Ấn phẩm sách
Lời Phật dạy đối nhân xử thế
Từ điển tôn giáo
Giới thiệu sách “ Văn bản Pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo”
Mác, Ăngghen, Lê nin bàn về tôn giáo
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?













Chọn    Xem KQ
Bước đầu tìm hiểu về đạo Tin lành ở Hàn Quốc

So với nhiều nước ở khu vực châu Á thì đạo Tin lành truyền vào đất nước Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc) tương đối sớm và hiện nay đất nước này được xem là trung tâm của đạo Tin lành ở phương Đông bởi có số lượng tín đồ lớn, tỷ lệ dân số theo đạo cao. Từ đây đạo Tin lành được truyền bá, lan tỏa và là cầu nối cho quá trình truyền giáo vào khu vực và ra cả thế giới. Lịch sử cận, hiện đại của Hàn Quốc đã thừa nhận vai trò ảnh hưởng và đóng góp to lớn của đạo Tin lành trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nhiều mặt của đất nước.

       Trong phạm vi bài viết, đất nước Hàn Quốc được hiểu bao gồm cả Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên hiện nay cho tới trước khi có sự chia tách làm 2 quốc gia (trước năm 1945). Hàn Quốc là một quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên; phía Bắc giáp với Bắc Triều Tiên, phía Đông giáp với biển Nhật Bản, phía Tây là Hoàng Hải. Hàn Quốc có khí hậu và địa hình chủ yếu là đồi núi. Lãnh thổ Hàn Quốc rộng 100,32 km vuông. Dân số Hàn Quốc theo thống kê năm 2009 là 48,75 triệu dân, mật độ dân số là 494 người/1km2, cao thứ 3 trên thế giới (sau Bangladesh và Đài Loan). Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ 4 ở châu Á và thứ 15 trên thế giới, thế mạnh dựa vào xuất khẩu, tập trung vào hàng điện tử, ô tô, tàu biển, máy móc, hóa dầu và rô-bốt. Hàn Quốc là thành viên của Liên hợp quốc, WTO, OECDnhóm các nền kinh tế lớn G-20; là thành viên sáng lập của APECHội nghị cấp cao Đông Á. Thu nhập bình quần đầu người đến nay đạt khoảng 23.000USD người/năm.  Hiến pháp Hàn Quốc công nhận quyền tự do tôn giáo, trong số này 49% theo đạo Phật, 49% theo Kitô giáo (trong đó có 39% theo Tin lành và 10% theo Công giáo), 1% là tín đồ đạo Khổng, 1% còn lại theo các tôn giáo khác.

Cũng giống như nhiều nước ở châu Á, Hàn Quốc cũng có chính sách bế quan tỏa cảng trong nhiều thế kỷ ở thời phong kiến và người ta thường gọi là “Vương quốc ẩn sĩ” vì cho đến nửa đầu thế kỉ XIX, đất nước này vẫn kiên quyết từ chối quan hệ hay giao tiếp với các quốc gia bên ngoài. Tuy nhiên, họ bắt buộc phải mở cửa hướng ra thế giới trước nhiều sức ép của phương Tây và kết quả là đạo Tin lành đã du nhập vào Hàn Quốc vào cuối thế kỉ XIX. Trong suốt hơn 500 năm Vương triều Joseon (1392-1910), triết lý Khổng giáo là nền tảng tư tưởng, văn hoá, chính trị chính thống ở xã hội Hàn Quốc. Cho đến giai đoạn cuối của triều đại, giá trị này mới mất dần vai trò chủ đạo, những người theo Phật giáo và Khổng giáo đã cố gắng mang lại một trật tự xã hội mới cho Vương triều Joseon nhưng họ vẫn không thành công. Cùng lúc đó, đạo Tin lành đã du nhập vào Hàn Quốc, mang đến một thông điệp cũng như triết lý mới tới những người đang tìm kiếm một xã hội, một kỷ nguyên đổi mới.
Những ngày đầu đạo Tin lành truyền vào Hàn Quốc
Năm 1832 nhà truyền giáo Karl F.A.Gutzlaff (1803-1851) là người Tin lành đầu tiên đến Hàn Quốc trên chuyến tàu buôn của Anh từ Lord Amherst để truyền giáo kết hợp với kinh doanh nhưng không đạt kết quả. Tháng 9 năm 1866, Giám mục Anh giáo Robert Jermain Thomas (1840-1866), người truyền giáo Anh quốc hoạt động nhiều năm tại Trung Quốc đã sang đây truyền giáo khi chính quyền không cho phép và đã bị giết, trở thành người tử vì đạo đầu tiên trong lịch sử Giáo hội Tin lành Hàn Quốc bởi khi gần chết ông đã kịp truyền đạo cho một người Hàn Quốc.
Năm 1874, Mục sư John Ross (1842-1915) và Mục sư John Macintyre (1837-1905) là những người truyền giáo được Giáo hội Trưởng lão Xcot-len cử tới Mãn Châu (Trung Quốc) nơi gần nhất với biên giới Hàn Quốc để truyền giáo. Tại đây ông đã thuê những người Hàn Quốc trẻ tuổi làm người dạy tiếng Hàn và dịch Kinh thánh với sự trợ giúp của ông. Trong quá trình làm việc, họ đã quyết định theo đạo Tin lành và được mục sư MacIntyre làm lễ Bắptem vào năm 1876. Họ là những tín đồ Tin lành đầu tiên của Hàn Quốc. Sau đó, họ được bổ nhiệm làm maeseoin (người bán Kinh thánh), và trở về nhà với nhiều bản dịch Kinh thánh, họ thuyết giáo sách Phúc âm và xây dựng tổ chức Tin lành Hàn Quốc đầu tiên.
Sự truyền bá đạo Tin lành thực sự bắt đầu sau khi Hàn Quốc kí hiệp ước với Hoa Kỳ về thông thương năm 1882 và văn phòng Lãnh sự Mỹ được thành lập tại Seoul. Từ thời điểm đó, Hàn Quốc chính thức thiết lập mối quan hệ ngoại giao với nước ngoài, đặc biệt các nước phương Tây. Sau đó những người phương Tây có thể đến buôn bán và cư trú hợp pháp tại “Đất nước Ẩn sĩ” này. Từ đây người dân Hàn cũng bắt đầu giao tiếp với người nước ngoài và những người truyền giáo được phép tới Hàn Quốc truyền đạo.
Hoạt động của những người truyền giáo đầu tiên
Horace N. Allen (1858-1932), một bác sĩ y khoa, do Giáo hội Trưởng lão Hoa Kỳ cử tới, đã đến Jemulpo (Incheon) vào tháng 9 năm 1884, cộng đồng người nước ngoài tại Hàn Quốc đã rất hoan nghênh ông vì ở đây không có một bác sĩ Tây y nào. Năm 1885, mục sư Horace G.Underwood của Giáo hội Trưởng lão Hoa Kỳ và mục sư Henry G. Appenzeller của Giáo hội Giám lý (Hoa Kỳ) đến Seoul truyền giáo. Tại đây luật pháp vẫn ngăn cấm nên họ đã không thể truyền đạo, họ phải thực hiện công việc đó qua hoạt động giáo dục. Trong thời gian này một số ngôi trường được thành lập với các bậc học chuyên biệt hoặc phổ thông khác nhau cho cả nam và nữ theo mô hình mới. Từ đây một nền giáo dục hiện đại đã hình thành do chính những người truyền giáo phương Tây tại Hàn Quốc lập ra.
Năm 1886, mục sư Underwood đã rửa tội cho Ro Jun-gyeong, và thành lập Giáo hội Trưởng lão Saemunan năm 1887 – Giáo hội đầu tiên của Hàn Quốc. Sau đó, Giáo hội Giám lý đầu tiên là Jeongdong tại Seoul được thành lập vào năm 1896. Hiện giờ Giáo hội Jeongdong vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu và được Chính phủ Hàn Quốc bảo tồn như một di sản văn hóa quan trọng. Tiếp đó Hội truyền giáo Trưởng lão Úc đi vào hoạt động năm 1889, Giáo hội Trưởng lão miền Nam Hoa Kỳ vào năm 1894, tiếp đến là Giáo hội Đức Giáo hoàng, Đội quân cứu tế, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm ngày thứ bảy, Giáo hội Bắp tít…
Những người truyền giáo Tin lành Trưởng lão thông qua chính sách “Phương pháp Nevius”, của mục sư John Nevius thuộc Giáo hội Trưởng lão Hoa Kỳ, họ đã mời mục sư John Nevius, là người truyền giáo tại Trung Quốc, đến truyền giảng và họ đã lắng nghe những bài thuyết giảng về chiến lược truyền giáo của ông. Chiến lược bao gồm “Những nguyên lý ba tự” - tự hỗ trợ, tự truyền bá, tự quản lý - chính sách này có ảnh hưởng to lớn tới hoạt động truyền giáo tại Hàn Quốc và thúc đẩy Giáo hội Tin lành phát triển trên mảnh đất Hàn Quốc. Theo chính sách này, một trong những hoạt động truyền giáo quan trọng nhất là dịch Kinh thánh sang tiếng Hàn Quốc.
Một trong những chính sách truyền giáo hiệu quả là nâng cao vị trí xã hội của người phụ nữ khi mà xã hội truyền thống Hàn Quốc coi trọng tầng lớp và địa vị thống trị của nam giới. Những người truyền giáo thuyết giảng rằng tất cả loài người đều ngang bằng nhau trước Chúa, chú trọng vào sự công bằng giữa phụ nữ và đàn ông, giáo hội đã khuyến khích từ bỏ những tập tục phân biết đối xử đối với phụ nữ, như: nữ giới phải kết hôn sớm, cấm góa phụ tái hôn và nữ giới bị bán cho những nhà giàu làm vợ lẽ... Giáo hội Tin lành cũng cố gắng phá bỏ cơ cấu giai cấp cũ trong xã hội Hàn Quốc bởi nó được phân chia thành một trật tự thứ bậc. Đạo Tin lành dạy rằng Chúa đã tạo ra nhân loại và đối xử công bằng với họ như những con chiên yêu quý của Người. Do đó, Giáo hội không thể không quan tâm đến các trẻ em mồ côi, các góa phụ, những người tàn tật, người già neo đơn, người nghèo và bệnh tật...
Để hủy bỏ sự phân biệt, đối xử thiếu công bằng, đạo Tin lành đã yêu cầu học sinh phải được học những nghề thủ công bởi những công việc này trước đây chỉ dành cho giai cấp thấp và không mấy được quý trọng. Đạo Tin lành đã cố gắng phấn đấu nâng cao giá trị công việc lao động chân tay, mang đến một thông điệp tự do dành cho xã hội phân biệt giai cấp và độc tài trong một thời gian dài. Dân chúng chấp nhận thông điệp đó không chỉ vì sự cứu giúp tinh thần và tôn giáo của nó mà còn vì sự tự do mang tính chất xã hội thế tục. Tuy những người truyền giáo mang lại thay đổi tích cực trong trường học và nền giáo dục Hàn Quốc nhưng họ cũng dạy người dân Hàn từ bỏ văn hóa và tôn giáo truyền thống. Các nhà truyền đạo Tin lành đã mắc sai lầm khi áp đặt hệ thống giá trị phương Tây lên người dân Hàn dưới cái tên đức tin Ki tô giáo.
Công cuộc cải cách và tổ chức Giáo hội
Trong giai đoạn đầu, nhiều người thay đổi tín ngưỡng đi theo đạo Tin lành để hoàn thiện mục đích sống, như: làm ăn phát đạt, sức khỏe dồi dào, được học tập… Tuy nhiên, sau công cuộc cải cách, những điều này đã hoàn toàn thay đổi, đây là một bước ngoặt trong lịch sử Giáo hội Tin lành Hàn Quốc. Hội nghị Kinh thánh Mùa đông được tổ chức tại Pyongyang vào tháng 1 năm 1907 đã khẳng định chuẩn mực đạo đức của cộng đồng Tin lành được nâng cao, những giá trị tinh thần bắt đầu giữ vị trí cốt lõi trong suy nghĩ của những người theo đạo Tin lành. Những người theo hay không theo đạo Tin lành đều được chỉ dẫn làm sao để sống có đạo đức, có nghĩa rằng đạo Tin lành có thể im lặng trong tất cả mọi chuyện nhưng không thể im lặng trước nỗi thống khổ của đất nước và sự khai thác của Nhật Bản trong suốt thời gian chiếm đóng Hàn Quốc. Người Nhật nhận ra những tín đồ đạo Tin lành thuần thành sẽ không bao giờ quên đi vận mệnh của chính đất nước cũng như tính mệnh của người dân Hàn Quốc.
Mặt khác, vẫn còn một vấn đề cần đề cập trong công cuộc cải cách vĩ đại của đạo Tin lành, đó là dưới ảnh hưởng của những quan niệm Tây Âu được khuyến khích, tín đồ Tin lành Hàn Quốc được chỉ đạo chấp nhận sự ngăn cách của Giáo hội với nhà nước như một nguyên lý cơ bản. Kết quả là, những người theo đạo Tin lành tập trung nhiều vào các vấn đề cứu rỗi linh hồn và đạo đức mỗi cá nhân trong sự thờ ơ những mối quan tâm chính trị. Khi Phong trào Độc lập bắt đầu vào năm 1919, nhiều tín đồ Tin lành đã tham gia, nhưng một số nhà lãnh đạo mang lập trường tư tưởng Tin lành đã kí Bản Tuyên ngôn Độc lập thừa nhận sự xung đột dân tộc vì những người truyền giáo đã dạy họ không liên quan, can thiệp đến chính trị và không hợp tác với những người thuộc tôn giáo khác. Tuy có những vấn đề như vậy nhưng kết quả nổi bật của công cuộc cải cách là phong trào đổi mới xã hội, phong trào yêu nước chống Nhật Bản của những người theo đạo Tin lành và toàn thể nhân dân Hàn Quốc. Tình yêu nước được những nhà lãnh đạo Tin lành truyền cảm hứng đã lớn mạnh trong cộng đồng. Những hội nghị và cuộc thảo luận thường xuyên được giáo hội tổ chức về những vấn đề như thân phận vợ lẽ, kết hôn sớm, hút thuốc và uống rượu…
Năm 1901, Giáo hội Trưởng lão thành lập học viện Thần học Trưởng lão tại Pyongyang, tới năm 1907, có 7 học viên đầu tiên đã hoàn thành khóa học và tốt nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng của các giáo hội đã khích lệ những thành viên thành lập Giáo hội Hàn Quốc. Do đó, năm 1907, Giáo hội Trưởng lão đã xây dựng nên Hội đồng Trưởng lão Độc lập I. Trong hội đồng, 7 học viên đã tốt nghiệp được phong chức và trở thành những mục sư Hàn Quốc đầu tiên. Từ đó, giáo hội Tin lành do mục sư Hàn Quốc điều hành. Năm 1909, chiến dịch “Hàng triệu tâm hồn vì Chúa” đã khơi nguồn cảm hứng tất cả các Giáo hội ở Hàn Quốc, một thực trạng khác thường của phong trào này là thành viên giáo hội bắt đầu hiến tặng “thời gian” cho giáo hội. Những người nghèo theo đạo Tin lành thường hiến tặng thời gian của họ thay vì ủng hộ tiền để truyền bá sách Phúc âm gồm có sách Kinh thánh, tờ rơi với thông điệp Ki tô giáo. Nhờ vậy, họ đã thu hút được nhiều hội viên và giáo hội lớn mạnh nhanh chóng. Đến năm 1911, giáo hội Trưởng lão đã đạt tới đỉnh điểm sẵn sàng cho việc thành lập Đại Hội đồng. Năm 1912, mít tinh Đại hội đồng đầu tiên của Giáo hội Trưởng lão Hàn Quốc được tổ chức tại Pyongyang. Đại hội đồng nhất trí thực hiện hoạt động truyền giáo nước ngoài tới Trung Quốc. Do đó, giáo hội Hàn Quốc đã trở thành một giáo hội truyền giáo chỉ sau một thế hệ tiếp nhận sách Phúc âm.
Hội Tin lành Giám lý cũng sáng lập tổ chức của riêng mình, năm 1908, Hội nghị Hàn Quốc hàng năm của Hội giám lý (phía Bắc) được thành lập. Hội giám lý Hàn Quốc phân chia thành hai nhóm, nhóm phía Nam và Bắc, được chỉ đạo bởi những người truyền giáo Mỹ tại miền Nam và Bắc. Giáo hội Jeongdong do phía Nam quản lý, Giáo hội Jonggyo và Dongdaemun thuộc về phía Bắc. Trường dòng Thần học Giám lý phát sinh từ Baeje Hankdang thành lập năm 1897 là trường Thánh kinh thần học có lịch sử lâu đời nhất Hàn Quốc. Trong số 33 đại diện của Phong trào Độc lập đầu tiên vào Tháng 3 năm 1919 có tới 7 người xuất thân từ Trường dòng Thần học Giám lý. 
Kim Sang-jun và Jeong Bin, là hai người theo học tại trường Thánh ở Tokyo đã sáng lập Giáo hội Đức Giáo hoàng. Sau nhiều nỗ lực, trên đường trở về Hàn Quốc, Giáo hội Đức Giáo hoàng chính thức được thành lập năm 1921. Tướng R. Hoggard đến từ Anh đã sáng lập Đội cứu tế và hoạt động của Đội do giáo hội khởi xướng vào năm 1908.
Chính sách của Nhật Bản đối với Giáo hội Hàn Quốc và sự kháng cự từ phía Hàn Quốc
Năm 1910, Nhật Bản xâm lược Hàn Quốc, kể từ đó nhiều thành viên và lãnh đạo các tổ chức Tin lành Hàn Quốc đã tham gia hoạt động vì nền độc lập quốc gia. Toàn quyền Nhật Bản cho rằng nhóm chống Nhật Bản mạnh nhất là nhóm những nhà lãnh đạo và giáo hội đạo Tin lành theo chủ nghĩa dân tộc. Sau vụ ám sát Durham White Stevens – cố vấn ngoại giao của Toàn quyền – do tín đồ Tin lành gây ra tại San Francisco vào năm 1908 và vụ ám sát Thủ tướng Nhật Bản Ito Hirobumi do một tín đồ Công giáo gây ra vào năm 1909, Chính quyền thực dân Nhật đã bắt đầu tỏ rõ thái độ thù địch sâu sắc đối với giáo hội. Họ áp dụng các phương thức đàn áp chống lại trường học và giáo hội.
Vấn đề khó khăn nhất những giáo hội Tin lành phải đương đầu trong giai đoạn bị Nhật chiếm đóng là sự thờ phụng tại Đền Shinto. Chính phủ thuộc địa Nhật Bản buộc những tín đồ Tin lành Hàn Quốc phải thờ phụng Nhật Hoàng bởi ông được xem như là con cháu ruột của Thần Mặt trời Amaterasu và Nhật Bản được xem là một đất nước linh thiêng. Ban đầu giáo hội còn phản kháng, nhưng cuối cùng đã phải nhượng bộ. Năm 1938, Đại hội đồng Giáo hội Trưởng lão đã tán thành sự nhượng bộ này, công bố rằng “sinh hoạt tâm linh tại đền chùa không phải là tín ngưỡng, không xung đột với đạo Tin lành và là nghi lễ thể hiện tình yêu nước. Tuy nhiên đã có hàng trăm mục sư và những tín đồ chống đối việc ép buộc tín ngưỡng từ người Nhật cho dù họ phải chịu sự hành hạ và bị tống giam trong nhiều năm. Người nổi tiếng nhất là mục sư Ju Gi-cheol của Giáo hội Trưởng lão Sanjeonghyeon tại Pyongyang, hơn 50 mục sư đã chết ở trong tù trước khi đất nước Hàn Quốc giải phóng năm 1945.
Những người theo đạo Tin lành đấu tranh chống lại những chính sách hà khắc của Nhật Bản dưới nhiều hình thức khác nhau. Ban đầu, họ đấu tranh thông qua việc chống thuế, đó là hành động chống đối trực tiếp đối với những chính sách áp dụng sức ép kinh tế lên người dân. Vào tháng 4 năm 1907, người theo đạo Tin lành tại thành phố Pyongyang và khu vực ngoại ô cũng chống đối bằng cách đóng các cửa hàng kinh doanh của họ trong 8 ngày như sự thể hiện tinh thần chống Nhật. Cùng thời điểm đó, người theo đạo Tin lành bắt đầu phát động phong trào “đòi lại món nợ quốc gia” chống lại Nhật Bản, được khởi xướng bởi giáo hội và các trường học truyền giáo. Nữ tín đồ Tin lành đã quyên góp nhẫn và trang sức của họ, những sinh viên các trường học Tin lành đóng góp tiền của cho phong trào và nhiều tín đồ Tin lành khác đã cống hiến cả cuộc đời họ vì phong trào này.
Phong trào chống lại Nhật Bản quan trọng nhất và được quần chúng nhân dân tham gia nhiều nhất là phong trào giành độc lập đầu tiên tháng 3/1919, đó là cuộc vận động phi bạo lực, những nhóm đông tụ họp lại tại các tỉnh thành trên nước Hàn Quốc và khi họ diễu hành đã hô to “manse” (thịnh vượng mãi mãi) như một sự bày tỏ mong muốn khát khao về đất nước độc lập tự do. Như đã đề cập trước đó, một nửa trong số 33 nhà lãnh đạo đã kí Bản Tuyên ngôn Độc lập là người theo đạo Tin lành.
Trong những năm 1940, chế độ cai trị của Nhật Bản đang suy tàn, chính phủ buộc các giáo hội phải hợp thành một giáo hội thống nhất mà không có bất kỳ mối quan hệ giáo phái riêng nào. Do đó, tất cả tổ chức giáo hội của các hệ phái khác nhau đã nhất trí hợp thành một giáo hội vào năm 1943, và cuối cùng chính phủ đã buộc giáo hội này phải nằm trong sự quản lý của giáo hội Nhật Bản. Chỉ hai tuần sau khi được giải phóng, vào ngày 1 tháng 8 năm 1945, Giáo hội Hàn Quốc hợp nhất đã trở thành một nhánh của Giáo hội Nhật Bản thống nhất.
Giáo hội tự do và sự ly giáo
Cuối thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào chống Nhật giải phóng nước Hàn đã nổ ra, ngày 15 tháng 8 năm 1945, giấc mơ trong gần 40 năm của toàn thể dân chúng Hàn Quốc đã được thực hiện. Giải phóng đất nước là niềm hạnh phúc cho tất cả mọi người, đặc biệt là đối với những người theo đạo Cơ đốc. Nhiều nhà lãnh đạo của đạo Tin lành được trả tự do, chỉ trong vài tuần, các giáo hội có cơ hội tổ chức lại và phục hồi. Tuy nhiên, niềm vui thật ngắn ngủi bởi đất nước bị chia cắt hai miền Nam Bắc tại vĩ tuyến 38, quân đội Xô Viết kiểm soát phía Bắc Hàn Quốc, Mỹ kiểm soát miền Nam Hàn Quốc. Trong suốt thời kỳ chiến tranh 1950-1953, nhiều người theo đạo Tin lành bị giết và các công trình giáo hội bị phá hủy. Tại phía Nam, sau khi giải phóng, tất cả những tổ chức giáo hội của các hệ phái bắt đầu khôi phục những hình thức truyền thống ban đầu và tự cải tổ.
Sau khi chiến tranh chấm dứt cùng với sự đình chiến năm 1953, những hệ phái mới đã xuất hiện tại Hàn Quốc như Giáo hội Tin lành Đông Á (sau cải tổ thành Giáo hội Tin lành Bắp-tít), Giáo hội của Chúa Giêsu, Giáo hội Nazareth, Giáo hội của Chúa trời, Hội đồng Chúa trời và Hội truyền giáo liên minh (TEAM) và những giáo phái khác cũng hoạt động rất khó khăn trong tình hình hỗn loạn sau chiến tranh.
Giáo hội thích nghi với xã hội và những thách thức mới
Sau chiến tranh, xã hội Hàn Quốc vô cùng hỗn loạn, cuộc tàn sát đau thương các sinh viên xảy ra trong suốt quá trình khủng bố bạo lực. Cuộc Cách mạng Sinh viên ngày 19 tháng 4 năm 1960, Tổng thống Syngman Rhee bị buộc phải từ chức. Năm 1961, chính quyền độc tài bắt đầu với cuộc đảo chính vũ trang ngày 16 tháng 5, và chế độ mới này đã hướng đất nước vào công cuộc phát triển công nghiệp nhanh chóng với kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm. Từ đây đã có bước chuyển dịch to lớn trong dân chúng từ nông thôn đến thành thị, đời sống kinh tế được nâng cao thì cũng xuất hiện nhu cầu cao hơn về tự do chính trị và nhân quyền. Giáo hội Tin lành đã đối phó với thách thức này bằng hai phương pháp khác nhau. Một mặt, giáo hội phát động công cuộc truyền bá Kinh Phúc âm trên phạm vi rộng lớn. Mặt khác, giáo hội cũng đối phó với biến đổi xã hội to lớn bằng tinh thần tiên tri. Nhiều nhà lãnh đạo Tin lành đã dũng cảm ủng hộ công bằng xã hội và nhân quyền.
Giữa thời đại công nghiệp hóa nhanh chóng, số lượng nhân công lương thấp gia tăng, đặc biệt là những công nhân nữ thường xuyên bị cướp đi nhân quyền. Các nhà truyền giáo trong nhà máy cư xử thân mật với công nhân, cùng ăn trưa với họ, sau đó có một vài nghi lễ nhỏ. Thông qua hội mục sư công nghiệp, nhiều công nhân đã trở thành tín đồ đạo Tin lành. Tuy mang lại sự thúc đẩy mạnh phát triển kinh tế nhưng hoạt động truyền giáo tại khu công nghiệp này cũng gây ra nhiều xung đột với chủ nhà máy và với chính phủ, nhiều nhà lãnh đạo giáo hội đã bị bắt và bị tống giam. Cuộc xung đột cũng tạo ra một cơ hội tốt cho các giáo sỹ Công giáo và mục sư Tin lành tiến lại gần nhau vì lời cầu nguyện và hành động chung cho những người bị đàn áp. Thuyết thần học gọi là Minjung bắt nguồn từ những nhà thần học Tin lành Hàn Quốc, nảy sinh sự trong niềm tin Phúc âm với trải nghiệm xã hội trong suốt những năm 70 và 80 của thế kỷ XX.
Cuối thập kỷ 70, các giáo hội mở rộng hoạt động truyền giáo ra nước ngoài, cử những người truyền giáo tới Việt Nam, Bănglađét, Inđônêxia, Philippin, Tây Đức, Iran, Guam, Singapore, New Zealand và Mỹ. Trong 30 năm sau chiến tranh Hàn Quốc, tất cả mọi liên hệ giữa giáo hội hai miền Nam Bắc đã hoàn toàn bị cắt đứt. Vào thập kỷ 80, các giáo hội phía Nam bắt đầu họp bàn phương thức để họ có thể nỗ lực giành được sự thống nhất đất nước. Năm 1986, Ủy ban Quan hệ Quốc tế của Hội đồng các giáo hội thế giới (WCC) đã sắp xếp cuộc họp mặt các đại diện của giáo hội hai miền Nam Bắc tại Thụy Sỹ. Đây là buổi họp mặt đầu tiên của các thành viên đến từ hai giáo hội trong vòng 33 năm từ khi Hàn Quốc bị chia cắt. Năm 1994, WCC cũng tổ chức thảo luận sự thống nhất giáo hội của Hàn Quốc tại Nhật Bản. Sau đó không lâu chính phủ Bắc Hàn đã xây dựng Giáo hội Tin lành Pongsu và Giáo hội Công giáo La Mã Changchung tại Pyongyang. Đây là những giáo hội đầu tiên chính thức được thành lập tại Bắc Hàn sau chiến tranh.
Ki tô giáo Hàn Quốc đối phó thiên niên kỷ mới
Vào cuối những năm 1990, hội nghị Công bằng, Hòa bình và Toàn vẹn của Tạo hóa (JPIC) hội tụ những tín đồ Tin lành trên toàn thế giới, được tổ chức tại Seoul. Hội nghị kêu gọi các tín đồ đạo Tin lành nhận ra tội lỗi của mình trước Chúa và ăn năn cho sự bỏ qua chênh lệch giàu nghèo giữa các quốc gia, sự chấp nhận các vũ khí hạt nhân tại một số nước và lờ đi sự phá hoại môi trường.
Trong những năm gần đây, giáo hội Hàn Quốc đang đấu tranh với dư luận của tính đa nguyên tôn giáo. Những thần học gia và lãnh đạo giáo hội tranh cãi ý nghĩa của tôn giáo phi Cơ đốc đối với niềm tin Cơ đốc giáo và phương pháp riêng của Tin lành chứng kiến trong xã hội Hàn Quốc, một xã hội giàu di sản tôn giáo truyền thống.
Kết luận
Đạo Tin lành đến với người dân Hàn Quốc vào thời điểm họ phải đương đầu với các vấn đề đối nội và đối ngoại khác nhau. Thông điệp Cơ đốc giáo đã khai sáng và khuyến khích dân chúng nghe theo lối sống hiện đại, thực tế và bổ ích. Đạo Tin lành cũng mang lại cho xã hội Hàn Quốc sự hình thành nhà nước dân chủ bằng nỗ lực bãi bỏ hệ thống phân chia giai cấp trong xã hội, nâng cao sự bình đẳng cho người phụ nữ và giảm thiểu thất học. Thông qua nền giáo dục phổ thông và giúp đỡ cho người thất học, giáo hội đã giảm được sự mê tín dị đoan và nuôi dưỡng sức mạnh tri thức, tâm hồn con người. Đạo Tin lành Hàn Quốc cũng được tin tưởng sẽ giới thiệu và phổ biến những tổ chức và hoạt động văn hóa hiện đại như y tế, âm nhạc, thể thao, du lịch, hiệp hội và nhiều tổ chức phúc lợi khác. Vai trò tích cực của tín đồ đạo Tin lành trong đời sống tín ngưỡng được thừa nhận là vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho họ trở thành những công dân có trách nhiệm trong xã hội dân chủ hiện đại.
Mặc dù có những đóng góp quan trọng như vậy, nhưng tín đồ đạo Tin lành Hàn Quốc thường xuyên xảy ra sự phân chia thay vì đồng lòng thống nhất trong cùng một xã hội. Một số tham vọng của siêu giáo hội cũng kích động tới sự chỉ trích không chỉ của những người phi Cơ đốc giáo mà còn của bản thân những người theo đạo Tin lành.
Trong khoảng hơn 100 năm, đạo Tin lành tới Hàn Quốc đã phát triển trở thành một trong những trung tâm của tôn giáo này trên thế giới. Hiện nay theo điều tra chính quyền công bố có khoảng gần 20 triệu tín đồ và hơn 100.000 thành viên của giới chức sắc. Có đông đảo các hệ phái và giáo phái trong đạo Tin lành Hàn Quốc được kiểm soát bởi các hệ phái ở nước ngoài, đây là một hiện tượng phần lớn là do những ngày đầu của hoạt động truyền giáo nước ngoài tại Hàn Quốc. Giáo hội Trưởng Lão tự chia thành nhiều giáo phái, đây là hệ phái có số lượng tín đồ lớn nhất tại Hàn Quốc. Có quan điểm cho rằng đạo Tin lành Hàn Quốc không thể có một tổ chức thống nhất do sự khác biệt về thuyết thần học và giữa lãnh đạo là người Tin lành của 2 đảng tự do và bảo thủ trong giới cầm quyền./.
 
Nguyễn Đăng Bản
Vụ Tin lành, BTGCP
Bản dịch Việt ngữ của Tuyết Lan
Bước đầu tìm hiểu về đạo Tin lành ở Hàn QuốcTrong phạm vi bài viết, đất nước Hàn Quốc được hiểu bao gồm cả Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên hiện nay cho tới trước khi có sự chia tách làm 2 quốc gia (trước năm 1945). Hàn Quốc là một quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tìm hiểu tín ngưỡng dân gian trong đời sống cộng đồng cư dân Khánh Hòa
Chỉ thị 1940/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo đã thực sự đi vào cuộc sống
Những bước tiến trong công tác giáo dục-đào tạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thực hiện chính sách tôn giáo theo tinh thần nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Giới thiệu vài nét về đạo phục đạo Cao đài
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn 1945-1954
An lạc Phật giáo hòa trong vinh quang của Đảng
Phong tục thờ cúng tổ tiên của người tín đồ Cao đài
Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sử
Về việc đăng ký hoạt động và công nhận tổ chức tôn giáo
Tìm kiếm
Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Tin tức Video
Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2014: Hòa bình - Tử bi - An lạc
Tôn giáo Bahai'I 60 năm hình thành và phát triển ở Việt Nam
Kết quả thực hiện chỉ thị 01 về Đạo Tin lành
Hình ảnh
Ban Tôn giáo Chính phủ thanh tra chuyên ngành tại Bà Rịa Vũng Tàu
Người Việt trên thế giới tổ chức Đại lễ Vu Lan Phât lịch 2558, dương lịch 2014
Ngôi miếu nổi giữa lòng sông ở Sài Gòn
Âm thanh
Phỏng vấn TS. Thượng tọa Thích Nhật Từ, Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó Ban Giáo dục Tăng Ni TƯ, Ban Hoằng pháp TƯ và Ban Phật giáo Quốc tế GHPGVN những thông tin chính về Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2014 tại Việt Nam
Nam Định thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo
Phật giáo Việt Nam trong xu hướng vận động của Phật giáo thế giới



Người chịu trách nhiệm chính:
Ông Dương Ngọc Tấn
Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Email: ttttbantongiao@chinhphu.vn
 

BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 763 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

 

LIÊN KẾT WEBSITE KHÁC