Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/09/2019 02:02 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Chùa Yên Phú (Hà Nội) sự hỗn dung giữa Phật giáo và tín ngưỡng Thủy thần

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, trên Phật điện chùa Yên Phú, tên chữ là Thanh Vân Cổ Tự (xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội) bên cạnh thờ Phật còn thờ nhà sư Phương Dung và hai vị con nuôi là Trung Vũ và Đài Liệu. Chùa Yên Phú hiện còn lưu giữ được một số di văn Hán Nôm quan trọng, trong đó có bản Yên Phú Tự (do Đông các Đại học sĩ Hàn lâm Lễ viện Nguyễn Bính soạn thảo năm thứ nhất niên hiệu Hồng Phúc, tức năm 1572, và được chép lại vào năm Thành Thái thứ 17, tức năm 1905), đề cập khá chi tiết về việc thờ phụng các vị này.

         Việc các ngôi chùa Việt, ngoài thờ Phật, còn thờ nhiều vị thần của các tôn giáo khác và các hình thức tín ngưỡng bản địa diễn ra phổ biến ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ([1]). Nhưng việc ni sư Phương Dung cùng hai vị con nuôi còn được thờ ở đình làng Yên Phú đặt ra một số vấn đề khá thú vị về mặt tôn giáo học. Để có thể làm rõ hiện tượng trên, trước hết xin được trình bày một cách khái quát về thần tích của các vị thần này qua một số tư liệu hiện tồn, đặc biệt là bản Yên Phú Tự.

2. Thần tích làng Yên Phú
Vào cuối thời Hùng Vương thứ 18, ở làng Lưu Xá, huyện Thượng Hiền, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam Hạ, có cặp vợ chồng Trương Công Điều và Phùng Thị Huệ đã sinh mấy người con trai, sau sinh thêm được người con gái đặt tên là Phương Dung. Nàng có sắc đẹp “chim sa, cá lặn”, mặt hoa da phấn, dáng vẻ yểu điệu thướt tha không ai sánh bằng. Năm 16 tuổi, Phương Dung nguyện không lấy chồng, một lòng mộ Phật. Sau đó, bà xuất gia tu hành tại chùa Thanh Vân, trang Yên Phú, huyện Thanh Đàm, phủ Thượng Phúc (là chùa Yên Phú ngày nay). Một hôm, vào giữa giờ Mùi, bà ra tắm ở bến sông Kim Ngưu (sông Tô Lịch?), ngước trông lên thấy một đám mây lành sà xuống quấn lấy thân thể. Kinh hãi, bà vội chạy ngay về chùa. Đêm đó, bà nằm mộng thấy một vị tướng quân mặc áo gấm, đeo ngọc châu, thân thể kỳ dị từ dưới nước đi lên, tự xưng là quan Thủy thần và nói với bà rằng: “Làng này đức dày, trời đã soi tỏ, lệnh cho hai vị Thủy thần giáng sinh, xuất thế, đầu thai vào làm con nên chớ lo lắng gì cả”. Nói rồi, vị thần lên thuyền rồng biến mất. Ngày hôm sau, khi đi qua ngôi miếu, bà thấy có hai quả trứng rất to, bèn mang về chùa. Bỗng nhiên, có hai tiếng nổ to như sấm dậy, hai trứng nở ra hai chàng trai đầu người, mình rắn, da có vảy giáp, tướng mạo lạ thường, vóc người to lớn. Bà biết hẳn đây là Thủy thần xuất thế. Đó là ngày 22 tháng 4 năm Quý Tỵ.
Biết sự việc kỳ lạ, dân làng Yên Phú cùng kéo nhau đến chùa. Hai vị nói với mọi người rằng, họ vốn là thủy thần được dân làng thờ phụng lâu nay, một người tên là Trung Vũ, một người tên là Đài Liệu. Nay, họ phụng mệnh Thiên đình giáng sinh để giúp nước. Thấy vậy, nhân dân đều sợ hãi làm lễ tâu rằng: Dân làng Yên Phú chúng tôi xin phụng sự Thủy thần theo hiệu mà Người đã dạy, xin làm lễ mừng và xin làm con cái Người.
Trung Vũ và Đài Liệu được bà Phương Dung nuôi dưỡng. Họ học giỏi văn chương, tinh thông võ lược. Một năm nọ, trời làm đại hạn, cây cối đều chết khô. Hai ông truyền dân làng lập đàn kêu cầu âm dương trời đất. Vừa kêu cầu được một lát, mưa to khắp cả một vùng, ruộng đồng đầy nước, cây cỏ hồi sinh. Năm đó, được mùa lớn, dân làng an cư lạc nghiệp. Có năm, đê lớn vỡ nước, lũ tràn về, dân làng lo sợ cầu cứu, hai ông biến thành hai con đê ngăn lũ. Dân hộ đê không biết nên vô tình cuốc đứt đuôi một chàng, nên có tên là “chàng Cụt”. Truyền thuyết “chàng Cụt”, “chàng Dài” được lưu truyền từ đấy.
Khi Tô Định đem quân sang xâm lược nước ta, Hai Bà Trưng dấy binh, truyền hịch khắp nơi mời người tài giỏi anh minh giúp sức dẹp giặc, cứu nước, cứu dân. Hưởng ứng lời hiệu triệu của Hai Bà Trưng, mẹ con bà Phương Dung triệu tập được hàng nghìn người, nhất là 25 trai tráng khỏe mạnh làng Yên Phú tham gia đánh giặc giữ nước. Khi đến nơi đóng quân, thấy hai người con nuôi của bà Phương Dung văn võ toàn tài, Hai Bà Trưng bèn phong cho hai ông là Tả Tướng quân và Hữu Tướng quân, chia quân đi đánh Tô Định. Giặc tan, Trưng Nữ lên ngôi vua, mở tiệc mừng phong chức cho các tướng sĩ, ban cho mẹ con bà Phương Dung được về thăm quê Yên Phú và được hưởng những lợi tức ở ấp Thanh Trì. Nhà vua còn ban ba trăm mẫu ruộng, miễn phu phen tạp dịch cho dân làng Yên Phú.
Bái lạy tạ ơn nhà vua, mẹ con bà Phương Dung lên thuyền rồng trở về quê hương Yên Phú. Thuyền rồng về đến giữa sông Kim Ngưu (Tô Lịch?) thì thấy một đám mây vàng như dải lụa xà thẳng xuống. Thấy vậy, ba mẹ con vô cùng sợ hãi, chạy lên đứng ở bãi đất đầu sông bên làng Yên Phú. Bỗng chốc, trời đất tối xầm, mưa to gió lớn nổi lên rồi thấy bà Phương Dung mình mặc áo gấm, ngồi trên kiệu hoa cưỡi mây mà đi. Hai vị con nuôi tự bay lên, lao xuống dòng sông mất hút. Hôm đó là ngày mùng 7 tháng 11. Trong khoảnh khắc, sóng nước vụt cao, giao long, xà giải (binh lính của các vị Thủy thần) cùng sắp hàng dẫn lối. Quân sĩ và nhân dân đều vô cùng kinh hãi bèn làm biểu tấu lên triều đình. Trưng Nữ vương sai quân đến nơi tế lễ và truyền rằng, đây là nơi đất tốt, đặt tên là xứ Đồng Lăng, chuẩn cho nhân dân làng Yên Phú thờ phụng ba vị.
Đến năm Thiên Phúc, đời Lê Đại Hành, khi kê cứu bách thần, thấy ba vị có công lớn với đất nước bèn phong tặng bà Phương Dung là Hoàng Thái Hậu Tuệ Tĩnh Phu Nhân, hai vị Trung Vũ và Đài Liệu là Bản Cảnh Thành Hoàng Linh Phù Chi Thần. Đồng thời, nhà vua cũng phong mỹ tự cho Thánh Mẫu Phương Dung là Trinh Thục Chí Đức Đoan Trang Cẩn Tiết Hoàng Thái Hậu; phong cho Trung Vũ và Đài Liệu là Hộ Quốc Khang Dân Phù Vận Dương Vũ Uy Dực Thánh Bảo Cảnh Hiển Hữu Trợ Thuận Linh Ứng Đại Vương.
Từ các thời Tiền Lê, Lý, Trần trở về sau, các thần thường thần thông biến hóa, hiển hữu anh linh giúp dân giúp nước, nên thường xuyên được ban sắc phong chuẩn cho nhân dân làng Yên Phú thờ phụng. Ngày sinh của các thần là ngày 22 tháng 4; ngày hóa là ngày 7 tháng 11([2]).
3. Một số suy nghĩ bước đầu về các vị thần được thờ ở làng Yên Phú
Truyện tích về các vị thần được thờ ở chùa và đình làng Yên Phú được cho là xảy ra vào thời Hai Bà Trưng. Cụ thể là, bà Phương Dung cùng hai vị con nuôi huy động nhân dân, nhất là 25 thanh niên, làng Yên Phú tham gia khởi nghĩa đánh tan quân Nam Hán. Liên quan đến việc ni sư chùa Yên Phú tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng([3]), ở đây cần nhắc lại một điều đã được nhiều người biết đến, và thực tế ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhất là khu vực tỉnh Hà Tây cho thấy rõ, tướng lĩnh của Hai Bà phần lớn là nữ. Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc giải thích về vấn đề này. Tựu trung lại, phần đông ý kiến cho rằng đó là tàn tích của chế độ mẫu hệ ở nước ta hồi đầu Công nguyên. Bên cạnh đó, đây cũng là sự phản ánh vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam không những trong cuộc sống mà còn cả trong sự nghiệp đánh giặc ngoại xâm. Đó có lẽ là một trong những lý do giải thích tại sao thờ nữ thần là một đặc điểm nổi trội trong tín ngưỡng bản địa của người Việt từ truyền thống đến hiện tại.
Một trong những đặc điểm chính của tín ngưỡng bách thần nói chung, tín ngưỡng thành hoàng ở người Việt nói riêng, là xu hướng phàm hóa, nghĩa là lịch sử hóa, nhân hóa, địa phương hóa các hiện tượng thiêng. Nằm trong xu thế đó, mặc dù các sự kiện nêu trong thần tích làng Yên Phú là khá rõ ràng về không gian và thời gian, thì vẫn có thể thấy rằng, đằng sau yếu tố Phật giáo là tín ngưỡng thủy thần, cụ thể ở đây là tín ngưỡng thờ Rắn - tô tem của người Việt.
Thần Rắn được thờ phổ biến ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, trong đó tiêu biểu nhất và đậm nét nhất là tỉnh Hà Đông([4]). Thần Rắn được cung cấp những lý lịch cụ thể khác nhau, mang tên người, tên đất khác nhau. Các thần tích về Thần Rắn có lẽ chỉ hình thành bắt đầu từ thời Lý - Trần, cụ thể trong Việt điện u linh Đại Việt sử ký toàn thư([5]). Qua các thần tích có thể thấy mấy dạng thần Rắn chủ yếu sau đây:
Dạng thứ nhất là Bà Mẹ (phàm tục) bị rắn hay rồng phủ rồi có mang, sinh ra một bọc, thường là hai trứng, nở thành hai con trai; cha mẹ mất sớm, trở thành mồ côi; có tài đánh giặc ngoại xâm, giặc có thật hoặc giặc không có thật (giặc Mũi Đỏ, giặc Ma Na, giặc Vĩnh Trinh, giặc Chiêm Thành, giặc Ai Lao, quân Nam Hán, quân Tống, quân Lương, quân Nguyên,…), đánh giặc trực tiếp hoặc âm phù, giặc tan được vua trọng dụng, rồi sau hóa xuống nước. Thuộc dạng thứ nhất này có thần tích các xã Dịch Vọng Tiền, xã Thượng Cung (tỉnh Hà Đông); xã Sài Thị, xã Cổ Lễ (tỉnh Hưng Yên), xã Dưỡng Mông (tỉnh Hải Dương),v.v…([6])
Dạng thứ hai là Bà Mẹ (phàm tục) nằm mơ thấy rắn hay long thần, sau đó có mang, trực tiếp sinh ra con trai, hoặc sinh ra trứng rồi nở thành con trai; cũng mồ côi cha mẹ, tham gia đánh đủ thứ giặc ngoại xâm có thật hoặc không có thật, đánh giặc trực tiếp hoặc âm phù, lập nhiều chiến công hiển hách, được vua trọng thưởng, rồi hóa. Thuộc dạng thứ hai này có thần tích xã Dương Khê (tỉnh Thái Bình), xã Linh Khê (tỉnh Hải Dương), xã Dụ Nghĩa, xã Thủy Tú (tỉnh Kiến An), xã Lâm Hộ (tỉnh Phúc Yên),v.v…([7])
Dạng thứ balà Bà Mẹ (phàm tục) nhặt được trứng, sau nở thành con rắn, trở thành con nuôi; hoặc nhặt được trứng, mang về, trứng vỡ bắn nước vào bụng Bà Mẹ, mang thai, sinh ra bọc trứng, nở thành con rắn; đều có công giúp dân chống hạn hán, hoặc chống lũ lụt. Đây chủ yếu là mô hình “Chàng (hoặc Ông) Cụt (hoặc Cộc), Chàng (hoặc Ông) Dài”. Thuộc dạng thứ ba này có thần tích làng Kim Bài (tỉnh Hà Tây), xã Thông Quyết (tỉnh Bắc Ninh),v.v...([8])
Theo Nguyễn Duy Hinh, dù thần tích bất cứ ở dạng thức nào thì mô hình chung vẫn là: Rắn - Người Hùng - Rắn. Đó là một mô hình hoàn toàn Việt, khác với mô hình: Rắn - Người Hùng - Thần trong thần thoại Trung Quốc hay Ấn Độ([9]).
Trở lại thần tích làng Yên Phú. Dễ nhận thấy, đây là một mô hình đặc biệt, một mô hình tổng hợp của các dạng thức thần tích thờ Rắn đã nêu ở trên. Trong dạng thức này, sự đặc biệt bắt đầu từ việc Bà Mẹ nuôi của cặp Rắn là một tu sĩ Phật giáo. Chính vì vậy, nhiều tình tiết của thần tích đã không thể diễn tiến theo các cách thức thông thường khi Bà Mẹ là một người phàm tục. Nội dung thần tích hỗn hợp này đã được dân gian và nho thần của các chính quyền phong kiến Việt Nam sáng tạo ra theo một cách thức vừa có những đặc điểm riêng vừa có những điểm chung mang tính truyền thống.
Theo đó, vì Phương Dung là một nhà sư nên bà không thể sinh hạ các người con theo cách thức của người phàm trần được (dạng thức thứ nhất và thứ hai). Bà chỉ là Mẹ Nuôi, nhặt được hai trứng, trứng nở thành hai chàng trai (sự kết hợp của dạng thức thứ ba với hai dạng thức đầu). Công tích của bà chủ yếu chỉ là sự dưỡng dục, và nhất là cùng hai vị tham gia chống giặc ngoại xâm, điều không thấy hay nói đúng hơn là hiện chưa thấy đề cập đến ở trong các thần tích thờ Rắn thuộc cả ba dạng thức nêu trên. Tuy nhiên, một số điểm trong kết cấu của các dạng thức thần tích thờ Rắn phổ biến vẫn còn được giữ lại như việc bà đi tắm ở sông Kim Ngưu, gặp mây lành sà xuống (thay vì bị rắn hoặc rồng) quấn lấy thân thể, nằm mơ thấy long thần báo mộng có hai vị thủy thần đầu thai để giúp nước giúp dân, sau lớn lên hai vị cũng có công đánh giặc ngoại xâm, được vua trọng dụng, rồi hóa.
Thần tích làng Yên Phú còn thú vị ở chỗ, các vị thủy thần không chỉ có công lao đánh giặc ngoại xâm (dạng thức thứ nhất và thứ hai), mà còn có công đánh giặc thiên nhiên (dạng thức thứ ba) giúp dân, giúp nước. Đây là một sự bổ sung công tích cho các vị thần được thờ có lẽ chỉ xuất hiện từ thời Lý - Trần trở về sau dựa trên hai tiêu chuẩn chủ yếu “hộ quốc, tý dân” hoặc “hộ quốc, an dân” theo quan điểm của các nhà nước phong kiến Việt Nam để Trung Vũ và Đài Liệu được phong Thượng Đẳng Thần và trở thành thành hoàng làng Yên Phú.  
Chi tiết giúp dân làng Yên Phú chống lũ lụt của “Chàng Cụt, Chàng Dài” trong bản thần tích này cũng có nét riêng đáng chú ý. Phải chăng, do là con nuôi và được một tu sĩ Phật giáo giáo dưỡng, nên chưa thấy ở Trung Vũ và Đài Liệu các bản tính dữ tợn, ngang ngược, háo sắc như ở nhiều thần tích thờ Rắn của dạng thức này([10]). Nét riêng còn thể hiện ở chi tiết sau khi thắng giặc và được vua trọng thưởng trở về, bà Phương Dung thì hóa theo cách thức của Phật giáo là ngồi kiệu hoa cưỡi mây mà đi, còn Trung Vũ và Đài Liệu thì vẫn giữ theo cách thức truyền thống của các vị thủy thần là biến mất xuống dòng sông.
Tóm lại, thần tích làng Yên Phú phản ánh rõ nét sự hỗn dung giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Rắn, một trong những tín ngưỡng bản địa truyền thống của người Việt ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Sự hỗn dung này có những điểm tương đồng với sự hỗn dung giữa Phật giáo với tín ngưỡng Tứ Pháp vốn rất phổ biến cũng trong khu vực địa lý này. Trong cả hai hình thức hỗn dung đó, các tín ngưỡng bản địa như tín ngưỡng thủy thần, cụ thể ở đây tiêu biểu là tục thờ Rắn, và tín ngưỡng nông nghiệp, cụ thể ở đây tiêu biểu là tục thờ Tứ Pháp, có lẽ là những yếu tố tồn tại trước khi có sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam. Nói cách khác, nhiều ngôi chùa Việt đầu tiên có thể vốn là những ngôi đền thờ các vị thần truyền thống. Không phải người ta đã đặt tượng vị thần truyền thống vào các ngôi chùa thờ Phật mà đã đặt bàn thờ Phật vào các đền thờ các vị thần bản địa([11]). Cho nên, trong những trường hợp như vậy, theo chúng tôi, biểu hiện của yếu tố Phật giáo thường là khá mờ nhạt trước sự nổi trội của yếu tố tín ngưỡng truyền thống.
Trong trường hợp làng Yên Phú, sự nổi trội của tín ngưỡng thủy thần thể hiện không chỉ trong nhiều tình tiết của bản Yên Phú Tự, mà còn được thể hiện đậm nét ở nhiều phương diện khác trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân địa phương giai đoạn hiện nay. Chẳng hạn, các sắc phong còn lưu giữ ở đình làng Yên Phú đều chỉ phong bà Phương Dung là thần (Công Chúa hoặc Hoàng Hậu), trong khi đó, hai vị Trung Vũ và Đài Liệu lại đều được phong là bản cảnh thành hoàng. Sự thờ phụng các vị thần ở ngôi đình về mặt tượng pháp cũng như một số nghi thức trong lễ hội làng Yên Phú cũng phản ánh rõ điều này. Bên cạnh đó, còn phải kể đến nền chùa Yên Phú cũ nằm sát sông Tô Lịch. Khảo sát thực tế bước đầu cho thấy, nó vốn có mặt bằng kiến trúc hình vuông. Điều này cho phép chúng ta hình dung đây là nền của một ngôi đền. Nếu đúng như vậy, thì đây chính là ngôi đền thờ hai vị thủy thần trước khi nó dần được chuyển hóa thành ngôi chùa của Phật giáo./.
 
Lê Gia Hân
Nhà nghiên cứu, Hà Nội
 
 


[1] Xem: Lê Tâm Đắc, Tạ Quốc Khánh. Tính hỗn dung của người Việt qua đối tượng thờ trong các ngôi chùa ở Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2 năm 2003, tr.39-48.
[2] Xem: Thần tích chùa Yên Phú (bản phiên âm và dịch nghĩa của Hoàng Thị Thu Hường và Nguyễn Văn Quý, Viện Nghiên cứu Tôn giáo); Mai Hồng. Chùa Yên Phú: Biểu tượng yêu nước truyền thống của nhân dân Yên Phú, trong: Thích Đức Nghiệp. Đạo Phật Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr.38-48; Ghi chép lại triều đại Trưng Nữ Vương, trong: Thích Đức Nghiệp. Đạo Phật Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr.49-59; Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thành phố Hà Nội. Hồ sơ xếp hạng Di tích lịch sử chùa Yên Phú.
[3] Một điểm đáng lưu ý là, khởi nghĩa Hai Bà Trưng diễn ra vào năm 40 đầu Công nguyên. Nhưng việc Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh của Hai Bà xuất hiện trong sử sách nước ta khá muộn, mãi thế kỷ XV, trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên.
[4] Làng Yên Phú thời Nguyễn thuộc tỉnh Hà Đông.
[5] Xem: Nguyễn Duy Hinh. Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội 1996, tr.351.
[6] Xem: Nguyễn Duy Hinh. Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội 1996, tr.221-228.
[7] Xem: Nguyễn Duy Hinh. Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội 1996, tr.221-228.
[8] Xem: Nguyễn Đổng Chi. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, trong: Nguyễn Đổng Chi: Tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh (quyển II). Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 2003;Chi ủy, Chi bộ làng Kim Bài, Hội Cao tuổi làng Kim Bài (thị trấn Kim Bài). Lịch sử làng Kim Bài, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Năm 2006; Nguyễn Duy Hinh. Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội 1996,v.v…
[9] Xem: Nguyễn Duy Hinh. Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội 1996, tr.352.
[10] Xem: Nguyễn Đổng Chi. Ông Dài Ông Cộc hay là sự tích thần sông Kỳ Cùng, trong: Nguyễn Đổng Chi: Tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh (quyển II: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam). Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 2003, tr.534-545.
[11] Xem thêm: Hà Văn Tấn. Chùa Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội 1993, tr.27.
Chùa Yên Phú (Hà Nội) sự hỗn dung giữa Phật giáo và tín ngưỡng Thủy thầnViệc các ngôi chùa Việt, ngoài thờ Phật, còn thờ nhiều vị thần của các tôn giáo khác và các hình thức tín ngưỡng bản địa diễn ra phổ biến ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ ( [1] ) . Nhưng việc ni sư Phương Dung cùng hai vị con nuôi còn được thờ ở đình làng
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật
Tìm hiểu về Hội nghị Ni giới Phật giáo thế giới
Đôi điều về mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc, tôn giáo và phát triển trong xã hội hiện nay
Vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa Phật giáo và Dân tộc qua mẫu hình Phật giáo thời Đinh-Tiền Lê
Bước đầu tìm hiểu về đạo Tin lành ở Hàn Quốc
Tìm hiểu tín ngưỡng dân gian trong đời sống cộng đồng cư dân Khánh Hòa
Chỉ thị 1940/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo đã thực sự đi vào cuộc sống
Những bước tiến trong công tác giáo dục-đào tạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thực hiện chính sách tôn giáo theo tinh thần nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Giới thiệu vài nét về đạo phục đạo Cao đài
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn