Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 22/11/2019 01:56 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Khái quát về chính sách tôn giáo của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam (1858-1954)

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), chính thức xâm lược Việt Nam. Ban đầu, chính quyền nhà Nguyễn đã có những chiến lược và sách lược nhằm đánh lại "bọn man rợ lì lợm hải ngoại"(chữ của vua Tự Đức dùng để chỉ người Pháp)([1]).

Tuy nhiên, do nhiều lí do khách quan và chủ quan khác nhau, đến năm 1862, cùng với sự nhượng bộ về chính trị, kinh tế, triều đình Huế đã ký Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) với thực dân Pháp và thực dân Tây Ban Nha, trong đó Điều 2 quy định về tự do theo đạo Công giáo: "Thần dân của hai nước Pháp và Tây Ban Nha được phép thờ phụng Chúa Kitô trong vương quốc An Nam, và thần dân của nước An Nam, bất kể là ai, có ước muốn đón nhận và tin theo đạo Chúa Kitô, đều được phép làm như vậy một cách tự do và không bị hạn chế. Nhưng không một ai không muốn trở thành Kitô hữu mà lại bị bắt buộc làm như vậy…"([2]).

Sau khi Hiệp ước Nhâm Tuất được kí kết, đạo Công giáo có điều kiện phát triển ở Việt Nam, nhất là ở Nam Kỳ. Điều kiện này ngày càng trở nên rõ rệt khi chính quyền thực dân Pháp ở Nam Kỳ có sự hỗ trợ về mặt vật chất cho Hội Thừa sai Paris, tiêu biểu như: trả lương không những cho các thừa sai Pháp([3]) mà còn cả các linh mục và thày giảng người Việt, chu cấp tiền bạc xây dựng các trường đào tạo thày giảng, xây cất các nhà thờ và nhà nguyện mới, trợ giúp một số cộng đoàn Kitô hữu, hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động từ thiện xã hội do Hội Thừa sai Paris tổ chức,… Tuy nhiên, sự hỗ trợ Công giáo của chính quyền thực dân Pháp giai đoạn này chỉ duy nhất đối với giáo phận Tây Đàng Trong. Các giáo phận còn lại trong vùng thuộc địa của Pháp ở Đông Dương như Cao Miên (Campuchia), An Nam (Trung Kỳ) và Bắc Kỳ đều phải tự lo liệu nhờ những nguồn tài chính thu được tại địa phương và nhờ sự viện trợ của Quỹ Thánh bộ Đức tin.
 
Ngày 15 tháng 3 năm 1874, triều đình Huế kí với thực dân Pháp Hiệp ước Giáp Tuất. Điều 9 của Hiệp ước này đã tạo nhiều đặc quyền mới cho Công giáo. Giáo hội hầu như không còn bị hạn chế trong việc mua bán và kế thừa tài sản. Giáo dân được bảo vệ khỏi sự sách nhiễu của nhà nước phong kiến Nguyễn. Những điều xúc phạm đến Công giáo trong Huấn thị Thập điều của vua Nguyễn phải được xóa bỏ. Phẩm giá của các giáo sĩ Công giáo người bản xứ phải được bảo vệ. Nội dung cụ thể Điều 9 của Hiệp ước Giáp Tuất như sau:
 
“Nhà vua An Nam công nhận rằng đạo Công giáo dạy người ta làm điều lành, nên bãi bỏ mọi sự cấm đoán đã ban ra đối với đạo này và cho phép mọi thần dân được tự do đón nhận và thực hành đạo ấy. Do đó, người Kitô giáo trong nước An Nam được phép tụ họp và thờ phụng trong nhà thờ không giới hạn số người. Họ sẽ không vì bất cứ lẽ gì mà bị buộc phải thực hành những việc làm trái với tôn giáo ấy, hoặc phải chịu kiểm tra đặc biệt. Họ sẽ được thu nhận vào tất cả các kỳ thi công cộng và vào các công sở, mà không bị buộc phải làm những hành vi mà tôn giáo đã cấm.
 
Nhà vua đồng ý rằng sổ kiểm tra số người Kitô giáo thu thập được trong mười lăm năm qua sẽ được huỷ bỏ và về phương diện kiểm tra dân số cũng như hộ tịch, người Kitô giáo sẽ được đối xử giống như các thần dân khác. Nhà vua cũng đồng ý phục hồi cái lệnh cấm khôn ngoan đối với việc dùng các từ ngữ phỉ báng đạo trong lời nói cũng như trong văn viết và đã sửa lại những điều trong bản Huấn thị thập điều có dùng những từ ấy.
 
Các giám mục và thừa sai được phép tự do vào trong nước và đi lại trong các giáo phận bằng một thông hành do Thống đốc Nam Kỳ cấp và được Thượng thư Bộ Lễ hoặc Tổng đốc mỗi tỉnh phê chuẩn. Họ được phép rao giảng giáo lý đạo Công giáo ở khắp nơi. Họ sẽ không phải chịu sự giám sát đặc biệt nào và các làng sẽ không phải báo cáo về sự hiện diện của họ hoặc lúc đến lúc đi của họ cho các quan. Các linh mục người An Nam, cũng như các thừa sai, sẽ được phép hành xử tự do phận sự mục vụ của mình. Nếu hành vi của họ có đáng trách và nếu hành vi ấy theo luật pháp đáng bị phạt - bằng roi hay gậy, hình phạt ấy sẽ được đổi thành một hình phạt tương đương khác. Cácgiám mục, thừa sai và linh mục sẽ được quyền mua hay thuê mướn đất và nhà để xây nhà thờ, bệnh viện, trường học, cô nhi viện và bất cứ kiến trúc gì nhằm mục đích thờ phụng. Những tài sản đã bị tịch thu của người Kitô giáo vì lý do tôn giáo và vẫn còn bị giữ sẽ được trả lại cho họ. Tất cả các điều khoản trên không miễn trừ khoản nào đều áp dụng cho các thừa sai người Tây Ban Nha cũng như các thừa sai người Pháp.
 
Một chiếu dụ của nhà vua được ấn hành ngay sau khi trao đổi sự phê chuẩn, sẽ công bố trong mọi thôn xóm quyền tự do mà nhà vua đã thuận cho người Kitô giáo trong vương quốc của Người”([4]).
 
Sau Hiệp ước Giáp Tuất, các thừa sai đã chú tâm khai thác những lợi thế chính trị và tôn giáo mới được cải thiện. Tại Trung Kỳ, họ đã thuyết phục được nhà cầm quyền cho phép các cộng đồng Công giáo trở thành “các cộng đồng tự trị” được miễn thuế. Trong khi ấy, Giám mục Puginier ở giáo phận Tây Đàng Ngoài yêu cầu triều đình Huế cho phép các thừa sai được trực tiếp quan hệ với các quan chức cao cấp ở tỉnh trong mọi tranh chấp có liên hệ tới giáo dân.
 
Những minh chứng nêu trên cho thấy, trong giai đoạn đầu xâm lược Việt Nam, nhờ sự câu kết và trợ giúp đắc lực của thực dân Pháp, đạo Công giáo ngày càng phát triển. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam đã được bình định, và nhất là việc nhóm Cộng hòa cấp tiến lên nắm chính quyền từ năm 1891 đến năm 1914, ở nước Pháp cũng như ở Đông Dương, đã diễn ra mạnh mẽ phong trào chống giáo sĩ Công giáo. Với khu vực Đông Dương, phong trào này bắt đầu từ thời điểm nắm chính quyền của Toàn quyền Lanessan (1891).
 
Khi nhậm chức, Lanessan đã đẩy mạnh việc bình định bằng hòa giải chính trị. Vị Toàn quyền này khuyến khích sự cộng tác của người Việt bằng cách phục hồi và củng cố thẩm quyền hành chính của các cơ quan Việt Nam. Tại Bắc Kỳ, các viên chức Việt Nam được các công sứ người Pháp bớt giám sát và cho phép họ được tự do hành động nhiều hơn cũng như có nhiều sáng kiến hơn trong việc quản lí nền hành chính tại địa phương. Uy tín của ông kinh lược sứ - một ủy viên người Việt của nhà vua tại Bắc Kỳ - cũng được củng cố. Việc này, cùng với một số chiến thuật xoa dịu khác, tiêu biểu như việc trợ cấp của Toàn quyền cho Phật giáo và sự tham dự các buổi lễ chính thức của Phật giáo, đã là "điều xỉ nhục" đối với Công giáo (lời của Giám mục Puginier tại bục giảng Nhà thờ Chính toà Hà Nội).
 
Giai đoạn Toàn quyền Lanessan tại chức cũng là thời kỳ khởi đầu của chiến dịch báo chí chống giáo sĩ Công giáo ở Đông Dương. Trong thập niên 90 thế kỷ XIX, nhiều tờ báo đã tấn công các thừa sai Công giáo. Tiếp theo, với sự thay đổi trong liên minh giữa phái Cộng hòa Pháp với phái cánh tả cấp tiến sau năm 1899, chiến dịch bài giáo sĩ và Giáo hội Công giáo ở Đông Dương còn diễn ra mạnh mẽ hơn, nhất là vấn đề sở hữu tài sản của Nhà Chung. Chiến dịch này đã gây áp lực với chính quyền đòi trưng thu toàn bộ tài sản của Giáo hội Công giáo Pháp cũng như Giáo hội Công giáo Tây Ban Nha.
 
Ngày 1 tháng 7 năm 1901, Đạo luật liên hệ đến khế ước thành lập các hiệp hội (thường gọi tắt là Đạo luật 1901) được Quốc hội Pháp ban hành. Mục đích của đạo luật ấn định những điều kiện để những dòng tu Công giáo nào chưa chính thức được phép hoạt động có thể nộp đơn xin phép và tiếp tục hoạt động ở Pháp. Rõ ràng, mục đích ban đầu của đạo luật chỉ nhằm áp dụng có chọn lựa, chứ không phải để áp dụng thật khắt khe, và điều quan trọng hơn là nó chỉ nhằm đến một vài dòng tu chưa được phép hoạt động, chứ tuyệt nhiên không nhằm vào các dòng truyền giáo ở các xứ thuộc địa. Chương 3, Đạo luật 1901 ấn định các điều khoản về dòng tu Công giáo như sau:
 
“Điều 13: Không có dòng tu nào được phép thành lập mà không do luật pháp cấp giấy phép trong đó có ấn định rõ những điều kiện nó được hoạt động. Dòng ấy không được phép thiết lập cơ sở mới, trừ khi được một sắc lệnh của Hội đồng Nhà nước cho phép. Việc giải thể dòng ấy, hoặc đóng cửa bất cứ phải được công bố bằng một sắc lệnh do Nội các ban ra.
Điều 14: Không ai được phép cai quản, điều hành dù trực tiếp hay qua sự uỷ nhiệm, bất cứ một cơ sở giảng dạy thuộc bất cứ loại nào, hoặc giảng dạy ở đó nếu cơ sở ấy là sở hữu của một dòng tu chưa được phép hoạt động...
Điều 15: Dòng tu nào cũng phải giữ sổ sách về các khoản chi và thu, mỗi năm phải lập bản kết toán tài chính về năm trước và một bản kê biên bất động sản và động sản...
Điều 16: Bất cứ dòng nào được thành lập mà không có giấy phép sẽ bị trừng phạt theo Điều 8, Khoản 2 và những người sáng lập dòng ấy sẽ bị hình phạt nặng gấp đôi, và sẽ bị tuyên bố là bất hợp pháp.
Điều 17: Mọi giao ước giữa những người còn sống hoặc những dàn xếp theo di chúc liên quan đến việc trả tiền, hoặc bằng sự tặng giữ và được thực hiện trực tiếp hoặc bằng uỷ quyền, hoặc bằng bất cứ một cách gián tiếp nào khác, hay bất hợp pháp,... đều sẽ bị coi như bất hợp lệ và vô hiệu.
Điều 18: Các dòng tu đã có vào lúc đạo luật này được công bố mà trước đây vẫn chưa được cấp giấy phép hoặc thừa nhận, phải chứng minh trong vòng 3 tháng rằng mình đã có những nỗ lực cần thiết để tuân hành các điều khoản của luật này. Không làm như thế, các dòng ấy sẽ coi như bị giải tán theo luật. Các dòng bị từ chối cấp giấy phép cũng vậy...”([5]).
 
Tuy nhiên, sau cuộc tuyển cử năm 1902, khi Emile Combes, một nhân vật chính trị thuộc phái cấp tiến và bài giáo sĩ cuồng nhiệt, được bầu lên chức Thủ tướng Pháp, thì Đạo luật 1901 được sử dụng như một thứ vũ khí lợi hại nhằm triệt hạ tất cả các dòng tu Công giáo chưa được phép hoạt động. Hơn nữa, Chính phủ Pháp mới được bầu còn có ý định áp dụng đồng loạt các biện pháp bài giáo sĩ cho cả các thuộc địa y như ở chính quốc.
 
Hai điều khoản trong đạo luật mới sẽ rất quan trọng nếu được thực thi theo một tinh thần thù nghịch. Khoản 3, Điều 6, Chương I giới hạn thẩm quyền sở hữu tài sản của các dòng tu, đến mức chỉ vừa đủ cho nhu cầu, nhằm thực hiện được mục đích đã xác định. Trong trường hợp ở Đông Dương, điều này có thể được giải thích là chỉ bao gồm nhà thờ, tu viện, nhà xứ và các trụ sở của các dòng truyền giáo. Còn đất đai canh tác, phần thu quan trọng trong chiến lược truyền giáo của các dòng tu, sẽ rất khó biện minh với chính quyền mới, và nếu giải thích chặt chẽ, nó có thể bị coi như nằm ngoài điều khoản này.
 
Phương tiện để tránh hiệu lực của điều khoản này đối với các dòng tu là sở hữu đất qua sự ủy quyền. Việc này là một thông lệ của các dòng truyền giáo ở Đông Dương nhằm tránh thuế lũy tiến. Một số tài sản đáng kể đã được hợp pháp hóa bằng tên cá nhân các thừa sai, hoặc giám mục, hay thân hào Công giáo thay cho Giáo hội. Nhưng Chương III của đạo luật mới đã hầu như hoàn toàn khắc phục sự sơ hở này.
 
Gộp chung hai điều khoản của Đạo luật 1901 đã mang lại cho chính quyền Pháp ở Đông Dương những thẩm quyền mới rộng rãi. Cơ sở kinh tế của các dòng truyền giáo ở Đông Dương đã bị đe dọa. Tuy nhiên, đạo luật mới này dự trù chưa áp dụng ngay vào các thuộc địa.
 
Trong khi ấy, Chính phủ Combes quay sang một số biện pháp bài giáo sĩ mới, trong đó có một vài biện pháp dự định áp dụng vào các thuộc địa. Combes đã xin được sự chấp thuận của Quốc hội Pháp cho phép thế tục hóa mọi cơ sở nhà nước vào năm 1903, một biện pháp chủ yếu ảnh hưởng đến các tu sĩ Công giáo điều dưỡng tại các bệnh viện công. Quy định này được áp dụng ngay lập tức tại Đông Dương, dẫn đến việc chính quyền trục xuất nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres ra khỏi các bệnh viện công. Các trường công lập ở Đông Dương cũng bắt buộc phải không dùng đến các tu sĩ giảng dạy như các trường Công giáo. Đồng thời, mọi biểu hiện tôn giáo đều phải được gỡ khỏi các cơ sở của Nhà nước.
 
Tiếp đó, Combes kiên trì theo đuổi nguyên tắc thế tục, bằng việc ban hành Đạo luật bãi bỏ các dòng tu chuyên giảng dạy (ngày 7/7/1904) nhằm đem lại độc quyền giáo dục cho Nhà nước. Một lần nữa, Combes muốn áp dụng luật này cho cả các xứ thuộc địa của Pháp. Vị Thủ tướng Pháp này tìm cách phế bỏ vai trò của các dòng tu Công giáo được phép hoạt động về giáo dục. Những dòng tu ấy có thể vẫn tồn tại nhưng sẽ không được giảng dạy nữa. Về phần các hội truyền giáo, tuy không phải là các dòng tu chuyên giảng dạy, nhưng họ vẫn điều hành những cơ sở giáo dục riêng. Combes muốn bao gồm cả các dòng tu này vào trong đạo luật mới. Song về điểm này, Combes đã gặp phải sự chống đối của một số thành viên trong nhóm Liên minh Dân chủ vẫn ủng hộ ông. Nhóm này là một thành phần rất quan trọng khối liên minh của Chính quyền Combes, nhưng lại ủng hộ vai trò giáo dục của thừa sai tại các xứ thuộc địa. Bởi vì, họ cho rằng, việc giảng dạy tiếng Pháp cho dân chúng tại các thuộc địa của Pháp có khuynh hướng khuyến khích sự gắn bó giữa người bản xứ với chế độ đế quốc Pháp. Sau nhiều lần thương thảo, cuối cùng, đạo luật chống các dòng tu chuyên về giảng dạy đã được thông qua vào ngày 7/7/1904, sau khi văn bản này đã được tu chỉnh.
 
Biện pháp cuối cùng mà chính quyền Combes tấn công vào quyền lợi của giáo sĩ và hoàn thiện thể chế thế tục là việc ban hành Đạo luật 1905, tách Giáo hội ra khỏi Nhà nước (thường được gọi là Luật Phân ly). Biện pháp này ảnh hưởng rất nặng nề đến những thừa sai làm nhiệm vụ linh mục xứ có ăn lương theo quy chế thoả hiệp tại các thuộc địa của thực dân Pháp như Angiêri, Reunion hay Guadeloupe,v.v… Tuy nhiên, biện pháp này lại ít bị ảnh hưởng ở Đông Dương, do nơi đây không có sự dàn xếp theo bản thỏa hiệp.
 
Vấn đề nên hay không nên áp dụng các đạo luật 1901, 1904 và 1905 cho các xứ thuộc địa đã được một ủy ban thuộc Bộ Thuộc địa của Pháp thảo luận, trong đó hai lần tham khảo chính quyền ở Đông Dương vào các năm 1905 và 1906. Trong cả hai lần, vấn đề này đều được các viên chức ở Đông Dương xem xét khá giống nhau, đều coi tương lai của Giáo hội Công giáo đang bị đe dọa. Bởi vì, việc thực thi các biện pháp một cách thù nghịch sẽ làm đảo lộn chiến lược truyền đạo của Công giáo dựa vào việc tạo mãi và phân phối ruộng đất cho các cộng đồng giáo dân. Nói chung, chính quyền ở Đông Dương phản đối việc phân tán tài sản Giáo hội cũng như việc truất bỏ công tác giáo dục, công tác tại bệnh viện và cô nhi viện của các dòng truyền giáo. Hầu hết các viên chức cao cấp ở Đông Dương đều thừa nhận rằng, việc "tục hóa" các dịch vụ y tế và giáo dục là một việc làm do ý thức hệ và tốn kém.
 
Năm 1907, Toàn quyền Beau đã đề nghị một số biện pháp dung hòa dựa trên cơ sở Đạo luật 1901. Các biện pháp mà vị Toàn quyền Đông Dương này đưa ra có vẻ vừa đáp ứng được một số đòi hỏi tại chính quốc, nhưng cũng ít gây xáo trộn tại địa phương nhất. Theo đó, Toàn quyền Beau dự tính áp dụng một số điều trong Đạo luật 1901 để hội truyền giáo mất đi khả năng tạo mãi thêm tài sản, nhưng cũng chống lại bất cứ chính sách nào chủ trương phân tán toàn bộ tài sản của Công giáo.
 
Năm 1907, việc chống đối của Bộ Ngoại giao Pháp đã làm cho Đạo luật 1901 không thể áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ do hai khu vực này là vùng đất bảo hộ, nên đặc quyền mà các thừa sai Pháp được hưởng theo các hiệp ước 1862 và 1874 đã mở rộng cho cả dòng Đa Minh của Tây Ban Nha. Vì vậy, việc áp dụng Đạo luật 1901 tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ cần có sự chấp thuận của Chính phủ Tây Ban Nha. Sau những sự chống đối của Bộ Ngoại giao Pháp, cuối cùng chỉ có Điều 3 của Đạo luật 1901 được áp dụng và có phần ảnh hưởng tới các dòng tu Công giáo tại Nam Kỳ và Cao Miên. 
 
Như vậy, có thể thấy, chính sách tôn giáo của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam nói riêng, ở Đông Dương nói chung cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bị ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp bởi chính sách tôn giáo của chính phủ cầm quyền ở chính quốc. Nếu chính phủ cầm quyền ưu ái thì tôn giáo, chủ yếu là Công giáo, được nâng đỡ và trợ giúp. Ngược lại, nếu chính phủ cầm quyền chống tôn giáo, nhất là từ thập niên đầu thế kỷ XX với thể chế thế tục, thì Công giáo ở chính quốc cũng như ở các xứ thuộc địa của Pháp đều bị bài bác và hạn chế hoạt động ở những mức độ khác nhau.
 
Điểm tích cực đáng ghi nhận trong chính sách tôn giáo của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đó là chính sách của một nhà nước thế tục, rõ rệt nhất là từ đầu thế kỉ XX. Sự tích cực này, về khách quan, xuất phát từ mô hình và tính chất quản trị xã hội hiện đại, quyền lực quốc gia được phân thành 3 quyền độc lập và chế ước lẫn nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thể chế thế tục (Nhà nước/Thế quyền tách khỏi Nhà thờ/Giáo hội/Tôn giáo/Thần quyền, Nhà trường/Giáo dục tách khỏi Nhà thờ/Giáo hội/Tôn giáo, và Tôn giáo là việc riêng tư) ngày càng được hoàn thiện, nhất là với Luật Phân ly ban hành năm 1905.  
 
Khi toan tính thực hiện chiến dịch bài giáo sĩ Công giáo, chính quyền thực dân Pháp đã có một vài chính sách khá dễ chịu đối với tôn giáo khác, tiêu biểu là Phật giáo, nhất là trong một giai đoạn ngắn vào cuối thế kỷ XIX. Nhưng nhìn một cách tổng thể, có thể khẳng định, chính sách tôn giáo của chính quyền thực dân Pháp là ưu tiên Công giáo, cưỡng chế Phật giáo theo ý định và không khuyến khích những tôn giáo nào không có lợi cho sự cai trị. Một nhà nghiên cứu Phương Tây từng nhận xét: “Dưới chế độ thực dân Pháp, từ năm 1860 cho đến lúc cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai bùng nổ, Thiên Chúa giáo được khuyến khích còn Phật giáo thì không cho phát triển”([6]).
 
Từ sau Đại chiến Thế giới I cho đến năm 1930, chính quyền thực dân Pháp ngăn cấm việc thành lập các hội đoàn và mọi hoạt động chính trị có tổ chức của nhân dân. Nằm trong bối cảnh đó, chính quyền thực dân Pháp không muốn các Phật tử hội họp lại và dính dáng đến các hoạt động chính trị của dân tộc. Đó có lẽ là lý do chủ yếu giải thích tại sao giới Phật giáo Việt Nam dẫu có tiến hành các hoạt động chấn hưng rất tích cực, trong đó có việc vận động thống nhất Tăng đoàn trong cả nước từ đầu thập niên 20 thế kỷ XX nhưng vẫn không được chính quyền thực dân Pháp cho phép thành lập tổ chức Giáo hội. Nhưng trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng những năm 1930-1931 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, chính quyền thực dân Pháp đã buộc phải cho phép các Hội Phật giáo/Hội Phật học thành lập ở từng vùng miền, được hoạt động công khai nhưng có sự kiểm soát chặt chẽ.
 
Khi trở lại xâm lược lần thứ hai (1945-1954), thực dân Pháp đã thi hành mạnh mẽ chính sách kỳ thị tôn giáo, nhất là từ năm 1948, khi phong trào kháng chiến của quân dân Việt Nam ngày càng lớn mạnh khắp cả nước. Cao điểm chính sách kỳ thị tôn giáo là việc chính quyền thực dân Pháp ban hành Dụ số 10, ngày 6/8/1950. Theo đó, ngoại trừ Công giáo, các tôn giáo còn lại ở Việt Nam đương thời đều được coi như các hiệp hội thông thường trong xã hội. Điều 44 của Dụ này quy định: “Chế độ đặc biệt dành cho các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô giáo…”([7]). Trong khi đó, với các tôn giáo khác, Điều 7 của Dụ số 10 cho phép chính quyền thực dân “có quyền bát khước đi, không cho phép lập hội mà không cần nói rõ lý do”([8]). Nội dung của Dụ số 10 như vậy đã thể hiện một cách rất rõ ràng sự kỳ thị tôn giáo của thực dân Pháp và ngụy quyền. Chỉ có Công giáo mới được ưu tiên và đề cao, còn các tôn giáo khác ở Việt Nam, trước hết và chủ yếu là Phật giáo, bị đối xử ngược lại./.
 
 TS. Lê Tâm Đắc
 


[1] Xem: Chiếu chỉ của vua Tự Đức ngày 4 tháng 11 năm 1860.
[2] Dẫn theo: Patrick J.N.Tuck. Thừa sai Công giáo Pháp và các chính sách của đế quốc tại Việt Nam 1857-1914: Một sưu tập tư liệu. Nxb. Đại học Liverpool, 1987 (bản dịch tiếng Việt in rônêô).
[3] Chẳng hạn, trong ngân sách thuộc địa năm 1864, chính quyền thực dân Pháp ở Nam Kỳ đã dành 40.000 francs cho việc trả lương các thừa sai Pháp. Năm 1879, khoản tiền trợ cấp này đã tăng lên tới con số 145.000 francs. Patrick J.N.Tuck. Sđd, tr.220-221.
[4] Patrick J.N.Tuck. Sđd, tr.428-429.
[5] Patrick J.N.Tuck. Sđd, tr.623-625.
[6] Jerrold Schecter. The New Face of Buddha. John Weatherhill. Tokyo 1967, p.169. Dẫn theo: Lê Cung. Phong trào Phật giáo Miền Nam Việt Nam năm 1963. Nxb Thuận Hóa. Huế 2003, tr.20.
[7] Công báo Việt Nam, ngày 19/8/1950. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liêu J.336, tr.435. Dẫn theo: Lê Cung. Phong trào Phật giáo Miền Nam Việt Nam năm 1963, tr.24.
[8] Công báo Việt Nam, ngày 19/8/1950. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liêu J.336, tr.435. Dẫn theo: Lê Cung. Phong trào Phật giáo Miền Nam Việt Nam năm 1963, tr.24.
Khái quát về chính sách tôn giáo của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam (1858-1954)Tuy nhiên, do nhiều lí do khách quan và chủ quan khác nhau, đến năm 1862, cùng với sự nhượng bộ về chính trị, kinh tế, triều đình Huế đã ký Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) với thực dân Pháp và thực dân Tây Ban Nha, trong đó Điều 2 quy định về tự do theo đạo
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Vài nét về cách xưng hô trong đạo Phật
Tứ Diệu đế trong giáo lý đạo Phật
Giải mã pho tượng Đức Ông bí ẩn ở chùa Bộc
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam
Nhân tài Phật giáo và vai trò kiến thiết, tạo lập vương triều Nhà Lý
Mối quan hệ giữa tín ngưỡng và “hiện tượng tôn giáo mới”
Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo
Tìm về ngày Đức Phật đản sinh
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1954-1975
Phật giáo Việt Nam 30 năm thành lập và truyền thống Hộ quốc An dân
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hình ảnh khai mạc Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XVII
Hàng chục ngàn người tham dự Lễ hội dừa Bến Tre 2019
Tái hiện Nghi lễ “Lẩu Then” của đồng bào dân tộc Tày
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn