Ấn phẩm sách
Từ điển tôn giáo
Giới thiệu sách “ Văn bản Pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo”
Mác, Ăngghen, Lê nin bàn về tôn giáo
Tìm hiểu Kinh Thánh
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?













Chọn    Xem KQ
Vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa Phật giáo và Dân tộc qua mẫu hình Phật giáo thời Đinh-Tiền Lê

Nói đến Phật giáo Việt Nam, không thể không nhắc đến một yếu tố làm nên bản sắc riêng, tinh thần riêng, khiến Phật giáo Việt Nam mang đậm tính cách của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, không bị hòa tan trong truyền thống Phật giáo, vốn dĩ cũng có bề dày lịch sử như Phật giáo Trung Quốc, Lào, Campuchia…, đó chính là mối quan hệ gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.

Mối quan hệ mật thiết đó được gây dựng, nuôi dưỡng và phát triển trên cơ sở nền tảng của truyền thống có từ lâu đời, là sự kế thừa, tiếp nối và được làm đầy đặn thêm qua các giai đoạn lịch sử. Mối quan hệ đó được xây dựng trên tinh thần lục hòa của đạo Phật để có thể bất biến, trường tồn trong dòng chảy lịch sử hào hùng của dân tộc. Mối quan hệ đó cũng được tô thắm thêm bởi bao tấm gương sáng mà lịch sử dân tộc cũng như lịch sử Phật giáo còn khắc ghi, Đạo - Đời hòa quyện trong một để làm nên dấu ấn Phật giáo đậm nét nhưng hài hòa trong hầu hết mọi thăng trầm, biến động của lịch sử dân tộc. Và dù trong giai đoạn lịch sử nào, được thể hiện ra dưới những khía cạnh nào, thì mẫu hình về Phật giáo và dân tộc vẫn hiển hiện bằng tinh thần gắn bó, đồng hành cùng dân tộc.

 

 

       Mối quan hệ giữa Phật giáo và dân tộc thời Đinh - Tiền Lê là sự kế thừa, tiếp nối trong truyền thống Phật giáo Việt Nam
       Mối quan hệ giữa Phật giáo và dân tộc thời Đinh - Tiền Lê là mối quan hệ hòa hợp, đoàn kết vì lợi ích chung của đạo pháp và dân tộc
        Mối quan hệ giữa Phật giáo và dân tộc thời Đinh - Tiền Lê tạo tiền đề cho sự phát triển của Phật giáo trong kỷ nguyên độc lập, tự chủ 
1. Không phải đến thời Đinh - Tiền Lê, và trước đó là thời nhà Ngô, triều đại được coi là mở đầu cho cho kỷ nguyên độc lập, tự chủ của dân tộc, mối quan hệ giữa Phật giáo và dân tộc mới được đề cập đến như một điểm nhấn trong lịch sử Phật giáo, mà trước đó, khi Phật giáo có mặt trên đất nước Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên, Phật giáo đã thể hiện sự hòa hợp một cách nhanh chóng, bởi vì: “Đạo Phật xâm nhập vào đời sống tín ngưỡng dân gian ở Giao Chỉ một cách tự nhiên như nước thấm vào lòng đất, không gặp phản ứng và trở ngại, bởi lẽ những tín ngưỡng dân gian không đối lập với những tín ngưỡng cơ bản của đạo Phật. Phương pháp của đạo Phật không phải chống đối mà là hòa đồng. Điều này, một phần là do tính cởi mở không giáo điều của đạo Phật, một phần là do phật tử chịu học hiểu về các ý thức hệ mà họ muốn đối thoại. Kết quả của phương thức hòa đồng là không những Phật giáo đã sử dụng được cả kho tàng từ ngữ của Khổng - Lão để phiên dịch kinh điển và truyền đạt tư tưởng mà còn khiến cho nhiều người theo Khổng - Lão thấy được chiều sâu và giá trị của đạo Phật một cách dễ dàng”[1]. Gắn kết trong một dân tộc có truyền thống yêu chuộng hòa bình, Phật giáo đã đủ “nhân duyên” của mình để gây dựng và phát triển trong lòng dân tộc. Phật giáo của thời kỳ đầu du nhập đã có đủ dẫn chứng lịch sử để khẳng định, trung tâm Phật giáo Luy Lâu là một trong ba trung tâm lớn nhất thời bấy giờ và đây cũng là trung tâm xuất hiện sớm nhất trong khu vực[2].
Với lịch sử và phương thức xâm nhập như thế, Phật giáo đã dễ dàng có được vị trí trong lòng dân tộc. Mặc dù trong suốt thời gian dài của gần 1000 năm Bắc thuộc, Phật chưa bao giờ xa rời dân tộc, vẫn là một thực thể, một phần trong văn hóa, tình cảm, tín ngưỡng của mỗi người dân. Khi dân tộc cần Phật giáo, Phật giáo đã xuất hiện để đồng hành, trợ giúp trong sứ mệnh của dân tộc. Truyền thuyết còn ghi lại, vào thời khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43 sau Công Nguyên), trong đội quân nữ tướng của Hai Bà Trưng có những vị là nữ tu xuất gia, đã tình nguyện đi theo cuộc khởi nghĩa do Hai Bà khởi xướng để đấu tranh giành độc lập tự chủ dân tộc[3].
Sang đến thời Tiền Lý, Phật giáo và dân tộc còn trở nên gắn bó mật thiết hơn nữa khi những nhà lãnh đạo đất nước đều là những người am hiểu và theo đạo Phật. Với những yêu cầu của việc gìn giữ đất nước Vạn Xuân non trẻ mới được thành lập, các vị vua nhà Tiền Lý đã vận dụng tinh thần Phật giáo vào công cuộc trị nước. Vào thời này, thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã cho dịch bản kinh Đại thừa phương quảng tổng trì để lưu hành trong dân gian nhằm nêu cao tinh thần đoàn kết, hòa hợp trong Phật giáo như một nhu cầu tất yếu của việc đoàn kết dân tộc bởi vì khi nói đến việc hòa hợp trong giới Phật giáo chính là nói tới sự đoàn kết hòa hợp trong nhân dân vì như ta đã thấy, tấng lớp những người lãnh đạo đất nước Vạn Xuân đều là những Phật tử, và do đó, yêu cầu hòa hợp các thành phần Phật giáo với nhau, dù chỉ với mục đích học tập và thực thành giáo lý, vẫn có một ý nghĩa chính trị rất lớn. Đó là sự đoàn kết, đùm bọc, yêu thương lẫn nhau để bảo vệ và xây dựng đất nước[4].
Bằng chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền khởi xướng và lãnh đạo, đã đánh dấu một bước ngoặt to lớn, vĩ đại trong lịch sử dân tộc, chấm dứt thời kỳ tối tăm gần ngàn năm phương Bắc đô hộ, chấm dứt cả một trường kỳ kháng chiến với biết bao nhiêu máu đã đổ, xương đã tan cho nền độc lập, tự chủ của đất nước. Mặc dù nhà Ngô kéo dài không lâu, lại thêm những tranh chấp trong vương quyền dẫn đến chính sự rối ren. Nhưng trong bối cảnh đó, đạo Phật vẫn âm thầm, lặng lẽ phát triển và trở thành tiền đề quan trọng trong việc củng cố, gây dựng các vương triều sau. Dưới thời nhà Ngô, các tăng sĩ vẫn giảng kinh, tiếp độ khắp nơi, các đoàn truyền giáo vẫn có cơ hội để xiển dương chánh pháp. Tư tưởng của nhân dân vốn đã thấm nhuần tinh thần triết lý đạo Phật được thể hiện trong đời sống yêu hòa bình, tự do, yêu cái đẹp, sống tương thân tương ái, đùm bọc nhau, che chở lẫn nhau càng được thể hiện rõ nét khi được sống trong một đất nước độc lập, thanh bình, tự chủ. Đó chính là khát khao mà trải qua bao thăng trầm, biến động người dân đất Việt mới có được. Đó cũng chính là lý tưởng, triết lý bình dị mà thâm sâu của đạo Phật hiện hữu trên mảnh đất Việt Nam.
Thời nhà Ngô nắm vương quyền không chỉ là một mốc son trong lịch sử dân tộc, như một sự khẳng định nền độc lập, tự chủ hoàn toàn mà còn là dấu mốc trong lịch sử Phật giáo, bởi vì từ đây, đạo Phật đã tích cực đóng góp vào việc dựng nước và giữ nước. Việc những danh tăng xuất hiện trên vũ đài chính trị, trở thành một bộ phận quan trọng trong thể chế chính trị quốc gia đã mở ra một trang mới trong tinh thần nhập thế tích cực mà đạo Phật vẫn chủ trương và phát huy. Hai triều Đinh - Tiền Lê tiếp nối nhà Ngô, mặc dù triều đại duy trì không lâu nhưng đã để lại những dấu ấn đặc biệt trong lịch sử dân tộc mà có lẽ, hiếm có một giai đoạn lịch sử nào, Phật giáo lại có vị trí, vai trò, tầm ảnh hưởng và mối quan hệ gắn bó, khăng khít như thế. Năm 971, sau khi lên ngôi,  Đinh Tiên Hoàng đã định lại giai cấp cho tăng sỹ, ban chức tăng thống cho Ngô Chân Lưu, ban hiệu Khuông Việt Thái sư, người đứng đầu triều, như một cách chính thức thừa nhận Phật giáo tham gia chính sự. Vua Lê Đại Hành lên ngôi mọi việc chính sự đều đến hỏi Khuông Việt, lại cho mời Pháp Thuận và Vạn Hạnh làm cố vấn chính trị. Chính Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh cũng đã tiếp tục giúp Lý Thái Tổ dựng thành đế nghiệp suốt lịch sử hơn hai trăm năm.
2. Sang triều đại Đinh - Tiền Lê, Phật giáo đã đóng vai trò quan trong mối quan hệ với dân tộc. Nếu như trong các triều đại trước đây, Phật giáo được coi như một nền tảng tinh thần, giữ gìn sự đoàn kết, hòa hợp dân tộc, phát huy  tinh thần từ bi, hoan hỷ của đức Phật để giáo hóa dân chúng, tạo nên một diện mạo bình dị, gần gũi trong lối sống của người dân, thì sang đến triều đại Đinh – Tiền Lê, Phật giáo đã thể hiện vai trò nhập thế tích cực của mình để cùng gánh vác trọng trách, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ nền chủ quyền dân tộc. Ngay khi lên ngôi, Đinh Tiên Hoàng đổi hiệu nước là Thái Bình với ý nghĩa từ nay người dân sẽ đời đời được hưởng cảnh thái bình thịnh trị, đã cho vời ngay các vị thiền sư vào dự việc nước. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Năm Tân Mùi 971, bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo. Lấy Nguyễn Bặc làm Định Quốc công, Lưu Cơ làm đô hộ phủ sỹ sư, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu Khuông Việt Đại sư, Trương Ma Ni làm tăng lục, Đặng Huyền Quang được ban chức Sùng Chân uy nghi”[5]. Việc vua Đinh Tiên Hoàng ngay khi lên ngôi đã mời các nhà sư vào hỏi bàn việc nước đã chứng tỏ thời bấy giờ Phật giáo có vai trò khá to lớn trong xã hội, bởi vì với tinh thần nhập thế tích cực, Phật giáo đã tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội từ văn học, nghệ thuật cho đến chính trị, xã hội. Mối quan hệ giữa Phật giáo và dân tộc là mối quan hệ hai chiều, bởi vì với phương châm “đạo pháp bất ly thế gian pháp”, đạo Phật khẳng định, đạo cũng từ đời mà ra, đời nuôi dưỡng đạo và đạo độ lại cho đời. Chính vì thế khi biết phát huy sức mạnh của Phật giáo, lòng người đã được cố kết, nhân tâm quy về một mối, tiễu trữ được những mầm mồng phản nghịch, đó cũng chính là những mối lo của người lãnh đạo đất nước trong buổi đầu sơ khai.
Trong Thiền uyển tập anh còn ghi: “Năm bốn mươi tuổi danh sư vang đến triều đình, vua Đinh Tiên Hoàng mời đến, sư đối đáp hiệp chỉ, bèn phong làm tăng thống. Năm Thái Bình thứ 2 (971) vua ban hiệu Khuông Việt Đại sư”[6]. Điều đó cho thấy, hẳn Phật giáo thời bấy giờ và nhà sư Ngô Chân Lưu đã có rất nhiều đóng góp to cho xã hội. Chức tăng thống lần đầu tiên được nhắc đến trong lịch sử Phật giáo nước ta và có ý nghĩa như người đứng đầu, quản lý tăng đạo trong nước. Việc ban thêm cho tăng thống Ngô Chân Lưu hiệu Khuông Việt Đại sư lại một lần nữa cho thấy sự anh minh trong việc trị nước của vua Đinh Tiên Hoàng. Phật giáo lúc này đã trở thành một thứ vũ khí sắc bén để thực hiện việc thu hút lòng người. Chúng ta đều biết, như trong sử sách đã chép lại, Khuông Việt Đại sư họ Ngô, dòng dõi Ngô Thuận Đế. Đây là một chi tiết rất quan trọng, bởi vì sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, trong đó có 2 sứ quân là dòng dõi Ngô Quyền, hẳn những dư đảng vẫn còn và chưa hẳn đã chịu khuất phục, do đó việc ban hiệu Khuông Việt Đại sư cho một người họ Ngô, cũng là chủ ý của người đứng đầu đất nước hòng làm xoa dịu những bất mãn có thể có trong nội bộ những người thuộc dòng dõi tiền triều.
Khi nhà Tiền Lê nối ngôi nhà Đinh, các nhà sư lại càng được trọng dụng, theo Thiền uyển tập anh đối với Đại sư Khuông Việt, thì “hoàng đế Lê Đại Hành lại càng kính trọng hơn, phàm việc quân, việc nước ở triều đình đều để sư tham dự vào”[7], đối với thiền sư Pháp Thuận, thì “Đang lúc nhà Lê mới dựng nghiệp, trù kế hoạch, định sách lược, sư tham dự đắc lực. Đến khi thiên hạ thái bình, sư không nhận phong thưởng. Vua Lê Đại Hành càng thêm kính trọng, thường không gọi tên, chỉ gọi Đỗ pháp sư và đem việc soạn thảo văn thư giao phó cho sư”[8]. Và hẳn nhiên, lúc bấy giờ, Phật giáo đã đóng vai trò quan trọng trong việc gây dựng cơ đồ nhà Tiền Lê. Chẳng thế mà “Năm 980, quân Tống sang cướp nước ta, vua đã mời thiền sư Vạn Hạnh vào để hỏi về kế đánh giặc, cách bài binh bố trận ra sao để chắc chắn giành thắng lợi. Sư đáp sau 3, 7 ngày quân giặc phải lui, sau quả nhiên như thế. Bấy giờ sư nói ra lời nào, thiên hạ đều cho là sấm. Hoàng đế Lê Đại Hành hết lòng tôn kính sư”[9]. Hoặc khi được hỏi về vận nước, sư đã trả lời cho nhà vua bằng một bài thơ:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh
(Vận nước như dây quấn
Trời Nam mở thái bình
Thái bình trong điện ngọc
Nơi nơi hết đao binh)
Một lĩnh vực rất quan trọng trong thể chế chính trị mà các vua Đinh - Tiền Lê đã phải nhờ đến tài năng của các vị sư để giúp mình, đó là lĩnh vực ngoại giao với triều đình phương Bắc. Đây là công việc vô cùng khó khăn, thử thách bởi đế quốc phương Bắc luôn thể hiện thái độ bề trên, trịch thượng và không khi nào từ bỏ ý định thôn tính đất nước ta. Do đó, trong các mối quan hệ ngoại giao cần mềm mỏng nhưng phải mạnh mẽ, dứt khoát, tỏ rõ thái độ, khẳng định độc lập, chủ quyền của dân tộc.
Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), sứ nhà Tống là Lý Giác sang nước ta, vua Lê Đại Hành triệu Khuông Việt Đại sư giữ việc ngoại giao để ứng tiếp với sứ giả. Còn thiền sư Pháp Thuận cải trang làm người lái đò cho sứ giả. Tình cờ có đôi ngỗng bơi trên mặt nước, Lý Giác vốn có tài văn thơ, liền tức cảnh:
Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha.
(Song song ngỗng một đôi
Ngửa mặt ngó ven trời)
Người lái đó, tức thiền sư Pháp Thuận, đã ứng đối:
Bạch mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba.
(Lông trắng phơi giòng biếc
Sóng xanh chân hồng bơi)
Sứ giả nghe xong lấy làm ngạc nhiên và kính phục, không ngờ nước Việt lại có lắm nhân tài. Qua những lần tiếp đãi lịch sự của một thiền sư (Khuông Việt Thái sư đại diện cho triều đình) đối với sứ giả một nước lớn là Trung Hoa, Lý Giác càng lúc càng tỏ ra kính trọng vua nước ta, nên ông đã viết tặng bài thơ:
Hạnh ngộ minh thời tân thịnh du
Nhất thân lưỡng độ xứ Giao Châu
Đông đô tái biệt tâm lưu luyến
Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu
Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch
Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu
Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu
Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu.
(May gặp minh quân giúp việc làm
Một mình hai lượt sứ miền Nam
Mấy phen qua lại lòng thêm nhớ
Muôn dặm non sông mắt chửa nhàm
Ngựa đạp mây bay qua suối đá
Xe vòng núi chạy tới dòng lam
Ngoài trời lại có trời soi sáng,
Vầng nguyệt trong in ngọn sóng đầm)
Vua không hiểu ý câu thơ “ngoài trời lại có trời soi sáng” liền đem đến hỏi Khuông Việt Đại sư, Sư trả lời đó là họ coi nhà vua cũng như vua của họ. Vua rất mừng và sai sư làm một bài đáp từ. Đại sư Khuông Việt đã làm bài từ Vương lang quy để tiễn sứ giả. Bài từ này đã nhanh chóng được biết đến và trở thành áng văn mẫu mực của thi ca về đề tài tiễn biệt[10]. Không những thế, bài từ còn có tác dụng làm cho sứ giả nhà Tống càng thêm khâm phục tài năng của quân dân đất Việt và trong nhiều năm sau đó, nhà Tống phải bỏ ý định thôn tính đất nước Đại Việt.
Bên cạnh những đóng góp không nhỏ cho sứ mệnh dân tộc, thì những vị sư thời Đinh - Tiền Lê cũng là những người gây dựng và củng cố sự vững mạnh của Phật giáo. Với việc vua Đinh Tiên Hoàng phong cho thiền sư Ngô Chân Lưu làm tăng thống đã chứng tỏ, ngay từ thời Đinh - Tiền Lê, Phật giáo đã có sự thống nhất trong tăng đoàn chứ không phải đến thời Trần, với sự ra đời của thiền phái Trúc lâm, Phật giáo Việt Nam mới có sự thống nhất. Chức tăng thống của thiền sư Ngô Chân Lưu về sau còn được sử dụng qua nhiều triều đại.
Trong bối cảnh thời đại có nhiều biến động, lịch sử dân tộc đứng trước những biến động không ngừng, các triều đại thay nhau lên nắm vương quyền chỉ trong thời gian ngắn, việc bảo hộ cho đạo pháp được vĩnh truyền rõ ràng đặt ra những thách thức không nhỏ cho người đứng đầu tăng già như Khuông Việt Đại sư. Giải pháp mà Phật giáo đưa ra lúc này phải làm sao vừa đảm bảo được lợi ích dân tộc, vừa phải đảm bảo được lợi ích đạo pháp. Những mong muốn về một đất nước yên bình, thịnh trị, có độc lập chủ quyền để phật pháp được xương minh dưới thời Khuông Việt Đại sư, thiền sư Pháp Thuận, Vạn Hạnh đã được thực hiện. Và chính ở đây, tinh thần Phật giáo lại một lần nữa được các nhà sư thời Đinh - Tiền Lê áp dụng một cách triệt để. Sau khi đất nước đã thái bình thịnh trị, chính là lúc Phật giáo rút lui khỏi vũ đại chính trị, trở về với bản nguyên của Phật giáo. Những cột kinh mà Khuông Việt Đại sư được giao khắc thời Nam Việt Vương Đinh Liễn đã cung cấp rất giá trị lịch sử về sau này. Về cuối đời, Khuông Việt Đại sư đã xin về quê, lập chùa trụ trì, người học tìm tới đông đảo, để truyền dạy giáo lý của Phật Đà. Đó cũng chính là bản tính nhà Phật mà Phật giáo thời Đinh - Tiền Lê đã đóng góp cho dân tộc.
3. Với mẫu hình của một tinh thần Phật giáo nhập thế tích cực, Phật giáo thời Đinh - Tiền Lê đã trở thành giai đoạn tiên phong trong việc đáp ứng những đòi hỏi của xã hội về một mô hình Phật giáo và dân tộc, mà ở đó hai bên đều trong mối tương quan chung của sự phát triển. Phật giáo chỉ có thể lớn mạnh, vững bền trong một dân tộc lớn mạnh, vững bền, và ngược lại sự vững mạnh của Phật giáo sẽ góp phần làm nên sự vững mạnh của cả dân tộc. Với những gì đã thể hiện trong giai đoạn lịch sử tuy không lâu dài, những rõ ràng đã tạo nên tiền đề thuận lợi để Phật giáo thời Lý - Trần trở thành điểm sáng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Phật giáo thời Đinh - Tiền Lê là mẫu hình về một xã hội Phật giáo mà ở đó, Phật giáo được đề cao và phát huy vai trò. Trong các sinh hoạt xã hội cho đến thể chế chính trị, từ văn học, nghệ thuật cho đến kiến trúc, thi ca, Phật giáo đã tạo ra được một xã hội an lành theo tinh thần nhà Phật. Các vị vua lãnh đạo thời Đinh - Tiền Lê với tinh thần mộ đạo đã chèo lái, điều hành đất nước theo tinh thần Phật giáo với đầy đủ đức tính Bi – Trí – Dũng để tạo nên sức mạnh cho toàn dân tộc, trong đó yếu tố cố kết nhân tâm được đưa lên như một trọng trách hàng đầu đảm bảo cho sự trọn vẹn của độc lập, chủ quyền của dân tộc.
Kế thừa và phát huy những giá trị của các triều đại đi trước trong cả lịch sử đấu tranh chống lại ách đô hộ của phương Bắc cũng như trong việc giữ gìn nền độc lập mong manh, luôn luôn bị rình rập thôn tính bởi kẻ thù hùng mạnh, tinh thần Phật giáo đã hun đúc cho mỗi người dân đất Việt một bản lĩnh vững vàng để đối đấu với những thử thách. Tinh thần đó còn được thấm đẫm bởi giáo lý từ bi, hỷ xả của đạo Phật đã khiến cho các vị vua triều Đinh - Tiền Lê giữ được hòa khí với phương Bắc, tránh được cảnh chiến tranh, chết chóc nhưng đồng thời vẫn toát lên khí phách anh dũng, kiên cường của truyền thống quân dân Đại Việt anh hùng.
Trên cơ sở của những đóng góp mà Phật giáo đã làm được dưới hai triều đại Đinh - Tiền Lê, đã mở đường cho một thời kỳ cực thịnh của Phật giáo dưới thời đại Lý – Trần. Không ai khác chính thiền sư Vạn Hạnh sống vào thời Đinh – Tiền Lê chính là người đặt nền móng cho vương triều Lý, một vương triều được đánh giá là đạt được nhiều thành tựu nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Điều đó phải chăng là nhà Lý đã biết kế thừa và phát huy nhưng giá trị mà triều đại Đinh - Tiền Lê đã đạt được, trong đó không thể không nhắc đến những ảnh hưởng, tác động của Phật giáo, như một thực thể không thể tách rời, làm nên một bản sắc riêng trong truyền thống rất đỗi hào hùng của dân tộc Việt Nam./.
Phúc Nguyên - Vụ Phật giáo

 

 

Vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa Phật giáo và Dân tộc qua mẫu hình Phật giáo thời Đinh-Tiền LêMối quan hệ mật thiết đó được gây dựng, nuôi dưỡng và phát triển trên cơ sở nền tảng của truyền thống có từ lâu đời, là sự kế thừa, tiếp nối và được làm đầy đặn thêm qua các giai đoạn lịch sử. Mối quan hệ đó được xây dựng trên tinh thần lục hòa của đạo Phật
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Bước đầu tìm hiểu về đạo Tin lành ở Hàn Quốc
Tìm hiểu tín ngưỡng dân gian trong đời sống cộng đồng cư dân Khánh Hòa
Chỉ thị 1940/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo đã thực sự đi vào cuộc sống
Những bước tiến trong công tác giáo dục-đào tạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thực hiện chính sách tôn giáo theo tinh thần nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Giới thiệu vài nét về đạo phục đạo Cao đài
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn 1945-1954
An lạc Phật giáo hòa trong vinh quang của Đảng
Phong tục thờ cúng tổ tiên của người tín đồ Cao đài
Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sử
Tìm kiếm
Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Tin tức Video
Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2014: Hòa bình - Tử bi - An lạc
Tôn giáo Bahai'I 60 năm hình thành và phát triển ở Việt Nam
Kết quả thực hiện chỉ thị 01 về Đạo Tin lành
Hình ảnh
Khi phóng viên tác nghiệp
Chiêm ngưỡng nhà thờ Công giáo lớn nhất châu Á
Thế giới hân hoan đón chào lễ Phật Đản
Âm thanh
Phỏng vấn TS. Thượng tọa Thích Nhật Từ, Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó Ban Giáo dục Tăng Ni TƯ, Ban Hoằng pháp TƯ và Ban Phật giáo Quốc tế GHPGVN những thông tin chính về Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2014 tại Việt Nam
Nam Định thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo
Phật giáo Việt Nam trong xu hướng vận động của Phật giáo thế giới



Người chịu trách nhiệm chính:
Ông Dương Ngọc Tấn
Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Email: ttttbantongiao@chinhphu.vn
 

BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 763 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

 

LIÊN KẾT WEBSITE KHÁC