Ấn phẩm sách
Sách khảo cứu diện mạo 100 ngôi đình Việt Nam tái bản lần ba
Hạnh phúc tùy cách nhìn
Lời Phật dạy đối nhân xử thế
Từ điển tôn giáo
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?













Chọn    Xem KQ
Đôi điều về mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc, tôn giáo và phát triển trong xã hội hiện nay

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc tiếp xúc với các nền văn hoá lớn. Trước hết đó là cuộc tiếp xúc với các nền văn hoá Ấn Độ và Trung Hoa, đặc biệt là văn hoá Trung Hoa – một trong những nền văn hoá lớn của nhân loại.

          Đây là thử thách đầu tiên đối với các chuẩn giá trị của văn hoá Việt Nam. Giá trị lớn nhất đã hình thành trong tâm thức người Việt Nam trong cuộc tiếp xúc này là tinh thần yêu nước. Từ đây đã hình thành lòng dũng cảm, ý chí kiên cường, tinh thần tự lực, tự cường, năng động, thông minh, biết chịu đựng và kiên nhẫn. Tất cả các bản chất này đã được hun đúc trong suốt nghìn năm giao tiếp với nền văn hoá Trung Hoa. Tiếp nhận đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão, nhưng con người Việt Nam vẫn giữ nguyên bản sắc của mình. Từ một thứ văn tự thuần Hán, người Việt Nam đã dần tạo ra cho mình một thứ chữ viết riêng, đó là chữ Nôm.

Cuộc tiếp xúc văn hoá lần thứ hai của Việt Nam là cuộc tiếp xúc với văn hoá châu Âu bắt đầu từ thế kỉ XVI qua các nhà buôn và các nhà truyền giáo của đạo Kitô. Trong cuộc tiếp xúc kéo dài nhiều thế kỉ này, sự mất mát khá nhiều, nhưng cái được cũng không ít. Tuy có nhiều nét văn hoá truyền thống bị mất đi hoặc biến dạng, nhưng nhiều nhân tố mới, tiên tiến của nền văn minh châu Âu đã xâm nhập và góp phần vào sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Việc cải cách chữ viết của người Việt Nam theo mẫu tự Latinh được bắt đầu từ các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đến giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes thực sự là cái hích quan trọng trong tiến trình giao tiếp của văn hoá Việt Nam với văn hoá châu Âu, tạo nên diện mạo mới cho dân tộc Việt Nam trên bước đường phát triển của mình. Song càng về sau, nhất là giai đoạn Pháp và tiếp đó là Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam thì ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với văn hoá dân tộc mang tính chất tiêu cực nhiều hơn là tích cực, thậm chí còn tạo ra những xung đột gay gắt với văn hoá dân tộc cổ truyền, từ đó dẫn tới cuộc tiếp xúc văn hoá lần thứ ba của Việt Nam.
Đây là cuộc tiếp xúc với nền văn hoá mác xít được bắt đầu từ Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Qua cuộc tiếp xúc này một hệ giá trị văn hoá mới, hệ giá trị văn hoá của chủ nghĩa Mác – Lênin dần được hình thành và thay thế cho những giá trị văn hoá cổ truyền đã lỗi thời. Tất nhiên trong quá trình này một số bản sắc văn hoá dân tộc vẫn được kế thừa và phát huy, nhưng thay đổi vẫn là xu hướng chủ yếu. Có thể nói, qua cuộc tiếp xúc lần này nền văn hoá Việt Nam đã có những biến chuyển cơ bản về chất. Song cũng như những cuộc tiếp xúc văn hoá trước đây, cuộc tiếp xúc văn hoá lần này tuy mang lại rất nhiều giá trị văn hoá mới nhưng cũng kéo theo một số điều bất cập, thậm chí còn mang lại một số ảnh hưởng văn hoá tiêu cực kìm hãm sự phát triển xã hội mà ngày nay chúng ta đang từng bước khắc phục. Trong giai đoạn này các vấn đề nông thôn – nông nghiệp, vấn đề tôn giáo, vấn đề dân tộc, vấn đề gia đình và một số vấn đề xã hội khác chưa được xem xét đầy đủ và thấu đáo trong điều kiện cụ thể của dân tộc Việt Nam.
Cuộc tiếp xúc văn hoá lần thứ tư của dân tộc ta là cuộc tiếp xúc văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ. Có thể nói cuộc tiếp xúc văn hoá lần này được bắt đầu từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỉ XX khi cả nước bước vào công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc tiếp xúc văn hoá lần này được bắt đầu trong bối cảnh Việt Nam đang trải qua hai chuyển biến lớn: Đất nước đã chuyển biến từ thời kì chiến tranh sang xây dựng hoà bình và đang chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với chế độ quan liêu, bao cấp sang một nền kinh tế công –nông nghiệp và dịch vụ phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để có thể thành công trong bước chuyển thứ hai này, ngoài những yếu tố chủ quan, chúng ta nhất định phải hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp thu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới để phát triển kinh tế trong nước, mở rộng giao lưu văn hoá - giáo dục, v.v... Trong quá trình giao lưu và mở cửa này không ít những ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá ngoại lai đã tràn vào nước ta, chèn lấn văn hoá dân tộc tạo ra một sự phức tạp và nặng nề trong công tác tư tưởng – văn hoá của đất nước. Đúng như nhận xét của giáo sư Viện sĩ Nguyễn Duy Quý, trong bối cảnh hiện nay, "Văn hoá nô dịch thực dân mới và những khuynh hướng tư tưởng suy đồi còn để lại di sản nặng nề. Văn hoá phẩm đồi truỵ, văn hoá thương mại, văn hoá thực dụng phương Tây gây tác hại không nhỏ đến lối sống, đến nhận thức thẩm mĩ của một số bộ phận công chúng và thanh niên chúng ta. Chủ nghĩa cơ hội vẫn tìm cách công kích, phá hoại, làm cho đời sống xã hội và văn hoá của chúng ta có những biểu hiện không lành mạnh"([1]).
Sự không lành mạnh này thể hiện qua các tệ nạn xã hội có chiều gia tăng mà trong thời gian qua dư luận xã hội đã lên tiếng phê phán mạnh mẽ. Đó là nạn tham nhũng, buôn lậu, tội ác có tổ chức, thất nghiệp, ô nhiễm văn hoá, ô nhiễm môi trường, bệnh dịch, suy thoái đạo đức, giảm sút chất lượng giáo dục - đào tạo, kỉ cương pháp luật lỏng lẻo, ma tuý, mại dâm, v.v... và v.v... Đây cũng là cái giá phải trả cho mục đích phát triển kinh tế đơn thuần, không tính đến các yếu tố văn hoá - xã hội.
Đất nước ta mới bắt đầu bước vào con đường phát triển. Khó khăn muôn vàn còn đang ở phía trước. Những gì còn khiếm khuyết trong buổi ban đầu đang mách bảo chúng ta rằng không thể chấp nhận sự phát triển kinh tế bằng mọi giá, bất chấp tất cả.
Hiện tại Việt Nam còn là nước chậm phát triển về kinh tế, song về mặt văn hoá thì dân tộc ta đã có một truyền thống lịch sử rất lâu đời. Truyền thống văn hoá đó được kết tinh từ những tinh hoa của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, từ sự tiếp biến các nền văn hoá ngoại sinh qua những lần tiếp xúc với chúng trong quá trình lịch sử. Sự tiếp biến văn hoá của con người Việt Nam rất nhuần nhuyễn và vô cùng mạnh mẽ. Tổ tiên ta đã kết hợp rất tài tình cái vốn có của dân tộc với cái hay, cái đẹp học tập được ở bên ngoài. Chính vì vậy, dù đã tiếp thu nhiều tinh hoa của các nền văn hoá thế giới và chịu nhiều sức ép của văn hoá ngoại lai, nhưng người Việt Nam vẫn giữ được bản sắc của dân tộc Việt Nam, vẫn là chính mình như nhiều nhà nghiên cứu đã từng khẳng định. Cũng vì vậy mà dân tộc ta đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt do cuộc khủng hoảng dẫn đến sự tan vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới vào cuối những năm 80 thế kỉ XX.
Là một nước đa dân tộc, đa tôn giáo, tín ngưỡng nhưng với truyền thống văn hoá thống nhất trong đa dạng của mình, truyền thống tôn trọng và tin cậy lẫn nhau, trong lịch sử Việt Nam chưa từng xảy ra chiến tranh tôn giáo, chiến tranh sắc tộc. Và mỗi khi có ngoại xâm, thì tất cả các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam lại đoàn kết bên nhau, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, cùng nhau chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Cái tạo nên sức mạnh cho dân tộc Việt Nam đánh thắng bất kì kẻ thù xâm lược nào chính là bề dày văn hoá dân tộc và đó cũng chính là cội nguồn tạo nên sức mạnh cho chúng ta thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Văn hoá là sợi dây xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai của một dân tộc. Trong suốt quá trình đó luôn diễn ra sự kế thừa, biến đổi, thích nghi và phát triển. Đây là một quy luật phát triển biện chứng. Muốn hiểu được một nền văn hoá cần hiểu chính dân tộc đã sáng tạo ra nền văn hoá đó và chịu sự tác động của nền văn hoá đó, phải tìm trong văn hoá cái trọng tâm, động cơ và mục đích của sự phát triển, tức là tìm trong sức mạnh của con người mang nền văn hoá đó. Nhìn vào thực tế Việt Nam hiện nay chúng ta thấy, một mặt, để khắc phục sự đứt đoạn cần phải cố gắng nhanh chóng tìm ra một lối sống phù hợp với thời đại trong bối cảnh toàn cầu hoá trên cơ sở tiếp thu một cách có chọn lọc những cái hay, cái đẹp của văn hoá thế giới. Mặt khác, lại phải dựa trên nền tảng văn hoá của dân tộc mình để tìm ra con đường phát triển kinh tế phù hợp với con người và xã hội Việt Nam. Ở đây, không phải văn hoá dân tộc cổ truyền nói chung mà là văn hoá dân tộc tiên tiến, hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc giữ vị trí trung tâm, đóng vai trò then chốt điều tiết xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, sự du nhập không thể kiểm soát nổi của các dòng văn hoá ngoại lai vào Việt Nam đang là một thách thức rất lớn đối với nền văn hoá dân tộc. Điều này là một nguy cơ không chỉ riêng đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước đang phát triển khác. Để vượt qua những thách thức đó trong Nghị quyết "Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" của Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tháng 7 năm 1998 đã xác định rõ năm quan điểm chỉ đạo cơ bản việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Năm quan điểm chỉ đạo cơ bản đó là:
1. Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội;
2. Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
3. Đó cũng là một nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
4. Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá do toàn dân thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng;
5. Văn hoá là một mặt trận. Đó là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi ý chí cao, sự kiên trì và thận trọng.
Đây là một sự tổng kết, đúc rút kinh nghiệm của Đảng trong sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng – văn hoá hơn 70 năm qua để từ đó đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đối với toàn bộ sự nghiệp văn hoá nước nhà; tạo ra các thiết chế văn hoá phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội trước tình hình mới trong nước và trên thế giới.
Có thể nói, trong suốt hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng nền văn hoá nước ta đã phát triển không ngừng và thu được nhiều thành tích to lớn. Cách mạng tư tưởng – văn hoá được thực hiện trong mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với hai cuộc cách mạng khác là cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học – kĩ thuật, góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam. Xin lấy lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng làm ví dụ cụ thể.
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, được sinh ra, lớn lên trong xã hội nên quá trình phát triển của nó có quan hệ mật thiết và liên tục với sự phát triển của xã hội. Xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển của tôn giáo vừa trực tiếp, vừa gián tiếp.
Một mặt, khi lợi ích cơ bản của giai cấp cầm quyền trong xã hội không xung đột với lợi ích của tôn giáo và có thái độ khoan dung đối với tôn giáo thì tôn giáo phát triển ổn định. Số lượng tín đồ tôn giáo tăng theo tỉ lệ thuận với sự phát triển dân số. Quan hệ giữa các mặt của đời sống tôn giáo và đời sống xã hội là quan hệ bình ổn. Mặt khác, nếu giai cấp cầm quyền can thiệp sâu vào tôn giáo hoặc có thái độ khoan dung với tôn giáo này, áp chế tôn giáo khác thì sự phát triển của tôn giáo sẽ không còn bình ổn nữa, từ đó dẫn đến sự bất ổn trong mối quan hệ giữa tôn giáo và xã hội. Đây là sự ảnh hưởng trực tiếp.
Sự ảnh hưởng gián tiếp của xã hội đối với tôn giáo được thể hiện ở một bình diện khác. Trong xã hội cổ truyền không có sự phân li giữa chính trị và tôn giáo, giữa tôn giáo với pháp luật, tôn giáo với giáo dục, tôn giáo với đạo đức. Tất cả đều nằm trong một thể thống nhất. Do vậy nhiều chức năng xã hội do tôn giáo đảm nhiệm. Khi một xã hội như vậy phát triển ổn định thì con người cảm thấy bình yên. Song, khi xã hội thay đổi hoặc chuyển sang một hình thái khác, trong buổi giao thời cái cũ bị phá bỏ, cái mới đang hình thành, chưa ổn định sẽ dẫn tới sự rối loạn nhất thời trong xã hội: Rối loạn về trật tự xã hội, rối loạn về đạo đức và các hệ giá trị chủ đạo, rối loạn về tâm lí của các thành viên trong xã hội. Đây là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo phát triển: Tín đồ các tôn giáo truyền thống tăng nhanh, các tôn giáo mới hay các phong trào mang tính chất tôn giáo nảy sinh và phát triển mạnh mẽ. Như vậy, sự thay đổi xã hội đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của tôn giáo. Sự ảnh hưởng này đã làm cho tôn giáo phát triển trong một trạng thái vừa chống đối vừa thoả hiệp với xã hội, bởi vì tính thế tục của xã hội luôn đối lập với tính thần thánh của tôn giáo. Các tôn giáo, nhất là các tôn giáo truyền thống, trong quá trình phát triển của mình luôn từng bước tự điều chỉnh mình để thích ứng với các nhu cầu của xã hội hiện đại. Đó là quá trình đổi mới và cải cách về các mặt: Lễ nghi, giáo lí, thể chế, luân lí, đạo đức, lối sống và những quan niệm về bình đẳng và công bằng xã hội. Ngoài ra tôn giáo cũng ngày càng chú tâm tới các công việc thế tục. Trong mấy chục năm qua, các tôn giáo luôn quan tâm đến các vấn đề mang tính toàn cầu như: chiến tranh và hoà bình, môi trường sinh thái, tự do và nhân quyền, phúc lợi xã hội, cứu trợ nhân đạo, v.v… Ngoài ra họ cũng quan tâm tới các vấn đề chính trị xã hội, phát triển kinh tế và luôn là một bộ phận cấu thành của các đoàn thể xã hội, là chiếc cầu nối giữa chính quyền thế tục và người dân.
Đối với khoa học, tôn giáo cũng có thái độ ứng xử ngày một ôn hoà hơn. Tuy rằng giữa khoa học và tôn giáo có những cách lí giải hoàn toàn khác nhau về những vấn đề cơ bản như: Sự sinh thành của vũ trụ, nguồn gốc sự sống, vật chất và tiến hoá, v.v… Hơn thế nữa, thành quả của khoa học hiện đại đã ngày càng truy bức trực tiếp đến những tín điều cốt lõi trong giáo lí của tôn giáo như: Trẻ em sinh ra trong ống nghiệm, nhân bản động vật vô tính, biến đổi gien, v. v … Đứng trước thực trạng đó các tôn giáo đã thẳng thắn nhìn nhận vấn đề. Một mặt, họ đã tích cực lợi dụng các thành quả của khoa học hiện đại, mặt khác họ cố tìm cách đưa ra một cách "lí giải hợp lí" đối với những kết quả đó. Nghĩa là một mặt họ vẫn cố giữ vững trận tuyến thần học của mình, mặt khác lại ra sức lợi dụng các thành quả của khoa học kĩ thuật hiện đại. Song không phải vì thế mà cuộc tranh luận giữa khoa học và tôn giáo đã chấm dứt. Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga L. M. Mitơrôkhin đã nhận xét về điều này như sau: Trước đây người ta quan niệm rằng khi khoa học tiến thêm một bước, thì tôn giáo lùi lại một bước, còn ngày nay cần phải thay đổi lại quan niệm này: Khoa học đang thực sự tiến nhanh, nhưng tôn giáo lại không vội vã lùi lại, nó chỉ tìm nơi ẩn nấp để rồi khi có thời cơ lại tiếp tục bùng lên. Để giải quyết sự đối lập còn tồn tại giữa khoa học và tôn giáo, phần đông các nhà nghiên cứu đều cho rằng, về phía tôn giáo, cần hạn chế quyền hạn của mình trong khuôn khổ thế giới nội tâm con người, còn khoa học phải từ bỏ những tham vọng thế giới quan chuyên chế. Nói cách khác, niềm tin tôn giáo và tri thức khoa học cần phải bổ sung cho nhau như hai số đo về tồn tại của con người trong một tổng hoà các nhu cầu thế giới quan của hàng triệu triệu con người ở một giai đoạn phát triển xã hội nhất định([2]).
Trong quan hệ đối với văn hoá, tôn giáo vốn là một yếu tố của văn hoá, được sản sinh từ văn hoá để rồi sau đó lại góp phần thúc đẩy văn hoá phát triển.
Như đã trình bày ở phần trên, dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của mình, đã trải qua nhiều cuộc tiếp xúc với các nền văn hoá lớn. Qua mỗi cuộc tiếp xúc như thế người Việt Nam đã tiếp biến các yếu tố văn hoá ngoại sinh, làm phong phú thêm nền văn hoá của chính mình, trong đó tôn giáo là cầu nối quan trọng. Vì thế có thể nói tuyệt đại đa số các tôn giáo lớn trên thế giới đều đã có mặt tại Việt Nam. Đó là Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo từ Trung Quốc truyền sang; Công giáo từ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp; Tin lành từ Mỹ; Hồi giáo, Baha’i từ Ấn Độ và các nước trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam cũng có các tôn giáo, tín ngưỡng nội sinh như Đạo thờ cúng Tổ tiên, đạo Mẫu, Cao đài, Hoà Hảo và còn tới hơn 50 hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng mới khác cùng tồn tại. Sở dĩ ở Việt Nam có được một bức tranh tôn giáo đa dạng nhưng hài hoà như vậy là vì tính khoan dung trong văn hoá Việt Nam. Từ khoan dung văn hoá dẫn đến khoan dung tôn giáo. Tâm linh tôn giáo của người Việt Nam là đa/phiếm thần. Và theo cách nói của một số nhà nghiên cứu, đó là thứ tâm linh tôn giáo "bàng bạc", tuy là tín đồ của một tôn giáo này nhưng lại vẫn có thể tham gia vào các hành vi tôn giáo của những tôn giáo khác. Điều này lí giải vì sao, trong một nước đa dân tộc, đa tôn giáo như Việt Nam lại không có sự kì thị tôn giáo, xung đột tôn giáo và cao hơn là chiến tranh tôn giáo – sắc tộc. Đây là sự khác biệt với các dân tộc có tâm linh tôn giáo độc thần ở các nước phương Tây và một số nước Phương Đông. Sự tôn trọng lẫn nhau giữa chức sắc và tín đồ các tôn giáo, xu thế hoà nhi bất đồng đã trở thành truyền thống trong hoạt động tôn giáo của con người Việt Nam.
Một đặc điểm khác của tôn giáo Việt Nam là tính nhập thế, gắn đạo với đời. Tư tưởng này không chỉ được thể hiện trong quá khứ mà tiếp tục duy trì trong thời hiện đại. "Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội", "Kính chúa, yêu nước", "Sống phúc âm giữa lòng dân tộc", "Nước vinh, đạo sáng", "Tốt đời, đẹp đạo", v. v … luôn là những phương châm hành động của chức sắc và tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam.
Như vậy, tính nhập thế của các tôn giáo ở Việt Nam luôn gắn liền với tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc và xây dựng một xã hội công bằng vì hạnh phúc của mọi người. Tôn giáo đã có những đóng góp không nhỏ trong văn hoá và phát triển của xã hội Việt Nam.
Chính vì những đóng góp của tôn giáo trong văn hoá và phát triển ở Việt Nam mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã có chính sách văn hoá đối với tôn giáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ rất lâu đã nhận thấy cái cốt lõi đáng quý của tôn giáo là "mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội"([3]).
Đối với vấn đề tôn giáo, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta"([4]). Đây là quan điểm mới nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam về lí luận tôn giáo. Điểm mới thứ hai của Đảng về lí luận tôn giáo là sự khẳng định: "Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới"([5]). Sự khẳng định này chính là cách tiếp cận tôn giáo dưới góc độ văn hoá vì theo quan điểm của Đảng, đạo đức là một thành tố của văn hoá. Trước đó trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã khẳng định cần "phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá, đạo đức của tôn giáo"([6]). Trong văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, phần Những nhiệm vụ cụ thể có Nhiệm vụ thứ 8 – chính sách văn hoá đối với tôn giáo, ghi rõ: "Khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện… trong tôn giáo, đồng thời tuyên truyền giáo dục khắc phục tệ mê tín dị đoan; chống việc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng thực hiện ý đồ chính trị xấu"([7]).
Như vậy là đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo rất nhất quán, có sự kết hợp hài hoà giữa niềm tin tôn giáo với tinh thần yêu nước, động viên các tín đồ và chức sắc tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, phát huy những giá trị đạo đức, văn hoá tôn giáo tốt đẹp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc, đẩy lùi các hủ tục, đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để thực hiện các ý đồ chính trị đi ngược lại lợi ích của toàn dân tộc.
Từ những điều đã được trình bày trên đây, có thể tạm thời đi đến một nhận xét rằng, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra rất mạnh mẽ và giao lưu văn hoá ngày càng mở rộng, sự xâm nhập của các luồng văn hoá ngoại lai vào đời sống văn hoá dân tộc là một điều không thể tránh khỏi. Trong quá trình tiếp xúc với các luồng văn hoá mới này đã, đang và sẽ xảy ra không ít xung đột giữa các yếu tố của văn hoá dân tộc truyền thống với không chỉ các yếu tố tiêu cực của văn hoá ngoại lai mà còn cả với các yếu tố tích cực của nó. Song với sức mạnh tiếp biến văn hoá rất lớn của dân tộc Việt Nam, chúng ta nhất định sẽ biến sự xung đột văn hoá này thành động lực phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của đất nước, đưa dân tộc ta vượt qua sự tụt hậu, vươn lên đuổi kịp và đón đầu sự phát triển của thời đại.
 
TS Nguyễn Văn Dũng


[1] Nguyễn Duy Quý. Phấn đấu về một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. T/c Cộng sản, số 20 tháng 7 năm 2003, tr. 14.
[2] Xem: L. N. Mitơrôkhin. Tri thức khoa học và tôn giáo trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI. T/c Nghiên cứu Tôn giáo, số 2/2002, tr. 19, 20.
[3] Tôn Dật Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Hà Nội, 1946.
[4] Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá IX. Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, tr. 48.
[5] Văn kiện đã dẫn, tr. 45 - 46.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb CTQG, Hà Nội, 2001,
tr. 128.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII. Nxb. CTQG, 1998, tr. 67.
Đôi điều về mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc, tôn giáo và phát triển trong xã hội hiện nayĐây là thử thách đầu tiên đối với các chuẩn giá trị của văn hoá Việt Nam. Giá trị lớn nhất đã hình thành trong tâm thức người Việt Nam trong cuộc tiếp xúc này là tinh thần yêu nước. Từ đây đã hình thành lòng dũng cảm, ý chí kiên cường, tinh thần tự lực, tự
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa Phật giáo và Dân tộc qua mẫu hình Phật giáo thời Đinh-Tiền Lê
Bước đầu tìm hiểu về đạo Tin lành ở Hàn Quốc
Tìm hiểu tín ngưỡng dân gian trong đời sống cộng đồng cư dân Khánh Hòa
Chỉ thị 1940/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo đã thực sự đi vào cuộc sống
Những bước tiến trong công tác giáo dục-đào tạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thực hiện chính sách tôn giáo theo tinh thần nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Giới thiệu vài nét về đạo phục đạo Cao đài
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn 1945-1954
An lạc Phật giáo hòa trong vinh quang của Đảng
Phong tục thờ cúng tổ tiên của người tín đồ Cao đài
Tìm kiếm
Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Tin tức Video
Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2014: Hòa bình - Tử bi - An lạc
Tôn giáo Bahai'I 60 năm hình thành và phát triển ở Việt Nam
Kết quả thực hiện chỉ thị 01 về Đạo Tin lành
Hình ảnh
Philippines có Nhà thờ lớn nhất Châu Á
10 công trình tôn giáo đẹp nhất Malaysia
Phòng chẩn trị y học cổ truyền Trinh Vương của Dòng nữ tu Đa Minh Rosalima Việt Nam
Âm thanh
Phỏng vấn TS. Thượng tọa Thích Nhật Từ, Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó Ban Giáo dục Tăng Ni TƯ, Ban Hoằng pháp TƯ và Ban Phật giáo Quốc tế GHPGVN những thông tin chính về Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2014 tại Việt Nam
Nam Định thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo
Phật giáo Việt Nam trong xu hướng vận động của Phật giáo thế giới



Người chịu trách nhiệm chính:
Ông Dương Ngọc Tấn
Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Email: ttttbantongiao@chinhphu.vn
 

BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 763 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

 

LIÊN KẾT WEBSITE KHÁC