng định trong Báo cáo Chính trị: “Phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá và đạo đức của tôn giáo” [7]. Một lần nữa, tại Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam lại nhắc lại quan điểm này: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”. Đại hội XI, Đảng ta không chỉ nêu: “Phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo” mà còn cần “tôn trọng” những giá trị ấy. Vấn đề này, lần đầu tiên được đưa vào văn kiện Đại hội XI, mà trước đó tinh thần ấy chỉ thấy trong nguyên tắc đầu tiên của Chỉ thi 37-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1998: “Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy”.
 
Thông qua sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người, tín ngưỡng, tôn giáo đã tô đượm cho văn hóa dân tộc nhiều sắc màu. Đảng ta chủ trương: Bảo tồn, phát huy những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc.
 
 Sự tồn tại của tôn giáo cũng có nghĩa là một trong biểu hiện bảo lưu văn hoá, mà văn hoá vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển con người. Không thể xem nhẹ những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể đã từng ẩn chứa và thể hiện qua tín ngưỡng, tôn giáo.
 
Những điều cấm kỵ, răn dạy trong giáo lý các tôn giáo đều mang giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc.Tôn giáo nào cũng mang tính trừ ác hướng thiện, khuyên con người làm lành, tránh dữ; góp phần khẳng định “cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác”. Chính điều đó đã góp phần ngăn chặn, hạn chế những ham muốn, dục vọng ở con người - nhất là khi xã hội có xu hướng tôn sùng vật chất, khuyến khích tiêu thụ, đam mê đồng tiền thái quá như ở một số quốc gia hiện nay. Tôn giáo đưa: “Chủ nghĩa cấm dục lên thành một trong những nguyên tắc đạo đức cơ bản của tôn giáo thế giới, mới có khả năng cuốn hút quần chúng nhân dân bị áp bức” [8].
 
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, bên cạnh những giá trị tốt đẹp về văn hóa và đạo đức có trong tôn giáo, thì cũng  cần phải lên án hiện tượng phi nhân tính, phản văn hóa trong hoạt động tôn giáo đang làm vẩn đục bầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của con người. Những biểu hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cuồng xi, thái quá gần đây cần phải hạn chế, loại bỏ.
 
      Bốn là, động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
   Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) có ghi: "Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống "tốt đời, đẹp đạo"[9]. Đại hội IX, Đảng ta nhắc lại: Đồng bào theo đạo và chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời đẹp đạo”. Đến Đại hội X nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng và chính quyền là: "Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống "tốt đời, đẹp đạo". Đại XI tái khẳng định quan điểm này và có bổ sung thêm đối tượng nữa cần động viên là “các tổ chức tôn giáo”.
 
Tín đồ và chức sắc các tôn giáo vừa là người có đạo, đồng thời cũng là công dân. Họ có quyền lợi và nghĩa vụ như mọi công dân khác và trong họ đều mong muốn được sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa ” gắn liền với “yêu nước” để cho "nước vinh, đạo sáng".
 
Những năm qua, có nhiều tấm gương của các vị chức sắc, tín đồ các tôn giáo đã làm trọn bổn phận “dân Chúa” vẫn chu toàn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc. Đồng bào có đạo hăng hái hoạt động xã hội góp phần xứng đáng vào sự nhiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Động viên, khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện cho đồng bào có đạo tham gia ngày một sâu rộng vào những hoạt động: kinh tế, văn hóa, xã hội, nhân đạo…là thiết thực tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
          Năm là, quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật.
 
       Trước khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Nhà nước ta đã công nhận 16 tổ chức tôn giáo của 6 tôn giáo. Từ khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Nhà nước ta đã tăng cường xem xét công nhận và cấp giấy cho các tổ chức tôn giáo hoạt động cho 16 tổ chức của 6 tôn giáo nữa .
 
        Như vậy, cho đến năm 2011, Nhà nước ta đã công nhận cho 32 tổ chức của 12 tôn giáo. Nhìn chung, sau khi các tôn giáo được công nhận, bà con tín đồ đều an tâm, phấn khởi sống “tốt đời,đẹp đạo”. Mọi người đều thấy rõ được quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và các tổ chức tôn giáo đều hoạt động trên tinh thần ích nước lợi dân, tuân thủ pháp luật. Về các tổ chức tôn giáo, Đại hội Đảng lần thứ X mới chỉ nêu: “Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ"[10]. Trong Báo cáo Chính trị ở Đại hội lần này nêu rõ: “Quan tâm và tạo mọi điều kiện (NĐL nhấn mạnh) cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương , điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật”[11].
 
     Điều này thể hiện tầm nhìn mới của Đảng đối với các tổ chức tôn giáo hợp pháp.
 
       Sáu là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước.
 
        Để cho những quan điểm chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, mỗi khi Đảng ta đưa ra những quan điểm về tôn giáo thì Nhà nước kịp thời thể chế hóa bằng những văn bản pháp quy.
 
Do biến đổi của thực tiễn, do phát triển của tư duy lý luận mà quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cũng luôn vận động. Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước như một quy luật của sự phát triển.
 
       Vấn đề tôn giáo được nêu trong các văn kiện Đại hội XI đã thể hiện một lộ trình đổi mới tư duy của Đảng trên lĩnh vực tôn giáo. Có những quan điểm được nêu lên từ các kỳ Đại hội trước mà Đại hội XI tái khẳng định, có những quan điểm phát triển lên, nhưng cũng có những điểm mới được bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn. /.
 
PGS, TS Nguyễn Đức Lữ
 
 
                      Chú thích
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb ST, H.,1991, tr.78
2. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, H., 2011, tr.51
3. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, H., 2011, tr. 81   .
4. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng  toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, H., tr. 101.
5. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng  toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, H., 2002, tr. 21.
6. Xem Chỉ thị 29- CT/TU ngày 27/6/1955 của Ban Bí thư
7. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX . Nxb CTQG, H., 2001, tr.128.8..C.Mác-Ph. Ăng ghen-toàn tập, Nxb CTQG, H., 1995, tập 22, Tr. 687).
9. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, H.,1996 tr.126.
10. Xem Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2006.
11. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, H., 2011, tr. 245.
Nội dung cơ bản về tôn giáo trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của ĐảngĐến Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) lần đầu tiên quan điểm mới ấy đã chính thức được ghi nhận trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng, khi khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Thế giới tâm linh
Đại lão Hoà thượng Kim Cương Tử với Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 - 2001)
Biến động ở các nước Hồi giáo Bắc Phi, Trung Đông và những ảnh hưởng của nó tới các nước và Việt Nam
Đôi điều về phương thức đấu tranh bất bạo động của Phật giáo
Đôi nét về lịch sử Phật giáo Hàn Quốc
Khái quát về chính sách tôn giáo của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam (1858-1954)
Vài nét về cách xưng hô trong đạo Phật
Tứ Diệu đế trong giáo lý đạo Phật
Giải mã pho tượng Đức Ông bí ẩn ở chùa Bộc
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam
Tìm kiếm
Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Tin tức Video
Đời sống tôn giáo trong thời kỳ đổi mới
Yêu lắm Trường Sa
Tự hào con Lạc cháu Hồng
Hình ảnh
Hình ảnh Lễ Lá tại quê hương Chúa Giêsu 2014
Lễ Khánh thành Thánh Thất Đặng Giang
Triển lãm ảnh về Trưởng Dòng truyền thừa Gyalwang Drukpa đời thứ XII của Phật giáo Nepal
Âm thanh
Nam Định thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo
Phật giáo Việt Nam trong xu hướng vận động của Phật giáo thế giới
Đại lễ Phật đản ở Thừa Thiên Huế (Phật lịch 2556)



Người chịu trách nhiệm chính:
Ông Nguyễn Thanh Xuân
Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Email: ttttbantongiao@chinhphu.vn
 

BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 763 . Fax: 043 8 256 300
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

 

LIÊN KẾT WEBSITE KHÁC